Pháp Luật Về Hoạt Động Sử Dụng Vốn Của Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam

Khám phá pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại Việt Nam, ảnh hưởng đến quản lý tài chính và phát triển kinh tế.

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ Luật Học

2019

233
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

1.4. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1.5. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

1.6. Những điểm mới của luận án

1.7. Ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của luận án

1.8. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN VÀ ĐIỀU CHỈNH BẰNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.1. Lý luận về hoạt động sử dụng vốn của NHTM

2.2. Lý luận về vốn của ngân hàng thương mại

2.3. Hoạt động sử dụng vốn của NHTM

2.4. Khái niệm, đặc trưng và bản chất của hoạt động sử dụng vốn của NHTM

2.5. Mục đích của hoạt động sử dụng vốn của NHTM

2.6. Các nguyên tắc liên quan hoạt động sử dụng vốn của NHTM

2.7. Điều chỉnh bằng pháp luật hoạt động sử dụng vốn của các NHTM

2.8. Nhu cầu điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của NHTM bằng pháp luật

2.9. Vai trò của pháp luật đối với hoạt động sử dụng vốn của NHTM

2.10. Giới hạn cho việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động sử dụng vốn của các NHTM

2.11. Hình thức của pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM

2.11.1. Văn bản quy phạm pháp luật

2.11.2. Hình thức án lệ

2.12. Các tiêu chí đánh giá chất lượng pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại

2.12.1. Tiêu chí đảm bảo tính hiệu quả

2.12.2. Tiêu chí đảm bảo tính hệ thống

2.12.3. Tiêu chí đảm bảo giảm chi phí tuân thủ

2.12.4. Tiêu chí phù hợp với chủ trương, định hướng của Đảng và nhà nước

2.12.5. Tiêu chí phù hợp với thông lệ và điều ước quốc tế

2.12.6. Tiêu chí đảm bảo các quyền lợi, lợi ích của các bên liên quan khi hoàn thiện pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại

2.13. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỂ ĐẦU TƯ

3.1. Quy định về loại nguồn vốn của ngân hàng thương mại được sử dụng cho hoạt động đầu tư

3.2. Những quy định pháp luật để hạn chế rủi ro trong hoạt động sử dụng vốn của NHTM thông qua việc đầu tư

3.3. Các quy định của pháp luật về các lĩnh vực đầu tư cụ thể của NHTM

3.4. Quy định pháp luật về việc sử dụng vốn để góp vốn, mua cổ phần

3.5. Quy định về việc sử dụng vốn để thành lập, mua lại công ty con, công ty liên kết

3.6. Quy định về sử dụng vốn của NHTM để đầu tư vào các lĩnh vực khác

3.7. Chế tài cho các hành vi vi phạm quy định về hoạt động sử dụng vốn để đầu tư của NHTM

3.8. Các bất cập và kiến nghị về pháp luật liên quan đến hoạt động sử dụng vốn của NHTM thông qua hoạt động đầu tư

3.9. Các bất cập và kiến nghị liên quan đến quy định pháp luật nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại để đầu tư

3.10. Các bất cập và kiến nghị liên quan nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về đến các lĩnh vực đầu tư của ngân hàng thương mại

