Đề tài nghiên cứu khoa học hoàn thiện pháp luật về cơ chế can thiệp sớm đối với ngân hàng thương mại yếu kém tại việt nam hiện nay

Nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về can thiệp sớm đối với ngân hàng thương mại yếu kém tại Việt Nam, đảm bảo ổn định hệ thống tài chính.

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

đề tài nghiên cứu khoa học

2024

107
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

LỜI MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Tổng quan về đề tài

0.3. Mục tiêu nghiên cứu

0.4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Kết cấu đề tài

1. CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ CAN THIỆP SỚM VÀ PHÁP LUẬT VỀ CƠ CHẾ CAN THIỆP SỚM ĐỐI VỚI NHTM YẾU KÉM

1.1. Khái niệm cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém

1.2. Định nghĩa cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém

1.3. Đặc điểm cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém

1.4. Phân loại cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém

1.5. Vai trò của cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém

1.6. Khái niệm pháp luật về cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém

1.7. Nội dung pháp luật về cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém

1.8. Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém

1.9. KẾT LUẬN CHƯƠNG I

2. CHƯƠNG II: KINH NGHIỆM ĐIỀU CHỈNH BẰNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CAN THIỆP SỚM ĐỐI VỚI NHTM YẾU KÉM TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

2.1. Kinh nghiệm từ Hoa Kỳ

2.2. Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh

2.3. Kinh nghiệm từ Philippines

2.4. Kinh nghiệm từ Ấn Độ

2.5. Bài học đối với Việt Nam

2.6. KẾT LUẬN CHƯƠNG II

3. CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH QUY ĐỊNH VỀ CƠ CHẾ CAN THIỆP SỚM ĐỐI VỚI NHTM YẾU KÉM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1. Thực trạng quy định pháp luật về cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém ở Việt Nam hiện nay

3.2. Về các trường hợp NHTM bị áp dụng can thiệp sớm

3.3. Về chủ thể có thẩm quyền tiến hành can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém

3.4. Trình tự, thủ tục tiến hành can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém

3.5. Các biện pháp can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém

3.6. Thực tiễn thi hành pháp luật về cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém tại Việt Nam. Những kết quả đạt được trong quá trình thi hành pháp luật về cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém tại Việt Nam

3.7. Những hạn chế còn tồn tại trong quá trình thi hành cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém tại Việt Nam

3.8. KẾT LUẬN CHƯƠNG III

4. CHƯƠNG IV: ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƠ CHẾ CAN THIỆP SỚM ĐỐI VỚI NHTM YẾU KÉM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

4.1. Những yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật về cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém ở Việt Nam hiện nay

4.2. Pháp luật về cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém cần đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất trong hệ thống pháp luật

4.3. Pháp luật về cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém cần đảm bảo có cơ chế thực thi hiệu quả

4.4. Pháp luật về cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém cần đảm bảo tính tương thích với thông lệ quốc tế

4.5. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém

4.6. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực tiễn thi hành pháp luật về cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém ở Việt Nam hiện nay

4.6.1. Về phía NHNN

4.6.2. Về phía NHTM

4.6.3. Về phía tổ chức BHTG và các TCTD khác

4.7. KẾT LUẬN CHƯƠNG IV

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Cải Tiến Pháp Luật Về Can Thiệp Sớm NHTM 55 ký tự

