Tổng quan luận án

Hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại (NHTM) giữ vai trò then chốt đối với sự tồn tại của từng tổ chức tín dụng, đồng thời là kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ quốc gia của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN). Lĩnh vực kinh doanh tiền tệ gắn liền với tính an toàn của toàn bộ hệ thống tài chính - ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế. Xuất phát từ thực tiễn hoạt động ngân hàng tại Việt Nam, nhu cầu nghiên cứu và hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động sử dụng vốn của NHTM xuất hiện từ ba nhóm chủ thể chính:

  1. Nhu cầu từ các NHTM: Tình trạng sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng (theo quy định tại Khoản 2 Điều 16 Nghị định 96/2015/NĐ-CP) diễn ra phức tạp, tạo ra dòng vốn ảo và nhiều hệ lụy cho nền kinh tế. Các sai phạm lớn trong quản trị nguồn vốn đã dẫn tới các đại án hình sự trong ngành ngân hàng (điển hình như Bản án hình sự sơ thẩm số 332/2016/HSST ngày 09/09/2016 liên quan đến bị cáo Phạm Công Danh tại Ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam - VNCB trong việc rút tiền chi chăm sóc khách hàng để duy trì thanh khoản), làm xói mòn niềm tin của người gửi tiền và các nhà đầu tư.
  2. Nhu cầu từ xã hội: Ngân hàng hoạt động như huyết mạch cung ứng vốn cho các lĩnh vực như bất động sản, chứng khoán, xây dựng và sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn vận hành của NHTM phần lớn là vốn huy động từ công chúng; người gửi tiền không có điều kiện trực tiếp kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn. Hoạt động sử dụng vốn an toàn là điều kiện bảo vệ quyền lợi người gửi tiền và ổn định kinh tế vĩ mô.
  3. Nhu cầu từ cơ quan quản lý nhà nước: Kể từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và ban hành Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (Luật số 47/2010/QH12), nhiều quy định pháp lý về tỷ lệ an toàn, trích lập dự phòng rủi ro đã được áp dụng nhưng vẫn còn khoảng cách so với các khuyến nghị chuẩn mực quốc tế của Ủy ban Basel (Basel II, Basel III). Kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIV đã dành nhiều thời gian bàn thảo vấn đề xử lý nợ xấu, khẳng định yêu cầu cấp bách phải tái cơ cấu và đổi mới hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Xây dựng hệ thống cơ sở lý luận về hoạt động sử dụng vốn và việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động sử dụng vốn của NHTM.
  • Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của NHTM trong hai mảng nghiệp vụ chủ đạo: hoạt động đầu tư và hoạt động cấp tín dụng.
  • Đối chiếu, so sánh với pháp luật và kinh nghiệm quốc tế; phát hiện các điểm bất cập, mâu thuẫn, khoảng trống pháp lý.
  • Đề xuất các định hướng và giải pháp sửa đổi, bổ sung cụ thể nhằm hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của NHTM tại Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của các NHTM Việt Nam và thực tiễn thi hành các quy phạm này. Luận án không đi sâu vào các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô, quỹ tín dụng nhân dân, ngân hàng chính sách hay ngân hàng hợp tác xã.
  • Phạm vi nội dung: Nghiên cứu vốn dưới khía cạnh kinh tế (không nghiên cứu vốn con người); tập trung vào hai hình thức sử dụng vốn nội bảng cơ bản là đầu tư và cấp tín dụng; không đi sâu vào các hoạt động ngoại bảng (off-balance sheet) hoặc hoạt động cung cấp dịch vụ thu phí. Nguồn vốn khảo sát chủ yếu là vốn tự có và vốn huy động từ xã hội.
  • Phạm vi so sánh quốc tế: Pháp luật và thông lệ ngân hàng của Mỹ, Thụy Sĩ, Trung Quốc, Singapore và Lào.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành hệ thống hóa và phân tích các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo các nhóm tiếp cận:

Các nghiên cứu quốc tế

  • Về kinh tế và quản trị ngân hàng:
    • Hao Liu (2013): Nghiên cứu mối quan hệ giữa cơ chế hoạt động ngân hàng (ngân hàng truyền thống và ngân hàng đa năng) với khủng hoảng tài chính tại 137 quốc gia, đặc biệt là khối OECD, phân tích 4 khía cạnh: chứng khoán, bảo hiểm, bất động sản và sở hữu.
    • Matthias Lehmann (2014): Phân tích nguyên tắc Volcker (Volcker Rule) hay cơ chế cách ly rủi ro (Ring-Fencing), so sánh sự khác biệt trong việc tách biệt các hoạt động kinh doanh rủi ro (giao dịch chứng khoán tự doanh, đầu tư quỹ đầu cơ) tại Mỹ, Đức, Pháp và Liên minh châu Âu (EU).
    • Ing. Martin Svitek (2001): Làm rõ 4 chức năng cốt lõi của vốn ngân hàng gồm: bù đắp tổn thất (loss-absorbing), tạo niềm tin (confidence), tài chính (financial) và giới hạn hoạt động (restrictive).
    • Kongchampa Ounkham (2016): Luận án tiến sĩ nghiên cứu quản trị hoạt động tín dụng và biện pháp bảo đảm tín dụng của các NHTM tại Lào cùng kinh nghiệm của một số quốc gia.
  • Về khung pháp lý và nguyên tắc hoạt động:
    • Peter S. Rose (2004): Tác phẩm "Quản trị ngân hàng thương mại" phân tích cơ chế quản lý vốn, tác động của quy chế pháp lý tại Mỹ và sự điều hòa giữa ba mục tiêu: an toàn, thanh khoản và sinh lời.
    • Hiệp hội Ngân hàng Mỹ (American Bankers Association - 2007): Sách "Principles of Banking" hệ thống hóa các nguyên tắc quản lý tài sản nợ - tài sản có, cơ chế giám sát theo luật định và sự phân định giữa hoạt động cho vay và đầu tư.

Các nghiên cứu tại Việt Nam

  • Nhóm công trình kinh tế:
    • Hồ Diệu (2002), Nguyễn Văn Tiến (2005), Trương Quang Thông (2010): Phân tích quản trị ngân hàng, nhận diện rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, thanh khoản, cũng như sự cần thiết phải kiểm soát bằng pháp luật đối với hoạt động huy động và sử dụng vốn.
    • Phan Thị Hằng Nga: Đánh giá năng lực tài chính NHTM Việt Nam dựa trên khung an toàn CAMEL (vốn, chất lượng tài sản, quản trị, thu nhập, thanh khoản).
    • Hạ Thị Thiều Dao (2010): Khảo sát 25 nguyên tắc giám sát ngân hàng theo chuẩn Basel II và mức độ tuân thủ tại Việt Nam.
    • Vũ Hoàng Nam (2015): Luận án tiến sĩ kinh tế về hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu của NHTM Việt Nam.
    • Nguyễn Đức Trung: Luận án tiến sĩ về áp dụng Hiệp ước Basel nhằm bảo đảm an toàn hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2005 - 2011.
    • Trần Thị Lan (2018): Luận án tiến sĩ kinh tế về chuyển dịch cơ cấu sử dụng vốn tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam.
  • Nhóm công trình pháp lý:
    • Giáo trình Luật Ngân hàng - Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2013): Cung cấp các nguyên tắc pháp lý nền tảng trong hoạt động cấp tín dụng và bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng.
    • Nguyễn Xuân Bang (2011): Phân tích bản chất các hạn chế pháp lý để bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng.
    • Phạm Thị Giang Thu (2007, 2013), Phạm Thị Giang Thu & Nguyễn Ngọc Lương (2010, 2014): Nghiên cứu cơ sở pháp lý về tham gia thị trường tài chính, hoạt động góp vốn mua cổ phần, đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, chiết khấu giấy tờ có giá và các định hướng sửa đổi Luật Các tổ chức tín dụng.
    • Nguyễn Văn Tuyến (2003, 2007): Xác định giới hạn, phương thức và mức độ can thiệp của Nhà nước đối với giao dịch thương mại của ngân hàng; đề xuất giải pháp giảm thiểu can thiệp hành chính.
    • Ngô Quốc Kỳ (2003): Luận án tiến sĩ luật học về khung pháp luật điều chỉnh hoạt động của NHTM trong nền kinh tế thị trường.
    • Nguyễn Ngọc Lương (2017): Luận án tiến sĩ luật học về pháp luật điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng của NHTM ở Việt Nam.
    • Nguyễn Minh Đoan (2001): Luận án tiến sĩ luật học xác lập lý luận và tiêu chí đánh giá hiệu quả pháp luật.