3.11. Kết luận chương 3

4. CHƯƠNG 4: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG

4.1. Nguồn vốn của ngân hàng thương mại được sử dụng để cấp tín dụng

4.2. Những quy định pháp luật để hạn chế rủi ro trong hoạt động sử dụng vốn của NHTM thông qua việc cấp tín dụng

4.3. Quy định về cấm sử dụng vốn của NHTM để cấp tín dụng

4.4. Quy định về hạn chế cấp tín dụng

4.5. Quy định về giới hạn sử dụng vốn của NHTM để cấp tín dụng

4.6. Quy định pháp luật về dự trữ bắt buộc

4.7. Các quy định của pháp luật về các lĩnh vực cấp tín dụng cụ thể của NHTM

4.7.1. Cấp tín dụng để đầu tư bất động sản

4.7.2. Cấp tín dụng thông qua hình thức đầu tư vào trái phiếu

4.7.3. Cấp tín dụng cho lĩnh vực nông nghiệp

4.7.4. Quy định về cấp tín dụng cho các dự án đáp ứng yêu cầu về môi trường

4.7.5. Cấp tín dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh

4.8. Chế tài cho các hành vi vi phạm liên quan đến hoạt động sử dụng vốn để cấp tín dụng

4.9. Các bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại để cấp tín dụng

4.10. Bất cập và kiến nghị liên quan đến tín dụng cho lĩnh vực bất động sản

4.11. Bất cập và kiến nghị liên quan quy định cụ thể về hoạt động cấp tín dụng đáp ứng yêu cầu về môi trường

4.12. Bất cập và kiến nghị liên quan quy định sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn

4.13. Bất cập và kiến nghị về việc hoàn thiện pháp luật về cơ cấu tín dụng của các NHTM

4.14. Bất cập và kiến nghị liên quan tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu

4.15. Bất cập và kiến nghị hoàn thiện quy định về vốn pháp định đối với NHTM

4.16. Bất cập và kiến nghị giảm bớt các can thiệp về mặt hành chính vào hoạt động sử dụng vốn của NHTM

4.17. Bất cập và kiến nghị giảm bớt việc can thiệp sâu vào hoạt động sử dụng vốn của NHTM

4.18. Bất cập và kiến nghị liên quan đến chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng

4.19. Kết luận chương 4

CÁC PHỤ LỤC

Phụ lục số 1: Hệ số an toàn vốn (CAR) của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam và của một số quốc gia trong khu vực châu Á năm 2011, 2012

Phụ lục số 2: Hệ số CAR của một số NHTM cổ phần (%)

Phụ lục số 3: Các nguyên tắc Basel

Phụ lục số 4: Danh mục các NHTM được phép kinh doanh vàng miếng

Phụ lục số 5: Báo cáo tài chính của một số ngân hàng thương mại

Phụ lục số 6: Kết luận thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật tại một số ngân hàng thương mại

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Nghiên Cứu Pháp Luật Về Vốn Ngân Hàng Tổng Quan Cấp Thiết

Kinh doanh tiền tệ và ngân hàng (NH) là lĩnh vực đặc thù. Hoạt động sử dụng vốn của NHTM đóng vai trò quan trọng cho sự tồn tại của ngân hàng và là kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ. Hoạt động này liên quan trực tiếp đến an toàn hệ thống NH. Nhiều vụ án hình sự đã cho thấy vấn đề liên quan đến quy định pháp luật và việc thực thi. Nghiên cứu các quy định pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM là nhu cầu của nhiều chủ thể. Ví dụ, tình trạng sở hữu chéo tạo nên vốn ảo, dẫn đến hệ lụy cho nền kinh tế. Các NHTM cần chấn chỉnh hoạt động sử dụng vốn để duy trì niềm tin của người gửi tiền. Theo tài liệu gốc, các NHTM cần chấn chỉnh hoạt động sử dụng vốn để duy trì niềm tin của người gửi tiền. Hoạt động kinh doanh của NH được ví như huyết mạch của nền kinh tế. Nguồn vốn cho NH hoạt động phần lớn là nguồn vốn của xã hội, cần được quản lý an toàn. Cơ quan quản lý nhà nước cần đưa ra giải pháp đổi mới và hoàn thiện hệ thống các VB QPPL về hoạt động NH.

1.1. Tính Cấp Thiết Nghiên Cứu Pháp Luật Ngân Hàng Hiện Nay

Sau khi Việt Nam gia nhập WTO và Luật các TCTD năm 2010 có hiệu lực, nhiều quy định pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM đã được ban hành. Tuy nhiên, nhiều quy định chưa phù hợp với khuyến nghị của Basel. Trong xu thế hội nhập, cần điều chỉnh cho phù hợp. Việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế về hoạt động NH, đặc biệt là hoạt động sử dụng vốn là cần thiết. Quốc hội khóa 14 đã dành thời gian để bàn về xử lý nợ xấu, cho thấy sự quan tâm đặc biệt đến hoạt động sử dụng vốn của NH. Nghiên cứu về hoạt động sử dụng vốn dưới góc độ pháp luật là xu hướng của các nhà hoạch định chính sách và học giả.