Hệ thống NHTM đóng vai trò then chốt trong sự phát triển kinh tế quốc gia. Không chỉ là người trông coi của cải, NHTM còn là nguồn tài nguyên quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cung cấp dịch vụ tài chính cho cả cá nhân và doanh nghiệp. Khủng hoảng tài chính toàn cầu (2007-2009) đã chứng minh một điều: sự sụp đổ của một NHTM có thể gây ra khủng hoảng cho toàn bộ hệ thống tài chính và nền kinh tế. Vì vậy, cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém là vô cùng quan trọng. Nó giúp phát hiện và giải quyết kịp thời những khó khăn ban đầu, ngăn chặn sự sụp đổ lây lan. Trong bối cảnh hoạt động NHTM ngày càng phức tạp, nguy cơ rủi ro cũng tăng cao. Ngay cả những NHTM lớn cũng có thể sụp đổ nhanh chóng nếu gặp biến cố bất ngờ mà không có giải pháp kịp thời. Các vụ sụp đổ ngân hàng gần đây (First Republic Bank, Silicon Valley Bank) cho thấy tính chất dễ đổ vỡ của NHTM. Việc can thiệp sớm hiệu quả là cần thiết để giải quyết nhanh chóng vấn đề yếu kém, đảm bảo sự lành mạnh và ổn định của hệ thống ngân hàng. Theo luật các TCTD 2024, cơ chế can thiệp sớm hiện tại vẫn còn nhiều bất cập, chưa thực sự hiệu quả. Nhóm nghiên cứu khoa học đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật về cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém” để tìm hiểu, phân tích những bất cập và đề xuất giải pháp.

1.1. Tầm Quan Trọng Can Thiệp Sớm Với Ngân Hàng Yếu Kém

Cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém đóng vai trò then chốt trong việc bảo vệ sự ổn định của hệ thống tài chính. Theo báo cáo của Học viện Ngân hàng, sự sụp đổ của một ngân hàng có thể gây ra hiệu ứng domino, lan rộng sang các tổ chức tài chính khác và gây tổn hại nghiêm trọng cho nền kinh tế. Việc can thiệp sớm giúp ngăn chặn tình trạng này bằng cách giải quyết các vấn đề của ngân hàng trước khi chúng trở nên quá lớn để kiểm soát.

1.2. Thực Trạng Pháp Luật Về Cơ Chế Can Thiệp Sớm Ở VN

Theo luật các TCTD 2024, cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém ở Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập, chưa thực sự hiệu quả. Điều này gây ra khó khăn cho toàn bộ hệ thống ngân hàng. Những bất cập này có thể xuất phát từ việc pháp luật về cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém chưa phù hợp với thực tiễn hoặc xuất phát từ chính trình độ nghiệp vụ của NHTM yếu kém hay năng lực chuyên môn, đạo đức của cơ quan quản lý, giám sát ngân hàng.

II. Phân Tích Kinh Nghiệm Quốc Tế Về Can Thiệp Sớm NHTM 59 ký tự

Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về can thiệp sớm ngân hàng là rất quan trọng để hoàn thiện pháp luật Việt Nam. Các quốc gia như Hoa Kỳ, Vương quốc Anh và Philippines đã có những bài học quý giá trong việc xử lý ngân hàng yếu kém. Ví dụ, Hoa Kỳ sử dụng PCA (Prompt Corrective Action) để can thiệp dựa trên tỷ lệ vốn. Vương quốc Anh áp dụng PIF (Proactive Intervention Framework) để có các biện pháp can thiệp chủ động. Philippines yêu cầu NHTM đáp ứng các ngưỡng vốn tối thiểu để đảm bảo an toàn. Từ những kinh nghiệm này, Việt Nam có thể rút ra bài học về việc xây dựng khung pháp lý hiệu quả, xác định rõ các yếu tố kích hoạt can thiệp sớm, và áp dụng các biện pháp phù hợp với điều kiện thực tế. Việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế giúp Việt Nam tránh được những sai lầm và nâng cao hiệu quả của cơ chế can thiệp sớm.

2.1. Kinh Nghiệm Từ Hoa Kỳ Về PCA Trong Can Thiệp Ngân Hàng

Hoa Kỳ sử dụng PCA (Prompt Corrective Action) để can thiệp dựa trên tỷ lệ vốn. Các ngân hàng được phân loại theo mức độ vốn hóa và áp dụng các biện pháp khắc phục tương ứng. Theo nghiên cứu của Joe Peek and Eric Rosengren, việc sử dụng tỷ lệ vốn làm yếu tố kích hoạt can thiệp có thể giúp cơ quan giám sát can thiệp sớm hơn vào các ngân hàng có vấn đề.