Khoảng trống nghiên cứu

Các công trình trước đây phần lớn tiếp cận thuần túy dưới góc độ kỹ thuật kinh tế hoặc chỉ đi sâu vào một mảng nghiệp vụ riêng lẻ (như chuyên khảo về cấp tín dụng hoặc đầu tư trái phiếu); nhiều nghiên cứu được thực hiện trước thời điểm Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 có hiệu lực hoặc chưa cập nhật các chuẩn mực Basel mới. Luận án này là công trình nghiên cứu chuyên biệt ở cấp độ tiến sĩ luật học kết hợp đồng thời phương pháp tiếp cận kinh tế và pháp lý, nghiên cứu toàn diện khung pháp luật về hai trụ cột sử dụng vốn nội bảng của NHTM là đầu tư và cấp tín dụng trong bối cảnh tái cơ cấu hệ thống tài chính tại Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Khái niệm và cấu trúc vốn: Luận án tổng hợp các góc nhìn về vốn từ từ điển học thuật, lý thuyết kinh tế (Thomas Piketty, Karl Marx), tiếp cận góc độ kinh tế ngân hàng (Lê Hải Trung) và quy định pháp lý kế toán (Thông tư 200/2014/TT-BTC, Nguyễn Thị Thanh Hương). Phân định rõ mối quan hệ giữa:
    • Vốn điều lệ: Vốn do các chủ sở hữu góp và ghi vào điều lệ.
    • Vốn chủ sở hữu: Phần tài sản thuần sau khi lấy tổng tài sản trừ nợ phải trả.
    • Vốn tự có: Tính theo Điều 4 Luật Các TCTD năm 2010 và Điều 8 Thông tư 36/2014/TT-NHNN, gồm vốn cấp 1 và vốn cấp 2 trừ các khoản giảm trừ theo luật định, đóng vai trò là căn cứ xác định các tỷ lệ bảo đảm an toàn.
    • Vốn kinh tế: Mức vốn do ngân hàng tự xác định nội bộ theo Thông tư 13/2018/TT-NHNN để phòng ngừa rủi ro trọng yếu.
  • Bản chất hoạt động sử dụng vốn: Hoạt động sử dụng vốn của NHTM là quá trình ban hành các quyết định kinh doanh nhằm phân bổ nguồn vốn (vốn tự có và vốn huy động) vào hai kênh hoạt động chính: đầu tư và cấp tín dụng, nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận hợp lý gắn liền với việc thực thi chính sách tiền tệ, bảo đảm an toàn hệ thống, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững; tách biệt hoàn toàn với hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán hoặc trung gian thu phí.
  • Tiêu chí đánh giá chất lượng pháp luật về sử dụng vốn: Tiếp thu khung lý thuyết của Nguyễn Minh Đoan, luận án xây dựng 6 tiêu chí: (1) Tính hiệu quả kinh tế - xã hội; (2) Tính hệ thống, đồng bộ; (3) Giảm thiểu chi phí tuân thủ; (4) Phù hợp với chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước; (5) Tương thích với thông lệ và điều ước quốc tế (chuẩn mực Basel); (6) Đảm bảo hài hòa quyền lợi của các bên liên quan (NHTM, người gửi tiền, Nhà nước).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp định tính và tiếp cận liên ngành: Kết hợp phân tích khoa học pháp lý với lý thuyết tài chính - tiền tệ để luận giải bản chất các quy định điều chỉnh vốn.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp quy phạm: Khảo sát các văn bản quy phạm pháp luật (Luật Các TCTD năm 1997, 2010, sửa đổi 2017; các Nghị định, Thông tư chuyên ngành của NHNN).
  • Phương pháp so sánh luật học: Tiến hành so sánh theo từng mảng vấn đề (không chia theo từng quốc gia riêng lẻ) với hệ thống pháp luật của Mỹ, Thụy Sĩ, Singapore, Trung Quốc và Lào để rút ra bài học kinh nghiệm.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn qua bản án, án lệ: Phân tích các đại án ngân hàng tại Việt Nam (vụ án Nguyễn Đức Kiên, Phạm Công Danh) và án lệ quốc tế của Mỹ (vụ án Fleet Factors về trách nhiệm pháp lý môi trường của tổ chức tín dụng).

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Chương 1 thiết lập cơ sở phương pháp luận của toàn bộ đề tài:

  • Trình bày tính cấp thiết xuất phát từ yêu cầu kiểm soát sở hữu chéo, hạn chế thất thoát vốn tại các NHTM, bảo vệ quyền lợi người gửi tiền và hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước sau WTO.
  • Điểm luận chi tiết tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế, chỉ ra khoảng trống về mặt lý luận và thực tiễn trong việc nghiên cứu hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của NHTM.
  • Xác định rõ đối tượng, phạm vi nghiên cứu (giới hạn ở hoạt động đầu tư và cấp tín dụng nội bảng của NHTM); làm rõ các mục tiêu, nhiệm vụ khoa học và hệ thống phương pháp nghiên cứu áp dụng.

CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN VÀ ĐIỀU CHỈNH BẰNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Chương 2 làm sáng tỏ các vấn đề lý luận nền tảng:

  • Lý luận về vốn và các chức năng của vốn NHTM: Phân tích vốn theo góc độ kinh tế, pháp lý, kế toán và nguồn gốc; làm rõ 4 chức năng cốt lõi theo Martin Svitek. Trình bày lộ trình các chỉ tiêu an toàn vốn theo tiêu chuẩn Basel III:
Chỉ tiêu chuẩn mực Basel III 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019
Tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu 3,5% 4,0% 4,5% 4,5% 4,5% 4,5% 4,5%
Vốn đệm dự phòng - - - 0,625% 1,25% 1,875% 2,5%
Tỷ lệ vốn cấp 1 tối thiểu 4,5% 5,5% 6,0% 6,0% 6,0% 6,0% 6,0%
Tỷ lệ tổng vốn tối thiểu 8,0% 8,0% 8,0% 8,0% 8,0% 8,0% 8,0%
  • Bản chất và đặc trưng hoạt động sử dụng vốn: Khẳng định chu trình chu chuyển vốn của NHTM là tạo lập vốn tự có, huy động vốn công chúng, sau đó phân bổ vào đầu tư và cấp tín dụng để thu hồi gốc và lợi nhuận. Hoạt động này chịu sự giám sát trực tiếp của NHNN, gắn liền với mục tiêu an toàn hệ thống và trách nhiệm xã hội.
  • Nguyên tắc và tiêu chí điều chỉnh bằng pháp luật: Phân tích nguyên tắc an toàn vốn, phân tán rủi ro, bảo đảm thanh khoản và cân bằng ba nhóm yêu cầu (lợi nhuận nội bộ, trách nhiệm kinh tế - xã hội bên ngoài, và tính minh bạch). Xác lập 6 tiêu chí đánh giá chất lượng pháp luật điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn.

CHƯƠNG 3: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỂ ĐẦU TƯ

Chương 3 phân tích quy định và thực trạng pháp lý điều chỉnh việc sử dụng vốn vào mục đích đầu tư:

  • Phân loại nguồn vốn được phép đầu tư: Quy định về việc sử dụng vốn tự có, giới hạn nguồn vốn huy động được phép trích ra để đầu tư.
  • Các lĩnh vực đầu tư cụ thể:
    • Hoạt động góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng khác (nhận diện các rủi ro thâu tóm, sở hữu chéo).
    • Hoạt động sử dụng vốn để thành lập, mua lại công ty con, công ty liên kết hoạt động trong các lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán, quản lý tài sản.
    • Hoạt động đầu tư vào các lĩnh vực tài chính khác, kinh doanh vàng miếng, ngoại hối và bất động sản.
  • Chế tài xử lý và bất cập: Phân tích các chế tài hành chính và hình sự đối với hành vi đầu tư sai mục đích, vượt giới hạn an toàn. Chỉ ra những vướng mắc về thẩm quyền cấp phép, sự thiếu rõ ràng giữa hoạt động đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp, từ đó đề xuất các kiến nghị sửa đổi quy định nhằm kiểm soát rủi ro đầu tư.

CHƯƠNG 4: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG

Chương 4 khảo sát mảng nghiệp vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong sử dụng vốn:

  • Quy định bảo đảm an toàn trong cấp tín dụng:
    • Quy định về các trường hợp cấm cấp tín dụng, hạn chế cấp tín dụng và giới hạn cấp tín dụng đối với một khách hàng hoặc nhóm khách hàng có liên quan.
    • Quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR), và tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn dùng để cho vay trung và dài hạn.
  • Quy định theo từng lĩnh vực tín dụng cụ thể: Cấp tín dụng cho kinh doanh bất động sản; cấp tín dụng thông qua đầu tư trái phiếu doanh nghiệp; cấp tín dụng cho lĩnh vực nông nghiệp; cấp tín dụng cho các dự án đáp ứng tiêu chuẩn môi trường (tín dụng xanh); và cấp tín dụng cho sản xuất kinh doanh thông thường.
  • Phát hiện bất cập và đề xuất hoàn thiện:
    • Tín dụng bất động sản: Khắc phục sự thiếu rõ ràng giữa tín dụng tiêu dùng phục vụ nhu cầu nhà ở thực tế và tín dụng kinh doanh bất động sản mang tính đầu cơ.
    • Tín dụng môi trường: Thiếu các tiêu chí pháp lý rõ ràng để xác định dự án xanh; nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế (án lệ Fleet Factors của Mỹ) về cơ chế ràng buộc trách nhiệm của ngân hàng đối với các dự án gây ô nhiễm môi trường.
    • Can thiệp hành chính: Phân tích sự bất cập trong việc áp dụng các chỉ tiêu hành chính cứng nhắc (như chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng - "room tín dụng"), đề xuất chuyển dần sang quản lý gián tiếp bằng các công cụ kinh tế và chỉ tiêu an toàn vốn; hoàn thiện quy định về vốn pháp định và cơ cấu tín dụng.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt học thuật và lý luận