1.2. Nhu Cầu Từ NHTM Và Xã Hội Về An Toàn Vốn Ngân Hàng

Các NHTM cần chấn chỉnh lại hoạt động sử dụng vốn của mình để duy trì niềm tin của người gửi tiền, để thu hút sự đầu tư của các nhà đầu tư. Các vụ án lớn liên quan đến lĩnh vực NH, liên quan đến thất thoát đồng vốn của NH đã góp phần làm xói mòn lòng tin của người dân cũng như nhà đầu tư. Người dân khi đã gửi tiền vào NH sẽ không có cơ hội cũng như không có điều kiện kiểm tra, giám sát hoạt động sử dụng vốn này. Chính vì vậy, hoạt động sử dụng vốn của NHTM một cách an toàn là điều kiện tiên quyết để khôi phục và duy trì niềm tin của người gửi tiền.

II. Thách Thức Rủi Ro Tín Dụng Nợ Xấu Trong Ngân Hàng

Hoạt động sử dụng vốn của NHTM đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là rủi ro tín dụngnợ xấu. Các quy định pháp luật hiện hành chưa đủ mạnh để ngăn chặn tình trạng này. Việc giám sát và quản lý vốn ngân hàng còn lỏng lẻo, tạo điều kiện cho các hành vi vi phạm pháp luật. Tình trạng cho vay không đúng mục đích, thẩm định dự án không kỹ lưỡng dẫn đến nợ xấu gia tăng. Theo Nguyễn Kiên Bích Tuyền (2019), các quy định pháp luật cần phải được hoàn thiện để đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng. Cần có các biện pháp mạnh mẽ hơn để kiểm soát rủi ro tín dụng và xử lý nợ xấu, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế.

2.1. Nguyên Nhân Chính Gây Rủi Ro Tín Dụng Ngân Hàng

Nguyên nhân chính gây rủi ro tín dụng bao gồm: thẩm định dự án sơ sài, cho vay không đúng mục đích, thiếu kiểm soát sau khi giải ngân, và sự yếu kém trong quản trị rủi ro của các NHTM. Ngoài ra, tình hình kinh tế vĩ mô bất ổn cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng. Sự thiếu minh bạch trong hoạt động cho vay cũng góp phần làm gia tăng rủi ro tín dụng. Cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và nâng cao năng lực của cán bộ tín dụng để giảm thiểu rủi ro.

2.2. Giải Pháp Giảm Thiểu Nợ Xấu Cho Ngân Hàng Thương Mại

Để giảm thiểu nợ xấu, cần có các giải pháp đồng bộ như: tăng cường công tác thu hồi nợ, đẩy mạnh xử lý tài sản đảm bảo, cơ cấu lại các khoản nợ, và nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty quản lý tài sản. Ngoài ra, cần hoàn thiện khung pháp lý về xử lý nợ xấu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bán nợ. Các NHTM cũng cần chủ động trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ để đối phó với nợ xấu.

III. Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Quản Lý Vốn Ngân Hàng

Để giải quyết các thách thức trên, cần hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý vốn ngân hàng. Các quy định cần phải rõ ràng, minh bạch và phù hợp với thông lệ quốc tế. Cần tăng cường vai trò của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong việc giám sát và thanh tra hoạt động của các NHTM. Theo tài liệu nghiên cứu, cần ban hành chuẩn mực an toàn vốn phù hợp với Basel II, đổi mới, hoàn thiện các quy định an toàn hoạt động của TCTD, đặc biệt là các tỷ lệ về khả năng chi trả để hạn chế và kiểm soát có hiệu quả các rủi ro trong hoạt động của các TCTD, ban hành các nguyên tắc, chuẩn mực quản trị rủi ro đối với các TCTD. Cần có các chế tài đủ mạnh để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Cần khuyến khích các NHTM áp dụng các chuẩn mực quản trị rủi ro tiên tiến.

