Chương 1: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan. Chương 2: Thực trạng về NLCT về hoạt động NHBL tại BIDV Bình Tân. Chương 3: Các giải pháp triển vọng và kế hoạch thực hiện nhằm nâng cao NLCT trong hoạt động NHBL tại BIDB Bình Tân. 5 HƯƠN 1: Ơ SỞ LÝ HUYẾ ỔN QUAN N H ÊN ỨU LIÊN QUAN 1.
Lý thuyết về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 1. Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh là một thuật ngữ rất phổ biến trong kinh tế, là một đặc trưng của nền kinh tế sản xuất hàng hóa và là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau.Nordhaus (1948) [47]: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp với nhau để giành khách hàng hoặc thị trường”, còn với quan điểm của Michael Porter (1990) [45]: “Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có”. Nhìn chung cạnh tranh được nhiều các học giả nghiên cứu ở các góc độ khác nhau, nhưng cho đến nay có hai cách tiếp cận phổ biến nhất là: Theo Michael Porter (1996) [46] thì: “Cạnh tranh là giành lấy thị phần.
Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi”; và theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (2014) [21]: “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung - cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”. Khái niệm về năng lực cạnh tranh Theo quan niệm Nguyễn Bách Khoa (2004) [13] cho rằng, “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu là tích hợp các khả năng và nguồn nội lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó trong mối quan hệ với đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm tàng trên một thị trường mục tiêu xác định" Trên thực tế đang có nhiều quan điểm khác nhau về NLCT của doanh nghiệp, nhưng tựu chung có thể hiểu NLCT theo định nghĩa của Từ điển Bách khoa Việt Nam (2014) [21]: "Năng lực cạnh tranh là khả năng của một mặt hàng, một 6 đơn vị kinh doanh, hoặc một nước giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ. Một mặt hàng có năng lực cạnh tranh là mặt hàng có thể thu hút được nhiều người mua hơn những hàng hoá cùng loại đang được tiêu thụ trên thị trường.
năng lực cạnh tranh dựa trên nhiều yếu tố: giá trị sử dụng và chất lượng sản phẩm cao, điều kiện sản xuất ổn định do sản xuất dựa chủ yếu trên cơ sở kĩ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến, quy mô sản xuất lớn và nhờ đó giá thành và giá cả sản phẩm hạ. Các yếu tố xã hội như giữ được tín nhiệm (chữ tín) trên thị trường, việc tuyên truyền, hướng dẫn tiêu dùng, quảng cáo cũng có ảnh hưởng quan trọng. Ở nhiều nước, các nhà sản xuất còn sử dụng một số hình thức như bán hàng trả tiền dần (trả góp) để kích thích tiêu dùng, trên cơ sở đó tăng năng lực cạnh tranh" 1. Quan niệm về năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng có đặc điểm chung với cạnh tranh giữa những người sản xuất (cạnh tranh giữa các doanh nghiệp) trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ nhưng cũng có một số đặc điểm khác biệt do bản chất ngân hàng là tổ chức kinh doanh tiền – một loại hàng hóa khác biệt so với các hàng hóa khác.
Trong lĩnh vực tài chính ngân hàng có nhiều những khái niệm về NLCT của NHTM: Theo Nguyễn Thanh Phong (2010) [14] đã định nghĩa: “Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng mà do chính ngân hàng tạo ra trên cơ sở duy trì và phát triển những lợi thế vốn có, nhằm củng cố và mở rộng thị phần; gia tăng lợi nhuận và có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh” Trong nghiên cứu này, NLCT của NHTM được hiểu theo định nghĩa của Nguyễn Văn Thụy (2015) [12] như sau: “Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng sử dụng, phối hợp các nguồn lực, khả năng nhằm duy trì và tạo ra lợi thế của mình so với đối thủ cạnh tranh và đạt được các mục tiêu đề ra trong môi trường kinh doanh luôn thay đổi”. Lý thuyết về hoạt động ngân hàng bán lẻ 1. Khái niệm Theo Jean Paul Votron (2007) [39]: “Bán lẻ chính là vấn đề của phân phối, trong đó triển khai các hoạt động tìm hiểu, xúc tiến, nghiên cứu, thử nghiệm, phát hiện và phát triển các kênh phân phối hiện đại- mà nổi bật là kinh doanh qua mạng. Dịch vụ bán lẻ bao gồm ba lĩnh vực chính: thị trường, các kênh phân phối, dịch vụ và đáp ứng dịch vụ”.
