chương 1 Trong chƣơng 1 tác giả đã dựa trên thực trạng hoạt động của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn từ 2007 - 2019 để nêu lên tầm quan trọng cần thiết phải có thêm nghiên cứu về vai trò của cạnh tranh, tập trung với ổn định tài chính của các NHTM. Bên cạnh đó tác giả cũng đƣa ra lỗ hổng trong các nghiên cứu thực nghiệm đi trƣớc đặc biệt là trong nƣớc để thấy đƣợc sự cần thiết của nghiên cứu. Từ đây tác giả đã xây dựng mục tiêu, câu hỏi cũng nhƣ phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa mà nghiên cứu mong muốn đạt đƣợc. 6 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 nghiên cứu tập trung giới thiệu cơ sở lý thuyết về tập trung, cạnh tranh và ổn định tài chính.
Từ đó xây dựng các giả thuyết cần nghiên cứu về ảnh hưởng của cạnh tranh, tập trung đến ổn định tài chính của các NHTM dựa trên cơ sở lý thuyết và mối quan hệ giữa cạnh tranh, tập trung và ổn định tài chính của các NHTM. Phần cuối của chương sẽ đưa ra các nghiên cứu trong và nước đã nghiên cứu về mối quan hệ này.1 Lý thuyết cạnh tranh và các phƣơng pháp đo lƣờng cạnh tranh 2. Lý thuyết cạnh tranh Lý thuyết cạnh tranh theo tiếp cận truyền thống Theo Frank và Bernanke (2004) dựa trên lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển mà cạnh tranh đƣợc tiếp cận ở dạng tĩnh với bốn dạng cấu trúc thị trƣờng chính: Cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh độc quyền, độc quyền và độc quyền nhóm. - Cạnh tranh hoàn hảo là hình thức cạnh tranh mà không có cá nhân nhà cung cấp nào tác động đáng kể lên giá cả thị trƣờng sản phẩm - Cạnh tranh độc quyền là hình thức cạnh tranh trong đó nhiều nhà sản xuất bán các sản phẩm đƣợc phân biệt với nhau mà gần nhƣ thay thế sản phẩm khác - Độc quyền là chỉ có một nhà cung cấp duy nhất sản xuất mà gần nhƣ không có sản phẩm thay thế - Độc quyền nhóm là hình thức mà một công ty sản xuất một sản phẩm mà chỉ một vài đối thủ sản xuất sản phẩm thay thế.
Lý thuyết cạnh tranh theo tiếp cận mới Dựa trên lý thuyết cạnh tranh của trƣờng phái Áo mà cạnh tranh đƣợc tiếp cận ở dạng động. Theo Hayek (1978) không có cạnh tranh hoàn hảo trong lý thuyết tân cổ điển của cạnh tranh. Cạnh tranh đơn giản là hành vi ganh đua giữa các cá nhân và đƣợc xem là động lực để cố gắng đƣa ra phƣơng thức tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh của mình. Lý thuyết cạnh tranh động cho rằng kiến thức và thông tin là không hoàn hảo, doanh nhân đóng vai trò trung tâm trong mô hình cạnh tranh động.
Quá trình động đƣợc xem là quyết định của ngƣời tiêu dùng, doanh nghiệp và chủ sở hữu tài 7 nguyên. Trong đó, doanh nhân là ngƣời tƣơng tác giữa ngƣời tiêu dùng và ngƣời sở hữu nguồn lực nên quyết định của doanh nhân hƣớng đến tạo ra một sự phân bổ nguồn lực khan hiếm trong dài hạn. Cạnh tranh dẫn đến cải tiến: Giới thiệu sản phẩm và đổi mới sản phẩm, chinh phục thị trƣờng mới cho đầu vào đầu ra, tái tổ chức và sắp xếp lại sản phẩm,. Hai nhà kinh tế học Nordhaus và Samuelson (2000) cho rằng: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng hoặc thị trƣờng”.