3.1. Cải Thiện Quy Định Pháp Luật Về An Toàn Vốn Ngân Hàng

Cần cải thiện các quy định pháp luật về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR), giới hạn tín dụng, và các biện pháp kiểm soát rủi ro tín dụng. Các quy định cần phải linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam. Cần tăng cường tính minh bạch trong hoạt động của các NHTM, đảm bảo thông tin được công khai đầy đủ và kịp thời. Cần có cơ chế để người dân và các nhà đầu tư có thể giám sát hoạt động của các NHTM.

3.2. Tăng Cường Thanh Tra Kiểm Toán Ngân Hàng Hiệu Quả

Cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động của các NHTM, đặc biệt là hoạt động cho vay và đầu tư. Cần nâng cao năng lực của đội ngũ thanh tra viên, đảm bảo họ có đủ kiến thức và kinh nghiệm để phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật. Cần xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, đảm bảo tính răn đe của pháp luật. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa NHNN, các cơ quan chức năng và các NHTM trong công tác thanh tra, kiểm tra.

IV. Ứng Dụng Pháp Luật Sử Dụng Vốn Hiệu Quả Trong Cho Vay

Việc sử dụng vốn hiệu quả trong hoạt động cho vay là yếu tố then chốt để đảm bảo an toàn và hiệu quả hoạt động của các NHTM. Cần có các quy trình thẩm định tín dụng chặt chẽ, đảm bảo các khoản vay được sử dụng đúng mục đích và có khả năng trả nợ. Cần tăng cường kiểm soát sau khi giải ngân, đảm bảo các khoản vay được sử dụng hiệu quả. Cần khuyến khích các NHTM cho vay vào các lĩnh vực ưu tiên của nền kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Cần có các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển.

4.1. Quy Trình Thẩm Định Tín Dụng Ngân Hàng Chặt Chẽ Hơn

Quy trình thẩm định tín dụng cần phải được thực hiện một cách khách quan, công bằng và minh bạch. Cần đánh giá đầy đủ các yếu tố rủi ro, bao gồm rủi ro tài chính, rủi ro hoạt động và rủi ro pháp lý. Cần thu thập đầy đủ thông tin về khách hàng, bao gồm thông tin về tình hình tài chính, lịch sử tín dụng và kế hoạch kinh doanh. Cần sử dụng các công cụ phân tích hiện đại để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng.

4.2. Kiểm Soát Sau Giải Ngân Vốn Ngân Hàng Để Đảm Bảo An Toàn

Cần tăng cường kiểm soát sau khi giải ngân, đảm bảo các khoản vay được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Cần thường xuyên theo dõi tình hình hoạt động của khách hàng, phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường. Cần có các biện pháp xử lý kịp thời khi khách hàng gặp khó khăn trong việc trả nợ. Cần thiết lập hệ thống báo cáo và giám sát hiệu quả, đảm bảo thông tin được thu thập đầy đủ và kịp thời.

V. Nghiên Cứu Pháp Luật Sử Dụng Vốn Đầu Tư An Toàn Hiệu Quả

Ngoài hoạt động cho vay, sử dụng vốn trong hoạt động đầu tư cũng là một kênh quan trọng để các NHTM gia tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, hoạt động đầu tư cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, cần được quản lý chặt chẽ. Cần có các quy định pháp luật rõ ràng về các lĩnh vực đầu tư mà các NHTM được phép tham gia. Theo tài liệu nghiên cứu, cần quy định về loại nguồn vốn của ngân hàng thương mại được sử dụng cho hoạt động đầu tư, hạn chế rủi ro và các quy định về lĩnh vực đầu tư cụ thể. Cần khuyến khích các NHTM đầu tư vào các dự án có hiệu quả kinh tế cao và có tác động tích cực đến xã hội. Cần có các biện pháp kiểm soát rủi ro hiệu quả, đảm bảo an toàn cho vốn ngân hàng.

