CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY 1. Khái quát về bảo đảm tiền vay 1. Khái niệm bảo đảm tiền vay Cùng với sự phát triển của đời sống xã hội, hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng ngày càng đa dạng. Tuy nhiên, hoạt động cấp tín dụng vẫn là một trong những hoạt động cơ bản của các tổ chức tín dụng nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng.
Trong hoạt động cho vay của của tổ chức tín dụng với khách hàng thì vấn đề bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của khách hàng hàng là vấn đề sống còn đối với tổ chức tín dụng. Dưới góc độ kinh tế, bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của khách hàng hay bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng được tiếp cận và nghiên cứu dưới với các tên gọi khác nhau như: “quản trị rủi ro tín dụng” hay “quản lý rủi ro tín dụng”. Theo đó, “Quản lý rủi ro tín dụng là một quá trình bao gồm việc nhận diện các rủi ro tiềm năng, do lường các rủi ro này, và có các hành động ứng xử thích hợp, bao gồm cả việc thực hiện trên thực tế các mô hình rủi ro” (Tony, G and Bart, B.38) hay “Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình nhận dạng, phân tích nhân tố rủi ro, đo lường mức độ rủi ro, trên cơ sở đó lựa chọn triển khai các biện pháp và quản lý các hoạt động tín dụng nhằm hạn chế và loại trừ rủi ro trong quá trình cấp tín dụng” (Đào Nguyên Thuận, 2019). Theo Basel (2000): “mục tiêu của quản lý rủi ro tín dụng và tối đa hóa tỷ lệ thu nhập có điều chỉnh rủi ro bằng việc duy trì mức rủi ro tín dụng nằm trong các ngưỡng đo lường có thể chấp nhận được.
Các ngân hàng cần quản lý rủi ro tín dụng trên phạm vi toàn bộ danh mục cũng như từng khoản vay hay giao dịch tín dụng”. Với những nội dung nêu trên, có thể khẳng định dưới góc độ kinh tế, quản trị rủi ro tín dụng hay quản lý rủi ro tín dụng được tiếp cận với ý nghĩa rộng hơn rất nhiều, việc bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của khách hàng được tiếp cận và thực hiện với nhiều công đoạn, quá trình và các hoạt động cụ thể. Dưới góc pháp lý, ở Việt Nam đã có một số nhà khoa học nghiên cứu và đưa ra định nghĩa về khái niệm bảo đảm tiền vay. Theo các tác giả Nguyễn Anh Sơn và Lê Thị Thu Thủy (2002): “Bảo đảm tiền vay (hay còn gọi là bảo đảm tín dụng) là những 13 biện pháp mà các tổ chức tín dụng áp dụng nhằm ngăn ngừa và hạn chế tới mức thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động cho vay của mình, cụ thể là bảo đảm cho việc thu hồi vốn và lãi suất vay”.
Cùng quan điểm với hai tác giả trên tác giả Nguyễn Lê Vũ (2018) cho rằng, “Bảo đảm tiền vay chính là tất cả các biện pháp thực hiện để vốn cho vay ra phải quay về với ngân hàng sau một thời gian xác định với đầy đủ cả gốc và lãi”. Trong khi đó, tác giả Trần Thị Minh Tâm (2002) lại đưa ra định nghĩa: “Bảo đảm tiền vay là việc tổ chức tín dụng thoả thuận trên cơ sở hợp đồng với bên bảo đảm về việc áp dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay”. Theo quy định của BLDS năm 1995 và Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng là hai vấn đề hoàn toàn độc lập với nhau. Chính vì vậy, vấn đề bảo đảm tiền vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng được thực hiện theo quy chế pháp lý riêng tồn tại song song với quy chế pháp lý về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và giao dịch bảo đảm được quy định trong BLDS và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Cụ thể, trước khi BLDS 2005 và Nghị định 163/2006/NĐ-CP được ban hành có có hiệu lực thi hành, vấn đề bảo đảm tiền vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng được thực hiện theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 và Nghị định số 178/1999/NĐ-CP. Sau khi BLDS năm 2005 được ban hành và có hiệu lực, vấn đề bảo đảm tiền vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng được thực hiện theo quy định của BLDS năm 2005 về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Căn cứ vào các quy định của BLDS và các văn bản hướng dẫn thi hành về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, có thể rút ra một số kết luận về khái niệm bảo đảm tiền vay nói chung và bảo đảm tiền vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng nói riêng như sau: (i) Bảo đảm tiền vay nói chung và bảo đảm tiền vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng nói riêng được thực hiện theo quy định của BLDS về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, không phải tất cả các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đều là biện pháp bảo đảm tiền vay; (ii) “Việc áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay hoặc không áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận” (Điều 15 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN).