  1. Luận án xây dựng khái niệm khoa học hoàn chỉnh và xác định rõ nội hàm của hoạt động sử dụng vốn của NHTM, phân định rõ hoạt động này với các hoạt động cung cấp dịch vụ thu phí và các hoạt động ngoại bảng.
  2. Thiết lập mô hình lý thuyết về sự điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động sử dụng vốn của NHTM dựa trên sự kết hợp liên ngành giữa khoa học pháp lý và kinh tế học; làm rõ vai trò, giới hạn và phương thức can thiệp hợp lý của Nhà nước vào thị trường tiền tệ.
  3. Đề xuất hệ thống nguyên tắc chi phối và 6 tiêu chí khoa học đánh giá chất lượng của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của NHTM.

Đóng góp về mặt thực tiễn và kiến nghị lập pháp

  1. Hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động đầu tư: Kiến nghị sửa đổi các quy định về tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần, siết chặt điều kiện thành lập công ty con, công ty liên kết nhằm triệt tiêu hiện tượng sở hữu chéo và hình thành vốn ảo trong hệ thống tổ chức tín dụng.
  2. Hoàn thiện quy định về an toàn cấp tín dụng: Đề xuất lộ trình cụ thể áp dụng tỷ lệ an toàn vốn (CAR) theo chuẩn mực Basel II và Basel III; hoàn thiện cách tính tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn.
  3. Phân định rõ ranh giới tín dụng bất động sản: Xây dựng cơ chế pháp lý tách biệt giữa tín dụng tiêu dùng mua nhà để ở và tín dụng tài trợ kinh doanh bất động sản thương mại để áp dụng hệ số rủi ro phù hợp.
  4. Xây dựng khung pháp lý về tín dụng môi trường: Ban hành tiêu chí đánh giá dự án đáp ứng yêu cầu môi trường khi xét duyệt cấp tín dụng; tham khảo án lệ quốc tế để nghiên cứu chế định trách nhiệm pháp lý liên đới của ngân hàng khi tài trợ cho các dự án gây tổn hại môi trường.
  5. Đổi mới phương thức quản lý nhà nước: Đề xuất nâng mức vốn pháp định đối với các NHTM nhằm nâng cao năng lực tài chính; từng bước dỡ bỏ sự can thiệp mang tính hành chính trực tiếp (như phân bổ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng hành chính), chuyển dịch sang các công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô và giám sát an toàn vi mô.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:
    • Luận án chỉ tập trung vào nguồn vốn dưới khía cạnh kinh tế và tài chính, chưa nghiên cứu vốn nguồn nhân lực của NHTM.
    • Phạm vi đối tượng khảo sát giới hạn ở loại hình NHTM, không nghiên cứu sâu các tổ chức tín dụng phi ngân hàng (công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính) hay các tổ chức tài chính vi mô.
    • Về mặt nghiệp vụ, luận án tập trung vào hai hoạt động nội bảng chính là đầu tư và cấp tín dụng, chưa bao quát toàn diện các hoạt động ngoại bảng (off-balance sheet) và các sản phẩm tài chính phái sinh phức tạp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Nghiên cứu cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với các hoạt động ngoại bảng và công cụ tài chính mới của hệ thống NHTM Việt Nam.
    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang khung pháp luật điều chỉnh các tổ chức tín dụng phi ngân hàng và hoạt động tài chính số, ngân hàng số trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước (Quốc hội, Chính phủ, NHNN): Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để rà soát, sửa đổi Luật Các tổ chức tín dụng, hoàn thiện các Thông tư quy định về tỷ lệ an toàn, quản trị rủi ro và các chỉ tiêu giám sát ngân hàng.
  • Đối với các ngân hàng thương mại: Là tài liệu tham khảo trong việc xây dựng hệ thống quy chế nội bộ, chuẩn hóa quy trình phân bổ vốn đầu tư, xét duyệt cấp tín dụng và quản trị rủi ro vốn tự có phù hợp với chuẩn mực quốc tế.
  • Đối với hoạt động nghiên cứu và đào tạo: Nguồn tài liệu học thuật cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc các chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Ngân hàng, Tài chính - Ngân hàng.