5.1. Hạn Chế Rủi Ro Trong Hoạt Động Đầu Tư Ngân Hàng

Các NHTM cần xây dựng quy trình quản lý rủi ro chặt chẽ cho hoạt động đầu tư, bao gồm việc xác định, đánh giá, đo lường và kiểm soát rủi ro. Cần phân bổ vốn đầu tư một cách hợp lý, đa dạng hóa danh mục đầu tư để giảm thiểu rủi ro. Cần thường xuyên theo dõi và đánh giá hiệu quả của các khoản đầu tư, có các biện pháp điều chỉnh kịp thời khi cần thiết.

5.2. Quy Định Pháp Luật Về Lĩnh Vực Đầu Tư Của Ngân Hàng

Cần có các quy định pháp luật rõ ràng về các lĩnh vực đầu tư mà các NHTM được phép tham gia, đảm bảo phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của đất nước. Cần có các quy định về giới hạn đầu tư, đảm bảo các NHTM không tập trung quá nhiều vốn vào một lĩnh vực nhất định. Cần có các quy định về công khai thông tin, đảm bảo các nhà đầu tư có đầy đủ thông tin để đưa ra quyết định đầu tư.

VI. Kết Luận Tương Lai Của Pháp Luật Về Quản Lý Vốn Ngân Hàng

Hoàn thiện pháp luật về quản lý vốn ngân hàng là một quá trình liên tục, đòi hỏi sự nỗ lực của tất cả các bên liên quan. Cần tiếp tục nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm quốc tế, áp dụng các chuẩn mực tiên tiến vào Việt Nam. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa NHNN, các cơ quan chức năng, các NHTM và các chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng. Chỉ khi có một hệ thống pháp luật hoàn thiện và được thực thi nghiêm minh, chúng ta mới có thể đảm bảo an toàn và hiệu quả cho hệ thống ngân hàng, góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

6.1. Đổi Mới Tư Duy Về Tuân Thủ Pháp Luật Ngân Hàng

Cần đổi mới tư duy về tuân thủ pháp luật, coi tuân thủ không chỉ là nghĩa vụ mà còn là lợi ích của các NHTM. Cần xây dựng văn hóa tuân thủ trong các NHTM, đảm bảo các cán bộ, nhân viên hiểu rõ và thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Cần có các cơ chế khuyến khích tuân thủ và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.

6.2. Hợp Tác Quốc Tế Để Phát Triển Ngành Ngân Hàng Việt Nam

Cần tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng, học hỏi kinh nghiệm của các nước phát triển, và áp dụng các chuẩn mực quốc tế vào Việt Nam. Cần tham gia vào các diễn đàn quốc tế về ngân hàng, trao đổi thông tin và kinh nghiệm với các nước khác. Cần thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực ngân hàng, tạo điều kiện cho các NHTM Việt Nam tiếp cận với công nghệ và kiến thức quản lý tiên tiến.

27/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Tính cấp thiết của đề tài Kinh doanh tiền tệ và ngân hàng (NH) là lĩnh vực kinh doanh đặc thù của ngân hàng thương mại (NHTM). Hoạt động sử dụng vốn của NHTM không chỉ có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự tồn tại của một NHTM mà còn là kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ của Chính phủ và ngân hàng nhà nước (NHNN). Hoạt động sử dụng vốn của NHTM có liên quan trực tiếp đến sự an toàn của toàn hệ thống NH.