2.2. Bài Học Từ Vương Quốc Anh Với Khung Can Thiệp Chủ Động

Vương quốc Anh áp dụng PIF (Proactive Intervention Framework) để có các biện pháp can thiệp chủ động. Theo nghiên cứu của Dalvinder Singh, sự thành công của cơ chế can thiệp sớm phụ thuộc lớn vào vấn đề thời gian và cần dựa vào nhiều yếu tố để xác định ngân hàng có vấn đề, chứ không chỉ tập trung vào yếu tố vốn.

2.3. Philippines Đặt Ngưỡng Vốn Tối Thiểu Cho An Toàn Ngân Hàng

Philippines yêu cầu NHTM đáp ứng các ngưỡng vốn tối thiểu để đảm bảo an toàn. Điều này giúp ngăn chặn các ngân hàng hoạt động với vốn thấp, tăng khả năng đối phó với rủi ro. Các ngưỡng rủi ro khác nhau được áp dụng tùy thuộc vào quy mô và mức độ phức tạp của ngân hàng.

III. Đánh Giá Thực Trạng Pháp Luật Can Thiệp Sớm Tại VN 58 ký tự

Thực trạng pháp luật về cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém ở Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế. Các quy định về trường hợp NHTM bị áp dụng can thiệp sớm chưa rõ ràng. Chủ thể có thẩm quyền can thiệp cũng cần được xác định cụ thể hơn. Trình tự, thủ tục can thiệp sớm còn phức tạp và kéo dài. Các biện pháp can thiệp sớm chưa đủ mạnh để giải quyết triệt để vấn đề. Thực tiễn thi hành pháp luật cũng gặp nhiều khó khăn, do năng lực của cơ quan quản lý, giám sát còn hạn chế. Cần có đánh giá khách quan về kết quả đạt được và những hạn chế còn tồn tại trong quá trình can thiệp sớm. Mục tiêu là hoàn thiện pháp luật để nâng cao hiệu quả của cơ chế can thiệp sớm.

3.1. Các Trường Hợp NHTM Bị Áp Dụng Can Thiệp Sớm

Theo đánh giá từ tài liệu gốc, các quy định về trường hợp NHTM bị áp dụng can thiệp sớm chưa rõ ràng. Cần xác định cụ thể các yếu tố kích hoạt can thiệp sớm, bao gồm tỷ lệ vốn, chất lượng tài sản, khả năng thanh khoản và khả năng sinh lời. Các yếu tố này cần được đánh giá định kỳ và có hệ thống để phát hiện sớm các ngân hàng có dấu hiệu yếu kém.

3.2. Chủ Thể Có Thẩm Quyền Tiến Hành Can Thiệp Sớm

Chủ thể có thẩm quyền can thiệp sớm cần được xác định rõ ràng. Theo luật các TCTD, NHNN là cơ quan có thẩm quyền can thiệp. Tuy nhiên, cần quy định cụ thể hơn về vai trò và trách nhiệm của các bộ phận khác trong NHNN, cũng như sự phối hợp với các cơ quan liên quan khác (Bộ Tài chính, Bảo hiểm tiền gửi).

3.3. Trình Tự Thủ Tục Can Thiệp Sớm Còn Nhiều Bất Cập

Trình tự, thủ tục can thiệp sớm còn phức tạp và kéo dài. Cần rút gọn các thủ tục hành chính, tăng tính linh hoạt và hiệu quả trong quá trình can thiệp. Đồng thời, cần đảm bảo tính minh bạch và công khai thông tin để tạo niềm tin cho người gửi tiền và các nhà đầu tư.

IV. Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Can Thiệp Sớm NHTM 58 ký tự

Để hoàn thiện pháp luật về cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém ở Việt Nam, cần đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất trong hệ thống pháp luật. Pháp luật cần có cơ chế thực thi hiệu quả, với các biện pháp mạnh mẽ và khả thi. Cần đảm bảo tính tương thích với thông lệ quốc tế, học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển. Cần có các kiến nghị cụ thể để hoàn thiện quy định pháp luật về cơ chế can thiệp sớm. Đồng thời, cần có các giải pháp để nâng cao hiệu quả thực tiễn thi hành pháp luật, từ phía NHNN, NHTM, và các tổ chức liên quan. Mục tiêu là xây dựng một cơ chế can thiệp sớm hiệu quả, đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng.