Hai tác giả này cho rằng cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo. Môi trƣờng cạnh tranh hoàn hảo là khi mà mọi hành vi của cá nhân đều không ảnh hƣởng tới giá cả thị trƣờng và thị trƣờng này có rất nhiều ngƣời bán và ngƣời mua. Các phương pháp đo lường cạnh tranh Theo tiếp cận truyền thống Theo cách tiếp cận truyền thống, chỉ số H hay còn đƣợc gọi là thống kê H đƣợc phát triển dựa trên lý thuyết của Panzar và Rosse (1987). Chỉ số H có giá trị trong khoảng [0;1 với ý nghĩa khi chỉ số H tiến dần đến 0 thì thị trƣờng là cạnh tranh hoàn hảo và ngƣợc lại chỉ số H tiến dần đến 1 thì thị trƣờng là cạnh tranh độc quyền, chỉ số này đƣợc sử dụng trong các nghiên cứu liên quan đến tác động của cạnh tranh ngân hàng đến ổn định tài chính (Yuan, 2006; Goddard và cộng sự, 2012).
ên cạnh chỉ số H, hệ số Lerner cũng là phƣơng pháp truyền thống đo lƣờng sức mạnh thị trƣờng và đƣợc sử dụng chủ yếu trong việc đo lƣờng mức độ cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng phát triển bởi Lerner (1934), hệ số Lerner đánh giá trực tiếp về sức mạnh thị trƣờng thông qua sự khác biệt giữa giá và chi phí biên (Tusha và Hashorva, 2015). Hệ số Lerner liên quan đến phƣơng pháp tiếp cận phi cấu trúc trong việc đánh giá cạnh tranh ngân hàng. Đây là chỉ số đánh giá trực tiếp về sức mạnh thị trƣờng của ngân hàng nhờ vào việc tập trung đánh giá sức mạnh về giá thông qua sự khác biệt giữa giá và chi phí biên (Tusha và Hashorva, 2015). Cụ thể, hệ số Lerner đƣợc phát triển bởi Lerner (1934) và đƣợc định nghĩa là chênh lệch giữa giá đầu ra và chi phí biên của ngân hàng.
Nó thể hiện việc công ty có thể định giá sản phẩm cao hơn chi phí biên (Berger và cộng sự, 2009). Hệ số Lerner cho thấy sức mạnh thị trƣờng của công ty nằm trong khoản nào giữa mức cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh độc quyền, đồng thời xem xét vai trò của độ co giãn của cầu đối 8 với khả năng tăng giá của công ty. Hệ số Lerner đƣợc sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu thực nghiệm của Carbó và cộng sự (2009), Beck và cộng sự (2013), Fungacova và cộng sự (2013) hay Tabak và cộng sự (2012). Hệ số Lerner đƣợc tính toán nhƣ sau: Hệ số Lerner là kết quả của giá trị trung bình trong giai đoạn nghiên cứu của ngân hàng i đƣợc xác định bằng tỷ lệ của sự chênh lệch giá và chi phí biên chia cho giá, hệ số này đƣợc thể hiện bằng công thức: P it M C it L e r n e rit P it trong đó: Pi,t là giá đầu ra của ngân hàng i tại thời điểm t đƣợc tính bằng tổng doanh thu trên tổng tài sản MCi,t là chi phí biên của ngân hàng i tại thời điểm t Nếu Lerner = 0 thì thị trƣờng là cạnh tranh hoàn hảo và ngƣợc lại nếu Lerner = 1 thì thị trƣờng là độc quyền.