Câu hỏi thường gặp

1. Bản chất của hoạt động sử dụng vốn của NHTM khác biệt như thế nào so với doanh nghiệp kinh doanh thông thường?

Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thông thường sử dụng vốn chủ sở hữu và vốn vay để mua sắm máy móc, nhà xưởng, nguyên vật liệu nhằm sản xuất sản phẩm, dịch vụ và bán ra thị trường thu lợi nhuận. Ngược lại, NHTM là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ đặc thù: nguồn vốn chủ yếu là vốn huy động ngắn hạn từ công chúng; chu trình kinh doanh là phân bổ vốn vào cấp tín dụng và đầu tư tài chính để thu hồi gốc và lãi. Hoạt động này chịu sự giám sát chặt chẽ của NHNN nhằm bảo đảm an toàn hệ thống và thực thi chính sách tiền tệ quốc gia.

2. Luận án phân định mối quan hệ giữa vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu và vốn tự có ra sao?

  • Vốn điều lệ: Số vốn do các chủ sở hữu, cổ đông đóng góp và được ghi trong điều lệ ngân hàng.
  • Vốn chủ sở hữu: Giá trị tài sản thuần của ngân hàng, bằng tổng tài sản trừ đi toàn bộ nợ phải trả theo chế độ kế toán. Thông thường, vốn chủ sở hữu lớn hơn vốn điều lệ (trừ trường hợp thặng dư vốn cổ phần âm như ví dụ tại TPBank được tác giả dẫn chứng).
  • Vốn tự có: Được tính theo quy định của Luật Các TCTD năm 2010 và Thông tư 36/2014/TT-NHNN, bao gồm vốn cấp 1 cộng vốn cấp 2 trừ đi các khoản giảm trừ theo luật định, là căn cứ pháp lý để tính toán các tỷ lệ an toàn hoạt động.

3. Chuẩn mực Basel III đặt ra các yêu cầu nào về an toàn vốn cho các ngân hàng?

Theo bảng tổng hợp của luận án, lộ trình Basel III yêu cầu: Tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu duy trì ở mức 4,5% (từ 2015 trở đi); tỷ lệ vốn cấp 1 tối thiểu đạt 6,0% (từ 2015 trở đi); tỷ lệ tổng vốn tối thiểu (CAR) duy trì ở mức 8,0%; đồng thời áp dụng bổ sung tỷ lệ vốn đệm dự phòng tăng dần từ 0,625% (năm 2016) lên 2,5% vào năm 2019.

4. Án lệ môi trường của Mỹ (vụ Fleet Factors) có ý nghĩa gì đối với hoàn thiện pháp luật Việt Nam?

Trong vụ việc liên quan đến tập đoàn tài chính Fleet Factors tại Mỹ, tổ chức tín dụng bị xem xét trách nhiệm pháp lý liên đới đối với thiệt hại ô nhiễm môi trường do dự án được tài trợ vốn gây ra khi ngân hàng tham gia can thiệp vào hoạt động quản trị của doanh nghiệp đó. Luận án sử dụng án lệ này làm cơ sở đề xuất xây dựng các quy định cụ thể về cấp tín dụng xanh tại Việt Nam, gắn trách nhiệm thẩm định và kiểm soát môi trường của NHTM khi cấp vốn cho các dự án kinh tế.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Kiên Bích Tuyền đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật điều chỉnh hoạt động sử dụng vốn của các NHTM Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp phân tích luật học và kinh tế học, công trình đã làm rõ bản chất hai mảng nghiệp vụ cốt lõi là đầu tư và cấp tín dụng, đồng thời chỉ ra các bất cập trong quản trị an toàn vốn và tình trạng sở hữu chéo. Các đề xuất hoàn thiện pháp luật về tỷ lệ an toàn vốn, tín dụng môi trường và giảm thiểu can thiệp hành chính trực tiếp là những đóng góp có giá trị khoa học và thực tiễn phục vụ cho quá trình tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng tại Việt Nam.