4.1. Đảm Bảo Tính Hợp Hiến Hợp Pháp Trong Pháp Luật

Để hoàn thiện pháp luật về cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém, cần đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất trong hệ thống pháp luật. Các quy định phải phù hợp với Hiến pháp và các luật khác có liên quan, tránh chồng chéo và mâu thuẫn.

4.2. Xây Dựng Cơ Chế Thực Thi Hiệu Quả Và Khả Thi

Pháp luật cần có cơ chế thực thi hiệu quả, với các biện pháp mạnh mẽ và khả thi. Cần quy định rõ về thẩm quyền, trách nhiệm và chế tài đối với các hành vi vi phạm. Đồng thời, cần đảm bảo nguồn lực tài chính và nhân lực để thực thi pháp luật.

4.3. Nâng Cao Hiệu Quả Thực Thi Pháp Luật Từ NHNN

Cần có các giải pháp để nâng cao hiệu quả thực tiễn thi hành pháp luật, từ phía NHNN. NHNN cần tăng cường năng lực giám sát và thanh tra, phát hiện sớm các dấu hiệu yếu kém của NHTM. Đồng thời, cần có các biện pháp can thiệp kịp thời và hiệu quả.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Kết Quả Nghiên Cứu Về NHTM 57 ký tự

Nghiên cứu này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật về cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém. Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật mới, sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành. Nghiên cứu cũng cung cấp các giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả thực tiễn thi hành pháp luật, từ phía NHNN, NHTM, và các tổ chức liên quan. Việc áp dụng kết quả nghiên cứu sẽ giúp tăng cường an toàn hệ thống ngân hàng, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và các nhà đầu tư, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Nghiên cứu cũng mở ra hướng nghiên cứu mới về cơ chế can thiệp sớm trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

5.1. Xây Dựng Các Văn Bản Pháp Luật Mới Về Can Thiệp Sớm

Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật mới, sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành. Các văn bản này cần quy định cụ thể về các trường hợp NHTM bị áp dụng can thiệp sớm, thẩm quyền, trách nhiệm của các bên liên quan, trình tự, thủ tục can thiệp, và các biện pháp can thiệp.

5.2. Nâng Cao Hiệu Quả Thi Hành Pháp Luật Về Ngân Hàng

Nghiên cứu cũng cung cấp các giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả thực tiễn thi hành pháp luật, từ phía NHNN, NHTM, và các tổ chức liên quan. Các giải pháp này bao gồm tăng cường năng lực giám sát và thanh tra, cải thiện trình tự, thủ tục can thiệp, và áp dụng các biện pháp can thiệp mạnh mẽ.

VI. Kết Luận Tương Lai Của Pháp Luật Về Ngân Hàng 50 ký tự

Nghiên cứu về hoàn thiện pháp luật về cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém là một vấn đề quan trọng và cấp bách. Việc xây dựng một cơ chế can thiệp sớm hiệu quả là cần thiết để đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và các nhà đầu tư, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật về cơ chế can thiệp sớm trong bối cảnh hội nhập quốc tế, biến đổi khí hậu và sự phát triển của công nghệ số. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước, NHTM, và các tổ chức liên quan để xây dựng một hệ thống ngân hàng an toàn, hiệu quả và bền vững.

6.1. Tiếp Tục Nghiên Cứu Trong Bối Cảnh Hội Nhập Quốc Tế

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật về cơ chế can thiệp sớm trong bối cảnh hội nhập quốc tế, biến đổi khí hậu và sự phát triển của công nghệ số. Cần học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển và áp dụng các chuẩn mực quốc tế vào thực tiễn Việt Nam.

6.2. Xây Dựng Hệ Thống Ngân Hàng An Toàn Bền Vững

Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước, NHTM, và các tổ chức liên quan để xây dựng một hệ thống ngân hàng an toàn, hiệu quả và bền vững. Điều này đòi hỏi sự đồng bộ trong chính sách, pháp luật và sự nỗ lực của tất cả các bên liên quan.