Do chi phí biên của ngân hàng không quan sát đƣợc trực tiếp nên MC đƣợc tính bằng công thức đạo hàm của tổng chi phí ngân hàng. Tổng chi phí của ngân hàng đƣợc tính bằng công thức logarit của chi phí với 1 yếu tố đầu ra là tổng tài sản (Qi,t) và 3 yếu tố đầu vào (wi) là giá cả đầu vào đƣợc xem xét là giá cả lao động (w1) tính bằng chi phí nhân viên/tổng tài sản, giá vốn vật chất (w2) tính bằng chi phí ngoài lãi/tài sản cố định và giá vốn tiền gửi (w3) tính bằng chi phí lãi/tổng tiền gửi. Cụ thể, công thức tính tổng chi phí nhƣ sau: 3 3 3 3 1 ln Cost = b0 + b1 ln Q + b2 ln Q + å g i ln Wi + å f i ( ln Q ln Wi ) + å å ln Wi ln Wj 2 2 i=1 i=1 i=1 =1 1 3 + å l i ( ln Wi ) + e 2 2 i=1 Từ đó, phƣơng trình chi phí biên đƣợc tính bằng cách lấy đạo hàm cấp 1 của hàm tổng chi phí, cụ thể: C ost 3 MC 1 2 ln Q i ln W i Q i 1 Hệ số Lerner đƣợc các học giả sử dụng rất nhiều trong nghiên cứu thực nghiệm về cạnh tranh ngân hàng do phƣơng pháp này ƣớc lƣợng theo từng năm và 9 cho từng loại hình sở hữu khác nhau của mỗi ngân hàng. Hệ số Lerner giúp kết quả đo lƣờng giảm tính xu hƣớng theo chu kỳ thời gian (Berger và cộng sự, 2009), mặt khác hệ số này có thể đƣợc tính toán tại bất kỳ thời điểm nào do nó không đo lƣờng cạnh tranh dựa trên cân bằng dài hạn (Anginer và cộng sự, 2014) và điều nổi bật là có thể ƣớc lƣợng năng lực cạnh tranh cho các loại hình sở hữu ngân hàng khác nhau (Tan và Floros, 2013).
Hệ số Lerner cho thấy sức mạnh thị trƣờng của công ty nằm trong khoảng nào giữa mức cạnh tranh hoàn hảo và độc quyền, đồng thời xem xét vai trò của độ co giãn của cầu đối với khả năng tăng giá của công ty. Nếu hệ số Lerner = 0 thì thị trƣờng là cạnh tranh hoàn hảo và ngƣợc lại, nếu Lerner = 1 thì thị trƣờng là độc quyền. Hệ số Lerner đƣợc sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu thực nghiệm của erger và cộng sự (2009), Tabak và cộng sự (2012), eck và cộng sự (2013), Fungacova và Weill (2013), Anginer và cộng sự (2014) hay Kasman và Kasman (2015). Theo tiếp cận mới Chỉ số oone là chỉ số đo lƣờng cạnh tranh theo phƣơng pháp mới, chỉ số oone đại diện cho giả thuyết cấu trúc – hiệu quả dựa trên cơ sở của lý thuyết hiệu quả đƣợc phát triển bởi Demsetz.
oone (2008) đề xuất một mô hình mới để đo lƣờng mức độ cạnh tranh; ý tƣởng cơ bản của mô hình là các ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn sẽ giành đƣợc thị phần và tăng lợi nhuận hơn là các ngân hàng kém hiệu quả. Cạnh tranh sẽ tăng cƣờng hiệu quả của các ngân hàng hoạt động hiệu quả và làm suy yếu những ngân hàng kém hiệu quả hơn, hiệu quả này sẽ cao hơn khi cạnh tranh trên thị trƣờng mạnh mẽ hơn. Nếu chỉ số oone mang giá trị âm nghĩa là ngân hàng có chi phí biên càng cao thì lợi nhuận càng nhỏ, ngƣợc lại nếu chỉ số oone mang giá trị tuyệt đối thì hệ số này càng lớn chứng tỏ cạnh tranh giữa các ngân hàng càng mạnh ( oone, 2008; Phan Thị Thơm và Thân Thị Thu Thủy, 2015). Chỉ số oone đƣợc sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu của Leuvensteijn và cộng sự (2011), Tabak và cộng sự (2012), Schaeck và Cihák (2014), Kasman và Kasman (2015).
Với các cách tiếp cận khác nhau trong lý thuyết cạnh tranh dẫn đến việc đo lƣờng cạnh tranh cũng dựa trên các chỉ số khác nhau (chỉ số H, chỉ số Lerner, chỉ số oone) nhƣng các chỉ số này hoàn toàn không có sự trùng lắp bởi mỗi chỉ số phản ánh một hƣớng khác biệt của cạnh tranh (Carbó và cộng sự, 2009).