CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ CAN THIỆP SỚM VÀ PHÁP LUẬT VỀ CƠ CHẾ CAN THIỆP SỚM ĐỐI VỚI NHTM YẾU KÉM 1. Khái niệm cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém 1. Định nghĩa cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém NHTM được hiểu là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp nhiều loại dịch vụ tài chính, mà chủ yếu là nhận tiền gửi và cung cấp các loại khoản vay, hoạt động chủ yếu vì mục tiêu lợi nhuận.
Trong khi đó, “yếu kém được hiểu là yếu hẳn so với bình thường, có nhiều nhược điểm” (Từ điển Tiếng Việt). “NHTM yếu kém” ở đây có thể được coi là NHTM không đáp ứng được ngưỡng an toàn đã được quy định hoặc xuất hiện những dấu hiệu, sự kiện quan trọng chứng tỏ hoạt động của ngân hàng đó trở nên khó khăn, chứa đựng rủi ro và nguy cơ sụp đổ. Suy nghĩ cách dùng của ngành y, có thể thấy từ “cơ chế” là chuyển ngữ của từ “mécanisme” của phương Tây. Từ điển Le Petit Larousse (1999) giảng nghĩa “mécanisme” là “cách thức hoạt động của một tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau”.
Còn Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học 1996) giảng nghĩa cơ chế là “cách thức theo đó một quá trình thực hiện”. Tương tự như vậy, các tác giả của cuốn Đại từ điển Tiếng Việt cho rằng cơ chế là cách thức sắp xếp tổ chức để làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện. Về phương diện khoa học, trong cuốn Sổ tay về phát triển, thương mại và WTO (Nxb Chính trị quốc gia năm 2004), các nhà khoa học cho rằng “cơ chế là một phương thức, một hệ thống các yếu tố làm cơ sở, đường hướng cho sự vận động của một sự vật hay hiện tượng”. Như vậy, dù tiếp cận theo phương diện nào cũng cần nhấn mạnh rằng cơ chế dùng để chỉ sự vận hành theo những cách thức được định sẵn.
“Can thiệp sớm” có tên gọi đầy đủ là “can thiệp giám sát sớm”. Sở dĩ như vậy vì việc can thiệp sớm được tiến hành trên cơ sở “giám sát dựa trên rủi ro” của cơ quan giám sát. Cơ chế can thiệp sớm chính thức ra đời lần đầu tiên sau cuộc khủng hoảng tiết kiệm và cho vay tại Hoa Kỳ từ cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990. Khi ấy, các cơ quan giám sát liên bang đã bị chỉ trích vì không có hành động đầy đủ, kịp thời để giải quyết các vấn đề liên quan đến thất bại của ngân hàng và ngăn chặn tổn thất cho 14 Quỹ BHTG và người gửi tiền.
Đáp lại, Quốc hội thông qua FDICIA vào năm 1991, bao gồm một số điều khoản cải thiện sự giám sát đối với các tổ chức được bảo hiểm. Tuy nhiên, các điều khoản được biết đến rộng rãi là các điều khoản đưa ra khung PCA để giám sát ngân hàng – nội dung chính là xác định và can thiệp sớm để khắc phục những khó khăn ban đầu của ngân hàng. Fernando Restoy – Chủ tịch FSI (Financial Stability Institute – Viện Ổn định Tài chính) cho rằng can thiệp sớm có thể có ý nghĩa khác nhau đối với những người khác nhau tùy thuộc vào góc độ của mỗi người. Đối với người giám sát, can thiệp sớm có thể là về khả năng thay đổi hành vi quản lý, thông qua thuyết phục đạo đức hoặc các hành động giám sát chính thức hơn, trong khi tình hình tài chính của ngân hàng vẫn ổn định.
Điều này nhìn chung nhất quán với các mục tiêu của “giám sát dựa trên rủi ro” – câu “thần chú” lâu đời trong cộng đồng giám sát – tức là khả năng xác định và giải quyết những điểm yếu trong quản trị và quản lý rủi ro trước khi những thiếu sót này thấm vào bảng cân đối kế toán của ngân hàng và gây ra những hậu quả bất lợi. ảnh hưởng đến thu nhập và vốn pháp định. Còn đối với các tổ chức BHTG và cơ quan xử lý, trọng tâm của can thiệp giám sát sớm có thể tập trung hẹp hơn vào việc thực hiện các biện pháp can thiệp nhằm cố gắng ngăn chặn sự đổ vỡ của ngân hàng khi ngân hàng có dấu hiệu khó khăn; hoặc trong trường hợp họ đóng cửa một ngân hàng khi vốn vẫn còn dương với hy vọng giảm thiểu tổn thất cho tổ chức BHTG hoặc người nộp thuế. Theo BCBS: “Can thiệp (giám sát) sớm được định nghĩa là người giám sát thực hiện các hành động ở giai đoạn đầu để giải quyết các hoạt động không an toàn và không lành mạnh có thể gây rủi ro cho ngân hàng hoặc hệ thống ngân hàng.