18/04/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ CAN THIỆP SỚM VÀ PHÁP LUẬT VỀ CƠ CHẾ CAN THIỆP SỚM ĐỐI VỚI NHTM YẾU KÉM 1. Khái niệm cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém 1. Định nghĩa cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém NHTM được hiểu là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp nhiều loại dịch vụ tài chính, mà chủ yếu là nhận tiền gửi và cung cấp các loại khoản vay, hoạt động chủ yếu vì mục tiêu lợi nhuận.

Trong khi đó, “yếu kém được hiểu là yếu hẳn so với bình thường, có nhiều nhược điểm” (Từ điển Tiếng Việt). “NHTM yếu kém” ở đây có thể được coi là NHTM không đáp ứng được ngưỡng an toàn đã được quy định hoặc xuất hiện những dấu hiệu, sự kiện quan trọng chứng tỏ hoạt động của ngân hàng đó trở nên khó khăn, chứa đựng rủi ro và nguy cơ sụp đổ. Suy nghĩ cách dùng của ngành y, có thể thấy từ “cơ chế” là chuyển ngữ của từ “mécanisme” của phương Tây. Từ điển Le Petit Larousse (1999) giảng nghĩa “mécanisme” là “cách thức hoạt động của một tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau”.

Còn Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học 1996) giảng nghĩa cơ chế là “cách thức theo đó một quá trình thực hiện”. Tương tự như vậy, các tác giả của cuốn Đại từ điển Tiếng Việt cho rằng cơ chế là cách thức sắp xếp tổ chức để làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện. Về phương diện khoa học, trong cuốn Sổ tay về phát triển, thương mại và WTO (Nxb Chính trị quốc gia năm 2004), các nhà khoa học cho rằng “cơ chế là một phương thức, một hệ thống các yếu tố làm cơ sở, đường hướng cho sự vận động của một sự vật hay hiện tượng”. Như vậy, dù tiếp cận theo phương diện nào cũng cần nhấn mạnh rằng cơ chế dùng để chỉ sự vận hành theo những cách thức được định sẵn.

“Can thiệp sớm” có tên gọi đầy đủ là “can thiệp giám sát sớm”. Sở dĩ như vậy vì việc can thiệp sớm được tiến hành trên cơ sở “giám sát dựa trên rủi ro” của cơ quan giám sát. Cơ chế can thiệp sớm chính thức ra đời lần đầu tiên sau cuộc khủng hoảng tiết kiệm và cho vay tại Hoa Kỳ từ cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990. Khi ấy, các cơ quan giám sát liên bang đã bị chỉ trích vì không có hành động đầy đủ, kịp thời để giải quyết các vấn đề liên quan đến thất bại của ngân hàng và ngăn chặn tổn thất cho 14 Quỹ BHTG và người gửi tiền.

Đáp lại, Quốc hội thông qua FDICIA vào năm 1991, bao gồm một số điều khoản cải thiện sự giám sát đối với các tổ chức được bảo hiểm. Tuy nhiên, các điều khoản được biết đến rộng rãi là các điều khoản đưa ra khung PCA để giám sát ngân hàng – nội dung chính là xác định và can thiệp sớm để khắc phục những khó khăn ban đầu của ngân hàng. Fernando Restoy – Chủ tịch FSI (Financial Stability Institute – Viện Ổn định Tài chính) cho rằng can thiệp sớm có thể có ý nghĩa khác nhau đối với những người khác nhau tùy thuộc vào góc độ của mỗi người. Đối với người giám sát, can thiệp sớm có thể là về khả năng thay đổi hành vi quản lý, thông qua thuyết phục đạo đức hoặc các hành động giám sát chính thức hơn, trong khi tình hình tài chính của ngân hàng vẫn ổn định.