Trong thời gian qua, nhiều vụ án hình sự trong lĩnh vực NH đã cho thấy một số vấn đề phát sinh liên quan đến quy định pháp luật và việc thực thi, tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực này. Chính vì vậy, việc nghiên cứu các quy định pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM luôn là vấn đề nhận được sự quan tâm và là nhu cầu của nhiều chủ thể sau: Nhu cầu từ các NHTM Trong thời gian qua, tình trạng sở hữu chéo 1 trong lĩnh vực NH diễn ra khá rầm rộ ở Việt Nam đã tạo nên tình trạng vốn ảo trong hệ thống NH và dẫn đến nhiều hệ lụy cho nền kinh tế. Những vụ án lớn trong lĩnh vực NH được xét xử trong các năm vừa qua tại Việt Nam đã cho thấy thiệt hại cho NH là quá lớn khi bản thân NH quản lý không tốt, quản lý tùy tiện nguồn vốn của NHTM. Trong vụ án liên quan đến bị cáo Phạm Công Danh, vào khoảng tháng 5/2013, để có tiền sử dụng cho việc chi chăm sóc khách hàng phục vụ cho thanh khoản của NHTM cổ phần Xây dựng Việt Nam (VNCB), các bị cáo đã bàn về việc tìm cách rút tiền từ NH phục vụ cho việc chăm sóc khách hàng 2.

Các vụ án lớn liên quan đến lĩnh vực NH, liên quan đến thất thoát đồng vốn của NH đã góp phần làm xói mòn lòng tin của người dân cũng như nhà đầu tư. Chính vì vậy, các NHTM cần chấn chỉnh lại hoạt động sử dụng vốn của mình để duy trì nhiềm tin của người gửi tiền, để thu hút sự đầu tư của các nhà đầu tư, những người góp vốn để thành lập và quản lý NH. Nhu cầu từ phía xã hội Thứ nhất, lĩnh vực kinh doanh NH liên quan đến nhiều hoạt động của nền kinh tế thông qua việc nắm giữ và cung ứng nguồn vốn. Đặc biệt, kinh doanh NH liên quan và cung cấp vốn cho nhiều lĩnh vực của nền kinh tế như kinh doanh chứng khoán, bất động sản (BĐS), xây dựng, đầu tư, v.v… nhất là ở khía cạnh nguồn vốn và cách thức sử dụng vốn.

Hoạt động kinh doanh của NH được ví như huyết mạch của nền kinh tế. 1 Sở hữu chéo là việc đồng thời hai doanh nghiệp có sở hữu phần vốn góp, cổ phần của nhau (Khoản 2 Điều 16 Nghị định 96/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp năm 2014) 2 Bản án hình sự sơ thẩm số 332/2016/HSST vào ngày 09/09/2016, tr. 34 1 Các cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á 1997-1998, khủng hoảng tài chính Nam Mỹ 2001-2002, khủng hoảng hệ thống NH trên toàn thế giới, đặc biệt là ở Mỹ từ 2008 đã cho thấy vai trò huyết mạch này của hoạt động NH. Thứ hai, nguồn vốn cho NH hoạt động phần lớn là nguồn vốn của xã hội, được người dân tin tưởng gửi vào NH.

NH là chủ thể đi vay và cho vay lại, chỉ có một phần nhỏ vốn của NH là vốn của chủ sở hữu. Người dân khi đã gửi tiền vào NH sẽ không có cơ hội cũng như không có điều kiện kiểm tra, giám sát hoạt động sử dụng vốn này. Chính vì vậy, hoạt động sử dụng vốn của NHTM một cách an toàn là điều kiện tiên quyết để khôi phục và duy trì niềm tin của người gửi tiền. Nhu cầu từ cơ quan quản lý nhà nước Không phủ nhận là từ sau khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO: World Trade Organization) đến nay, đặc biệt sau khi Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 3 có hiệu lực (sau đây gọi tắt là Luật các TCTD năm 2010), Việt Nam đã hết sức nỗ lực trong việc ban hành hàng loạt các quy định pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của NHTM ở Việt Nam.