Những hành động giám sát sớm này có thể bao gồm từ các biện pháp thuyết phục về mặt đạo đức cho đến các biện pháp trừng phạt khắc phục hơn, được kích hoạt khi các ngân hàng được coi là có nguy cơ phá sản. Ở một khía cạnh khác, việc sử dụng các biện pháp giám sát sớm là một phần của quy trình xem xét giám sát và được hướng dẫn bởi các đánh giá hướng tới tương lai, các khuôn khổ rủi ro và tác động cũng như các nhóm giám sát chuyên môn. Mặt khác, sự can thiệp cũng được thực hiện bằng cách sử dụng các biện pháp trừng phạt, thường được gọi là hành động khắc phục kịp thời, được yêu cầu theo pháp luật để giảm thiểu tác động mà một ngân hàng mất khả năng thanh toán sẽ gây ra đối 15 với tiền gửi các chương trình bảo hiểm.” Hiệp hội BHTG Quốc tế (IADI) định nghĩa về can thiệp như sau: Can thiệp là một thủ tục được thực hiện bởi một cơ quan quản lý/ giám sát có thẩm quyền hoặc, ở một số khu vực pháp lý, công ty BHTG có thẩm quyền pháp lý theo luật hoặc theo yêu cầu, để hạn chế và/ hoặc cấm, một phần hoặc toàn bộ, bất kỳ loại hoạt động nào mà các tổ chức tài chính tham gia, cũng như thực hiện các hành động hợp pháp khác để ngăn chặn sự thất bại của ngân hàng hoặc giải quyết ngân hàng thất bại. Giai đoạn can thiệp/mức độ rủi ro Hành động điển hình Bình thường/ rủi ro thấp - Quy trình đánh giá rủi ro giám sát thông thường - Tiến hành đánh giá định kỳ ngân hàng - Xem xét và phân tích dữ liệu an toàn - Cung cấp xếp hạng rủi ro được chỉ định cho ngân hàng Cảnh báo sớm/ rủi ro vừa phải - Đánh giá thường xuyên, có mục tiêu hơn bởi các nhóm chuyên gia về rủi ro - Áp đặt các báo cáo bổ sung và thường xuyên hơn - Tương tác và gặp gỡ trực tiếp với quản lý cấp cao và hội đồng quản trị - Thông báo bằng văn bản yêu cầu ngân hàng trình bày kế hoạch và thời gian để khôi phục các thiếu sót được xác định - Giám sát thường xuyên hơn các biện pháp mà ngân hàng thực hiện Giám sát/ rủi ro - Các cuộc kiểm tra, cuộc họp với hội đồng quản trị thường xuyên hơn - Yêu cầu sửa đổi kế hoạch kinh doanh hoặc sắp xếp quản trị - Yêu cầu cập nhật kế hoạch khôi phục - Hạn chế một số hoạt động kinh doanh hiện tại hoặc theo kế hoạch, hạn chế tăng trưởng bảng cân đối kế toán - Tăng yêu cầu về vốn, thanh khoản, hạn chế phân bổ vốn, giới hạn đòn bẩy chặt chẽ hơn - Tuyển dụng chuyên gia bên ngoài để đánh giá các lĩnh vực nhất định 16 Hành động bắt buộc/ rủi ro cấp - Sử dụng quyền hạn để ban hành chỉ thị thiết - Yêu cầu ngân hàng đệ trình và thực hiện kế hoạch khắc phục trong thời gian ngắn - Ngân hàng chứng minh các hành động khôi phục hoặc các hành động cưỡng chế chính thức đã được thực hiện Không khả thi/ giải quyết và chấm Chế độ giải quyết ngân hàng được kích hoạt dứt Bảng 1.
Tổng quan về cơ chế can thiệp sớm (Nguồn: BIS) Như vậy, qua các phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa về cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém như sau: Cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém là việc cơ quan có thẩm quyền tiến hành thực hiện các biện pháp can thiệp nhằm khắc phục những vấn đề yếu kém, giải quyết những khó khăn ban đầu của NHTM theo một trình tự, thủ tục nhất định, được kích hoạt khi NHTM không đáp ứng được ngưỡng an toàn theo quy định hoặc có những dấu hiệu chứng tỏ rằng hoạt động của ngân hàng đang gặp khó khăn và có nguy cơ sụp đổ, ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng. Đặc điểm cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém Cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém nhìn chung mang những đặc điểm sau đây: Một là, về đối tượng tác động: Đối tượng tác động của cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém là các NHTM – tổ chức kinh doanh tiền tệ với mục tiêu lợi nhuận là chủ yếu đang trong tình trạng “yếu kém” thể hiện qua việc có sự vi phạm các yêu cầu an toàn tối thiểu hoặc thỏa mãn các điều kiện khác mà chứng tỏ rằng hoạt động của NHTM đang gặp khó khăn và có nguy cơ sụp đổ. Tuy nhiên, không phải mọi NHTM yếu kém đều là đối tượng tác động của cơ chế can thiệp sớm. Chỉ những NHTM có khó khăn ở giai đoạn ban đầu, tức vấn đề mà NHTM gặp phải chưa trở nên nghiêm trọng và có khả năng khắc phục được thông qua các biện pháp can thiệp sớm mới được coi là đối tượng của cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém.
Hai là, về chủ thể tiến hành: Cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém 17 thường được tiến hành bởi cơ quan quản lý, giám sát NHTM, có thể là Ngân hàng trung ương hoặc cơ quan độc lập đặc biệt. Điều này hoàn toàn dễ hiểu vì xuất phát từ nhiệm vụ của mình là thực hiện kiểm tra, giám sát, theo dõi thường xuyên hoạt động của NHTM, đây là những chủ thể có các điều kiện để cập nhật và nắm bắt nhanh chóng hơn ai hết tình hình của NHTM cũng như có đủ chuyên môn để xác định và đưa ra giải pháp khắc phục tình trạng yếu kém của NHTM. Ba là, về mục đích: Mục đích của cơ chế can thiệp sớm đối với ngân hàng yếu kém là khắc phục điểm yếu của NHTM kịp thời nhằm đưa NHTM trở về trạng thái hoạt động ban đầu. Bởi lẽ, trong quá trình hoạt động, NHTM không thể tránh khỏi những rủi ro và khó khăn mà có thể khiến NHTM sụp đổ.