Điều này nhìn chung nhất quán với các mục tiêu của “giám sát dựa trên rủi ro” – câu “thần chú” lâu đời trong cộng đồng giám sát – tức là khả năng xác định và giải quyết những điểm yếu trong quản trị và quản lý rủi ro trước khi những thiếu sót này thấm vào bảng cân đối kế toán của ngân hàng và gây ra những hậu quả bất lợi. ảnh hưởng đến thu nhập và vốn pháp định. Còn đối với các tổ chức BHTG và cơ quan xử lý, trọng tâm của can thiệp giám sát sớm có thể tập trung hẹp hơn vào việc thực hiện các biện pháp can thiệp nhằm cố gắng ngăn chặn sự đổ vỡ của ngân hàng khi ngân hàng có dấu hiệu khó khăn; hoặc trong trường hợp họ đóng cửa một ngân hàng khi vốn vẫn còn dương với hy vọng giảm thiểu tổn thất cho tổ chức BHTG hoặc người nộp thuế. Theo BCBS: “Can thiệp (giám sát) sớm được định nghĩa là người giám sát thực hiện các hành động ở giai đoạn đầu để giải quyết các hoạt động không an toàn và không lành mạnh có thể gây rủi ro cho ngân hàng hoặc hệ thống ngân hàng.

Những hành động giám sát sớm này có thể bao gồm từ các biện pháp thuyết phục về mặt đạo đức cho đến các biện pháp trừng phạt khắc phục hơn, được kích hoạt khi các ngân hàng được coi là có nguy cơ phá sản. Ở một khía cạnh khác, việc sử dụng các biện pháp giám sát sớm là một phần của quy trình xem xét giám sát và được hướng dẫn bởi các đánh giá hướng tới tương lai, các khuôn khổ rủi ro và tác động cũng như các nhóm giám sát chuyên môn. Mặt khác, sự can thiệp cũng được thực hiện bằng cách sử dụng các biện pháp trừng phạt, thường được gọi là hành động khắc phục kịp thời, được yêu cầu theo pháp luật để giảm thiểu tác động mà một ngân hàng mất khả năng thanh toán sẽ gây ra đối 15 với tiền gửi các chương trình bảo hiểm.” Hiệp hội BHTG Quốc tế (IADI) định nghĩa về can thiệp như sau: Can thiệp là một thủ tục được thực hiện bởi một cơ quan quản lý/ giám sát có thẩm quyền hoặc, ở một số khu vực pháp lý, công ty BHTG có thẩm quyền pháp lý theo luật hoặc theo yêu cầu, để hạn chế và/ hoặc cấm, một phần hoặc toàn bộ, bất kỳ loại hoạt động nào mà các tổ chức tài chính tham gia, cũng như thực hiện các hành động hợp pháp khác để ngăn chặn sự thất bại của ngân hàng hoặc giải quyết ngân hàng thất bại. Giai đoạn can thiệp/mức độ rủi ro Hành động điển hình Bình thường/ rủi ro thấp - Quy trình đánh giá rủi ro giám sát thông thường - Tiến hành đánh giá định kỳ ngân hàng - Xem xét và phân tích dữ liệu an toàn - Cung cấp xếp hạng rủi ro được chỉ định cho ngân hàng Cảnh báo sớm/ rủi ro vừa phải - Đánh giá thường xuyên, có mục tiêu hơn bởi các nhóm chuyên gia về rủi ro - Áp đặt các báo cáo bổ sung và thường xuyên hơn - Tương tác và gặp gỡ trực tiếp với quản lý cấp cao và hội đồng quản trị - Thông báo bằng văn bản yêu cầu ngân hàng trình bày kế hoạch và thời gian để khôi phục các thiếu sót được xác định - Giám sát thường xuyên hơn các biện pháp mà ngân hàng thực hiện Giám sát/ rủi ro - Các cuộc kiểm tra, cuộc họp với hội đồng quản trị thường xuyên hơn - Yêu cầu sửa đổi kế hoạch kinh doanh hoặc sắp xếp quản trị - Yêu cầu cập nhật kế hoạch khôi phục - Hạn chế một số hoạt động kinh doanh hiện tại hoặc theo kế hoạch, hạn chế tăng trưởng bảng cân đối kế toán - Tăng yêu cầu về vốn, thanh khoản, hạn chế phân bổ vốn, giới hạn đòn bẩy chặt chẽ hơn - Tuyển dụng chuyên gia bên ngoài để đánh giá các lĩnh vực nhất định 16 Hành động bắt buộc/ rủi ro cấp - Sử dụng quyền hạn để ban hành chỉ thị thiết - Yêu cầu ngân hàng đệ trình và thực hiện kế hoạch khắc phục trong thời gian ngắn - Ngân hàng chứng minh các hành động khôi phục hoặc các hành động cưỡng chế chính thức đã được thực hiện Không khả thi/ giải quyết và chấm Chế độ giải quyết ngân hàng được kích hoạt dứt Bảng 1.