Chẳng hạn các quy định về: trích lập dự phòng rủi ro trong hoạt động của các TCTD; quy định về các giới hạn, tỉ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của TCTD,…Tuy nhiên, có khá nhiều quy định của Việt Nam về những vấn đề trên được xem là chưa phù hợp với các khuyến nghị của Basel 4. Những hạn chế đó, trong xu thế hội nhập, cần được điều chỉnh cho phù hợp. Do đó, việc tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới về hoạt động NH, đặc biệt là hoạt động sử dụng vốn của các NHTM là vấn đề cần được tiến hành sớm, nhất là kinh nghiệm từ các quốc gia có hệ thống pháp luật về NH chặt chẽ ở châu Âu và Mỹ (như Mỹ, Thụy Sĩ) hoặc ở những quốc gia có quá trình chuyển đổi giống Việt Nam (như Trung Quốc), hoặc của Lào, quốc gia mà từ năm 2015 đã vượt lên chiếm vị trí thứ 2 của Việt Nam trong nhóm nước có thu nhập trung bình thấp của khu vực ASEAN với mức GDP bình quân đầu người đạt 2.221 đô la Mỹ năm 2016 và 2.530 năm 2017 (cao hơn Việt Nam khoảng 1,06 lần) và có khả năng sẽ còn tăng 5. Trong kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa 14 đã dành hầu hết thời gian để bàn về việc xử lý nợ xấu.

Điều này cho thấy, hoạt động sử dụng vốn của NH luôn dành được sự quan tâm đặc biệt của cả nước từ Quốc hội cho đến người dân. Chính vì vậy, nghiên cứu về hoạt động sử dụng vốn của các NHTM dưới góc độ pháp luật đã, đang và sẽ là xu hướng của các nhà hoạch định chính sách cũng như của các học giả Việt Nam. Đây vừa là công việc mang tính cấp bách vừa là công việc 3 Được ban hành 16-6-2010, hiệu lực từ 01-01-2011 4 Hiệp ước Basel (Basel Accord) đưa ra các nguyên tắc chung và các luật ngân hàng của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng 5 Mạc Bùi (2018), “Chuyện GDP bình quân đầu người Việt Nam thua …Lào”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn ngày 1- 11-2018, [https://www.vn/280985/chuyen-gdp-binh-quan-dau-nguoi-viet-nam-thua-lao-.html], truy cập 10-07-2019. 2 mang tính lâu dài.

Luận án này được thực hiện trong bối cảnh Việt Nam đã và đang cơ cấu lại các TCTD, đang tìm cách đưa ra giải pháp đổi mới và hoàn thiện hệ thống các VB QPPL về hoạt động NH bao gồm: ban hành chuẩn mực an toàn vốn phù hợp với Basel II, đổi mới, hoàn thiện các quy định an toàn hoạt động của TCTD, đặc biệt là các tỷ lệ về khả năng chi trả để hạn chế và kiểm soát có hiệu quả các rủi ro trong hoạt động của các TCTD, ban hành các nguyên tắc, chuẩn mực quản trị rủi ro đối với các TCTD. Tổng quan tình hình nghiên cứu Do tầm quan trọng trong hoạt động sử dụng vốn của TCTD nói chung, của NHTM nói riêng cũng như nhu cầu cần có các quy định pháp lý phù hợp để điều chỉnh nên việc tìm hiểu về hoạt động sử dụng vốn của TCTD nói chung và NHTM nói riêng đã được nhiều chủ thể đầu tư nghiên cứu. Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu, các hội thảo, các luận văn, luận án, bài phát biểu có liên quan một phần hoặc liên quan mật thiết đến đề tài “Pháp luật về hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại Việt Nam”. Cụ thể, các công trình nghiên cứu đó được liệt kê trong luận án này theo 2 nhóm chính sau đây: Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài và tình hình nghiên cứu ở Việt Nam.

