Chương 1: Những vấn đề cơ bản về nợ xấu của NHTM; Chương 2: Phân tích thực trạng nợ xấu và những nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu của các chi nhánh NHTM trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long; Chương 3: Một số giải pháp nhằm hạn chế nợ xấu của các chi nhánh NHTM trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long. CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY (1) Phạm Phú Nhân (2011), Nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng của NHTM, tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ số 10/2011, trang 29-31. Tác giả đã mã hóa 34 nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro tín dụng tại NHTM đưa ra ban đầu trong phiếu điều tra. Qua phân tích các nhân tố Explore Factor Analysis (EFA) và kiểm định Cronbach Alpha, tác giả tổng hợp các nhân tố chính và nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng rủi ro tín dụng tại các NHTM gồm có 5 nhân tố chính: áp lực chỉ tiêu; quy định quản lý tài sản tại địa phương; khách hàng chưa hợp tác và phê duyệt, kiểm soát thiếu chặt chẽ; ảnh hưởng môi trường kinh tế vĩ mô; chính sách cho vay thiếu khoa học.
(2) Võ Thị Hồng Nhung (2012), Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của các NHTM trên địa bàn thành phố Cần Thơ, luận văn thạc sĩ kinh tế. Luận văn nghiên cứu tổng quan về NHTM và rủi ro tín dụng. Tác giả tiến hành phân tích thực trạng hoạt động tín dụng và các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của các NHTM trên địa bàn thành phố Cần Thơ. Kế t quả phân tích hồ i quy Logistic nhị nguyên chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng bao gồ m : lãi suất, giá trị tài sản đảm bảo, số tiền vay, lợi nhuận trung bình trong năm của doanh nghiệp.
Kế t quả nghiên cứu là cơ sở cho viê ̣c đề xuấ t mô ̣t số giải pháp , kiế n nghi ̣nhằ m hạn chế rủi ro tín dụng của các NHTM trên địa bàn thành phố Cần Thơ. (3) Nguyễn Thị Xuân Trang (2009), Kiểm soát nợ xấu của hệ thống NHTM trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, luận văn thạc sĩ kinh tế. Luận văn nghiên cứu những cơ sở lý luận về NHTM và hoạt động của NHTM. Tác giả đánh giá và phân tích thực trạng nợ xấu của hệ thống NHTM trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2004 - 2008.
Cho thấy công tác quản trị rủi ro và quản lý chất lượng tín dụng của các ngân hàng đã có những bước tiến đáng kể. Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế nhất định cần khắc phục. Qua đó tác giả đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý rủi ro tín dụng của hệ thống NHTM trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. (4) Lê Thi ̣Anh Thư (2011), Giải pháp nâng cao an toàn vốn tại các NHTM cổ phần Việt Nam, luận văn thạc sĩ kinh tế.
Luận văn nghiên cứu tổng quan về NHTM và những vấn đề chung về vốn tự có. Tác giả tiến hành phân tić h các yế u tố ảnh hưởng đế n an toàn vố n. Kế t quả phân tić h hồ i quy chỉ ra nhóm các nhân tố tác đô ̣ng đế n an toàn vố n bao gồ m tổ ng tài sản huy đô ̣ng khách hàng /nguồ n vố n , tổ ng dư nơ ̣ cho vay / nguồ n vố n huy đô ̣ng; dự trữ thanh khoản /tổ ng tài sản, góp vốn đầu tư dài hạn/ tổ ng tài sản, chứng khoán đầ u tư/tổ ng tài sản. Kế t quả nghiên cứu là cơ sở cho viê ̣c đề xuấ t mô ̣t số giải pháp , kiế n nghi ̣nhằ m nân g cao an toàn vố n ta ̣i các NHTMCP, góp phần bảo đảm an toàn hoạt động cho hệ thống NHTM Việt Nam.
1 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NỢ XẤU CỦA NHTM 1.1 CÁC HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ CHỦ YẾU CỦA NHTM Hoạt động của các NHTM có nhiều loại nghiệp vụ khác nhau, trong đó có các nghiệp vụ chủ yếu như sau: 1.1 Nghiệp vụ tài sản có Với nguồn vốn có được, ngân hàng sử dụng cho các hoạt động sau: thiết lập dự trữ, cấp tín dụng, đầu tư tài chính, sử dụng vốn cho các mục đích khác. Trong đó cấp tín dụng bao gồm các nghiệp vụ cho vay (ngắn, trung và dài hạn); chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá; cho thuê tài chính; bảo lãnh, bao thanh toán,… 1.2 Nghiệp vụ tài sản nợ Là nghiệp vụ hình thành nên các nguồn vốn hoạt động của ngân hàng. Các nguồ n vố n của NHTM bao gồ m : vốn điều lệ và các quỹ , vốn huy động, nguồn vốn đi vay, nguồn vốn khác.3 Nghiệp vụ trung gian Đây là các dịch vụ mà khi ngân hàng cung cấp cho khách hàng sẽ nhận được các khoản hoa hồng và lệ phí như: dịch vụ ngân quy,̃ dịch vụ ủy thác. Trong các hoạt động nghiệp vụ của NHTM thì hoạt động cho vay luôn giữ vai trò quan trọng trong việc mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho các NHTM trong thời gian qua.