Tổng quan về cơ chế can thiệp sớm (Nguồn: BIS) Như vậy, qua các phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa về cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém như sau: Cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém là việc cơ quan có thẩm quyền tiến hành thực hiện các biện pháp can thiệp nhằm khắc phục những vấn đề yếu kém, giải quyết những khó khăn ban đầu của NHTM theo một trình tự, thủ tục nhất định, được kích hoạt khi NHTM không đáp ứng được ngưỡng an toàn theo quy định hoặc có những dấu hiệu chứng tỏ rằng hoạt động của ngân hàng đang gặp khó khăn và có nguy cơ sụp đổ, ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng. Đặc điểm cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém Cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém nhìn chung mang những đặc điểm sau đây: Một là, về đối tượng tác động: Đối tượng tác động của cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém là các NHTM – tổ chức kinh doanh tiền tệ với mục tiêu lợi nhuận là chủ yếu đang trong tình trạng “yếu kém” thể hiện qua việc có sự vi phạm các yêu cầu an toàn tối thiểu hoặc thỏa mãn các điều kiện khác mà chứng tỏ rằng hoạt động của NHTM đang gặp khó khăn và có nguy cơ sụp đổ. Tuy nhiên, không phải mọi NHTM yếu kém đều là đối tượng tác động của cơ chế can thiệp sớm. Chỉ những NHTM có khó khăn ở giai đoạn ban đầu, tức vấn đề mà NHTM gặp phải chưa trở nên nghiêm trọng và có khả năng khắc phục được thông qua các biện pháp can thiệp sớm mới được coi là đối tượng của cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém.

Hai là, về chủ thể tiến hành: Cơ chế can thiệp sớm đối với NHTM yếu kém 17 thường được tiến hành bởi cơ quan quản lý, giám sát NHTM, có thể là Ngân hàng trung ương hoặc cơ quan độc lập đặc biệt. Điều này hoàn toàn dễ hiểu vì xuất phát từ nhiệm vụ của mình là thực hiện kiểm tra, giám sát, theo dõi thường xuyên hoạt động của NHTM, đây là những chủ thể có các điều kiện để cập nhật và nắm bắt nhanh chóng hơn ai hết tình hình của NHTM cũng như có đủ chuyên môn để xác định và đưa ra giải pháp khắc phục tình trạng yếu kém của NHTM. Ba là, về mục đích: Mục đích của cơ chế can thiệp sớm đối với ngân hàng yếu kém là khắc phục điểm yếu của NHTM kịp thời nhằm đưa NHTM trở về trạng thái hoạt động ban đầu. Bởi lẽ, trong quá trình hoạt động, NHTM không thể tránh khỏi những rủi ro và khó khăn mà có thể khiến NHTM sụp đổ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Cải Tiến Pháp Luật Can Thiệp Sớm Đối Với Ngân Hàng Thương Mại Yếu Kém Tại Việt Nam" đề cập đến những vấn đề pháp lý và chính sách cần thiết để cải thiện tình hình của các ngân hàng thương mại yếu kém tại Việt Nam. Tác giả phân tích các khía cạnh pháp luật hiện hành và đề xuất các biện pháp can thiệp sớm nhằm bảo vệ hệ thống tài chính, giảm thiểu rủi ro cho nền kinh tế. Những điểm nổi bật trong tài liệu bao gồm việc xác định các tiêu chí đánh giá ngân hàng yếu kém, quy trình can thiệp và các lợi ích của việc cải cách pháp luật trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ hoàn thiện công tác xử lý nợ tồn đọng tại hệ thống ngân hàng ngoại thương Việt Nam, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách xử lý nợ tồn đọng trong ngân hàng. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ giải pháp nâng cao tính minh bạch thông tin trên báo cáo tài chính của ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của tính minh bạch trong báo cáo tài chính ngân hàng. Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở ra những góc nhìn mới về các vấn đề tài chính ngân hàng tại Việt Nam.