Trên cơ sở tìm hiểu tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước như đã trình bày ở trên, nghiên cứu sinh ghi nhận và nhận xét sơ bộ như sau: 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 1.1 Các công trình nghiên cứu về kinh tế có liên quan đến đề tài Bài viết của tác giả Hao Liu xem xét mối quan hệ giữa các thay đổi trong cơ chế hoạt động của NH và khủng hoảng tài chính bằng cách nghiên cứu sự thay đổi về chính sách của 137 quốc gia và đặc biệt là các quốc gia thuộc nhóm Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD Organization for Economic Cooperation and development). Các hoạt động NH ở đây được xác định ở 4 khía cạnh: chứng khoán, bảo hiểm, BĐS và sở hữu. Việc phân biệt giữa NH truyền thống và NH đa năng là căn cứ trên những hoạt động này6.

Vấn đề còn lại là bài viết dành nhiều phần cho các phép tính toán trong kinh tế để phân tích mối liên hệ giữa các hoạt động này và khủng hoảng kinh tế. Nghiên cứu sinh đã dựa trên kết quả nghiên cứu này để đưa ra các nhận định dưới khía cạnh pháp lý. Matthias Lehmann tiến hành phân tích nguyên tắc Volcker Rule hay còn gọi là Ring-Fencing, tức là nguyên tắc tách biệt các hoạt động của NH để đảm bảo an toàn 6 Hao Liu (2013), The effect of banking regime change from traditional banking operation to universal banking operation in financial crisis, a thesis submitted to the Faculty of the Graduate School of Arts and Sciences of Georgetown University in partial fulfillment of the requirements for the degree of Master of Public Policy in Public Policy, Bản tóm tắt luận văn, p.25 3 đồng vốn của NH trước các hoạt động mang lại rủi ro7. The Volcker Rule cấm hai loại hoạt động: tham gia các giao dịch chứng khoán; không tham gia vào hoạt động của quỹ đầu cơ.

Theo nguyên tắc Paul Volcker, hai hoạt động này quá rủi ro và không phải là hoạt động chính yếu cho các tổ chức nhận tiền gửi. Nhưng quy tắc này không ngăn cấm NH đầu tư vào trái phiếu Chính phủ, cam kết tài trợ, bao mua hoặc tạo lập thị trường, các hoạt động đầu cơ giảm thiểu rủi ro, mua hoặc bán chứng khoán nhân danh khách hàng của NH, đầu tư vào những doanh nghiệp nhỏ hoặc các quỹ công cộng 8. Trong đó, tác giả phân tích sự khác biệt trong quy định của Đức, Pháp, Mỹ (The Volcker Rule) và European Union ở khía cạnh có liên quan9. Tuy nhiên, bài viết chưa trình bày các nguyên nhân sâu xa để dẫn đến sự khác biệt của những quy định này.

Những nội dung mà nghiên cứu này chưa trình bày là nội dung mà nghiên cứu sinh nghiên cứu so sánh dưới góc độ pháp luật với những quy định hiện tại Việt Nam. Trong bài viết “Chức năng của vốn của ngân hàng” 10, tác giả Ing.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Pháp Luật Về Hoạt Động Sử Dụng Vốn Của Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định pháp lý liên quan đến việc sử dụng vốn trong các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Tài liệu này không chỉ phân tích các khía cạnh pháp lý mà còn chỉ ra những thách thức và cơ hội trong việc quản lý vốn, từ đó giúp các nhà quản lý ngân hàng và các chuyên gia tài chính hiểu rõ hơn về môi trường pháp lý hiện hành.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân ở các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh sóc trăng, nơi phân tích các yếu tố tác động đến quyết định vay vốn của khách hàng. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động bảo lãnh thanh toán tại các ngân hàng thương mại việt nam sẽ cung cấp những giải pháp hữu ích để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về Luận văn thực trạng sở hữu chéo và vấn đề không tuân thủ các quy định đảm bảo an toàn hoạt động tại các ngân hàng thương mại ở việt nam, giúp bạn nắm bắt được tình hình thực tế và các vấn đề liên quan đến an toàn hoạt động ngân hàng.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề pháp lý và thực tiễn trong hoạt động ngân hàng thương mại tại Việt Nam.