Tuy nhiên hoạt động này cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng, làm cho nợ xấu của các ngân hàng có nguy cơ tăng cao nếu công tác quản trị rủi ro không được các ngân hàng quan tâm đúng mức.2 NỢ XẤU VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN NỢ XẤU CỦA NHTM 1.1 Khái niệm nợ xấu Cho đến nay chưa có nhà nghiên cứu nào đưa ra một cách cụ thể lý luận về nợ xấu, thế nhưng theo một số tác giả, tổ chức thì ta có những khái niệm nợ xấu như sau: Nợ xấu là những khoản nợ quá hạn, nhưng ở cấp độ nghiêm trọng hơn, do đó được gọi là nợ xấu. Nợ xấu có thể gây ảnh hưởng nặng nề đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, do đó cần được theo dõi quản lý chặt chẽ. Nhóm chuyên gia tư vấn (AEG) của Liên hợp quốc cho rằng định nghĩa về nợ xấu không nên mang tính chất mô tả mà chỉ nên được sử dụng như hướng dẫn cho các ngân hàng (AEG, 2004). AEG thống nhất định nghĩa “về cơ bản, một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”.
Nói cách khác, nợ xấu được xác định dựa trên hai yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày; và (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ. Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng (BCBS) không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu. Tuy nhiên, trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả (adefault) khi một trong hai hoặc cả hai 3 điều kiện sau xảy ra: (i) ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để gắng thu hồi ví dụ như giải chấp chứng khoán (nếu đang nắm giữ); (ii) người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày (Basel Committee on Banking Supervision, 2002). BCBS đặc biệt nhấn mạnh tới khái niệm “mất mát có thể xảy ra trong tương lai” (expected loss) khi đánh giá một khoản vay.
Dựa trên hướng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ. Tuy nhiên, một vài quốc gia báo cáo nợ xấu bao gồm các khoản nợ quá hạn 31 ngày quá hạn, hoặc báo cáo các khoản nợ quá hạn 61 ngày được tính vào danh mục nợ xấu (Bloem & Gorter, 2004). Chính vì mốc thời gian quá hạn 90 ngày là một tiêu chí khá phổ biến nhưng không phải thống nhất hoàn toàn, việc đánh giá và so sánh số liệu nợ xấu giữa các quốc gia cần phải hết sức thận trọng và được kiểm tra kỹ lưỡng các quy định cụ thể định tính và định lượng ở từng quốc gia. Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) về ngân hàng thường đề cập các khoản nợ bị giảm giá trị (impaired) thay vì sử dụng thuật ngữ nợ xấu (nonperforming).
Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 39 (đoạn 58 - 70) được khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển vào đầu năm 2005 chỉ ra rằng cần có bằng chứng khách quan (objective evidence) để xếp một khoản vay có dấu hiệu bị giảm giá trị. Trong trường hợp nợ bị giảm giá trị thì tài sản được ghi nhận sẽ bị giảm xuống vì những tổn thất do chất lượng nợ xấu gây ra. Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng cũng đề cập đến các khoản vay bị giảm giá trị sẽ xảy ra khi khả năng thu hồi các khoản thanh toán từ khoản vay là không thể. Giá trị tổn thất gây ra sẽ được ghi nhận bằng cách giảm trừ giá trị khoản vay thông qua một khoản dự phòng và sẽ được phản ánh trên báo cáo thu nhập của ngân hàng.
Như vậy, lãi suất của các khoản vay này sẽ không được cộng dồn (accrued) và sẽ chỉ xuất hiện dưới dạng tiền mặt thực tế 4 nhận được. Về cơ bản, IAS 39 chú trọng tới khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn. Phương pháp để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thường là phương pháp phân tích dòng tiền tương lai chiết khấu hoặc xếp hạng khoản vay của khách hàng. Hệ thống này được coi là chính xác về mặt lý thuyết, nhưng việc áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn.
Vì vậy, nó vẫn đang được Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế chỉnh sửa lại trong IFRS 9 (Đinh Vân, 2008). Trong Hướng dẫn để tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia (FSIs), Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) đưa ra định nghĩa về nợ xấu tại đoạn 4.85 “một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy các dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (ví dụ khi người vay phá sản).