Điều đó có nghĩa rằng, bảo đảm tiền vay nói chung và bảo đảm tiền vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng nói riêng không phải là quá 14 trình, một hoạt động đơn phương của bên cho vay nói chung hay tổ chức tín dụng nói riêng mà là một hợp đồng giữa bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm. Hợp đồng giữa các bên về bảo đảm tiền vay là hợp đồng phụ trong mối quan hệ với hợp đồng chính là hợp đồng cho vay tiền, hợp đồng tín dụng; (iii) Các bên có thể thỏa thuận áp dụng một hoặc một số biện pháp bảo đảm tiền vay được quy định bởi pháp luật; (iv) Theo quy định của Điều 15 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN, “Việc thỏa thuận về biện pháp bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng với khách hàng phù hợp với quy định của pháp luật về biện pháp bảo đảm và pháp luật có liên quan”. Điều đó có nghĩa rằng, bảo đảm tiền vay là một thỏa thuận, một hợp đồng giữa biên bảo dảm và bên nhận bảo đảm. Tuy nhiên, hợp đồng đó phải được xác lập và thực hiện trên cơ sở quy định của pháp luật, phù hợp với quy định của pháp luật.
Từ những phân tích và kết luận nêu trên có thể khẳng định, việc các tác giả Nguyễn Anh Sơn, Lê Thị Thu Thủy và Nguyễn Lê Vũ (2002) xác định bảo đảm tiền vay là các biện pháp được áp dụng hay thực hiện nhằm bảo đảm việc thu hồi vốn và lãi là chưa thật sự phù hợp, không phản ánh đúng quan hệ hợp đồng giữa bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm và có thể dẫn đến cách hiểu bảo đảm tiền vay là các biện pháp do tổ chức tín dụng đơn phương áp dụng. Khái niệm bảo đảm tiền vay do các tác giả đưa ra có thể được hiểu theo nghĩa rất rộng và nó gần với khái niệm quản trị rủi ro hay quản lý rủi ro dưới góc độ kinh tế như đã đề cập ở trên hơn là khái niệm bảo đảm tiền vay dưới góc độ pháp lý. Trong khi đó với khẳng định “bảo đảm tiền vay là việc tổ chức tín dụng thoả thuận trên cơ sở hợp đồng với bên bảo đảm” tác giả Trần Thị Minh Tâm (2002) có thể khiến người đọc hiểu rằng bảo đảm tiền vay là một hoạt động của tổ chức tín dụng, là quá trình thương thảo, thỏa thuận của tổ chức tín dụng “với bên bảo đảm về việc áp dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay”. Hơn nữa, việc các tác giả sử dụng cụm từ “những biện pháp” hay “các biện pháp” có thể dẫn đến cách hiểu khi thực hiện bảo đảm tiền vay các bên luôn phải thỏa thuận, giao kết nhiều hơn một biện pháp bảo đảm được quy định bởi pháp luật.
Trong khi theo quy định cũng như thực tế các bên có thể thỏa thuận, giao kết một hoặc một số biện pháp bảo đảm. 15 Dựa vào những phân tích, đánh giá trên, nhóm tác giả đưa ra khái niệm bảo đảm tiền vay dưới góc độ pháp lý như sau: Bảo đảm tiền vay là thỏa thuận giữa bên nhận bảo đảm và bên bảo đảm về việc áp dụng một hay một số biện pháp bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay. Các biện pháp bảo đảm tiền vay Theo quy định tại Mục 3, Chương XV, Phần thứ 3 BLDS 2015 có 04 (bốn) biện pháp bảo đảm tiền vay, bao gồm: Cầm cố tài sản; Thế chấp tài sản; Bảo lãnh; Tín chấp. “Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ” (Điều 309 BLDS 2015).
Với quy định trên có thể xác định, trong quan hệ tín dụng, với tư cách là một biện pháp bảo đảm tiền vay, cầm cố tài sản là thỏa thuận giữa bên cho vay và bên vay. Theo đó, bên vay giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên cho vay để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ. “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)” (Điều 317 BLDS 2015). Tương tự như cầm cố tài sản, thế chấp tài sản là thỏa thuận giữa bên cho vay và bên vay.
Theo đó, bên vay sử dụng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên, khác với cầm cố tài sản trong biện pháp thế chấp tài sản, bên vay không phải giao tài sản cho bên cho vay giữ tài sản thế chấp. Theo quy định của BLDS năm 2015 “Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ” (Điều 335 BLDS 2015).