Hiện nay chưa có sự nhất quán trong việc định nghĩa về dịch vụ NHBL. Các khái niệm về dịch vụ NHBL thường dựa trên đối tượng khách hàng mà các sản phẩm hướng tới hoặc loại hình dịch vụ cung ứng. Trong Luật các Tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2010, và Luật sửa đổi năm 2017 cũng không đề cập định nghĩa dịch vụ ngân hàng bán lẻ. Chỉ định nghĩa về hoạt động ngân hàng tại Khoản 12, Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2010 [18].
Theo Từ điển Tài chính - Đầu tư - Ngân hàng - Kế toán Anh Việt (1999) [22]: “Dịch vụ NHBL (Retail Banking is banking services for individual consumers) là các dịch vụ ngân hàng được thực hiện với khách hàng là công chúng, thường có quy mô nhỏ và thông qua các chi nhánh nhằm đối lập với dịch vụ ngân hàng bán buôn là dịch vụ ngân hàng dành cho các định chế tài chính và những dịch vụ ngân hàng được cung cấp với số lượng lớn”. Theo Nguyễn Đại lai (2007) [7] thì: “Dịch vụ NHBL là những dịch vụ cung ứng tiện ích cũng như tín dụng NH đến tận tay người tiêu dùng (tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng cho sinh hoạt). Đối tượng khách hàng của dịch vụ NHBL do đó vô cùng lớn gồm công dân, các NH nhỏ và vừa cùng những dịch vụ NH phi tín dụng cho các Tập đoàn, NH lớn. Theo cách hiểu phổ biến nhất, NHBL là hoạt động cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính chủ yếu cho khách hàng là các cá nhân, các hộ gia đình và các NHNVV” Từ những định nghĩa đã được nêu bên trên, chúng ta có thể khái quát lại khái niệm về dịch vụ NHBL như sau: 8 Dịch vụ NHBL là hoạt động cung cấp các dịch vụ ngân hàng (Từ điển Tài chính - Đầu tư - Ngân hàng - Kế toán Anh Việt, 1999) [22], cung cấp sản phẩm dịch vụ tài chính chủ yếu cho khách hàng là các cá nhân, các hộ gia đình và các doanh nghiệp vừa và nhỏ (Nguyễn Đại Lai, 2007) [7] 1.2 Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ được liệt kê trong luận văn là những hoạt động NHBL cho các cá nhân, các hộ gia đình và các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Theo Nguyễn Trọng Tài (2008) [11] thì sản phẩm, dịch vụ NHBL tương đối đa dạng gồm: - Nhóm sản phẩm huy động + Tài khoản ngân hàng và các dịch vụ đi kèm gồm dịch vụ trả lương, thanh toán các dịch vụ thường xuyên khác như: ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, ATM, dịch vụ thấu chi, thanh toán tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại,. Việc ra đời tài khoản giao dịch là một trong những bước đi quan trọng của công nghiệp ngân hàng vì nó đã góp phần nâng cao hiệu quả của giao dịch thanh toán, giúp cho các giao dịch ngân hàng trở nên nhanh chóng, thuận tiện và an toàn. + Dịch vụ tiết kiệm: Tiết kiệm là một loại dịch vụ ngân hàng cung cấp cho khách hàng, nó có thể được coi như một quỹ sinh lời trong khoảng thời gian nhiều tuần, nhiều tháng hoặc nhiều năm. Các loại hình tiết kiệm được cung cấp phổ biến tại các ngân hàng là: Tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiết kiệm bằng vàng, USD, VND… + Dịch vụ quản lý vốn tập trung: Các doanh nghiệp có nguồn thu tiền từ nhiều tài khoản khác nhau trong cùng hệ thống có thể sử dụng hệ thống quản lý vốn tập trung theo đó, khi các số dư trên các tài khoản lẻ ở các chi nhánh vượt khỏi hạn mức đả định, ngân hàng sẽ tự động chuyển phần chên lệch đó về tài khoản tập trung vốn.
Tài khoản tập trung vốn là tài khoản sinh lời, có lãi suất thấp. - Nhóm sản phẩm đầu tư + Mở tài khoản đầu tư tư động: Với dịch vụ đầu tư tự động, khi số dư tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng doanh nghiệp vượt quá một mức nhất định theo thỏa thuận trước, phần số dư sẽ tự động được chuyển sang tài khoản đầu 9 tư để được hưởng lãi suất cao hơn. Khi số dư tài khoản thanh toán còn thiếu, phần thiếu sẽ tự động chuyển ngược từ tài khoản đầu tư về tài khoản thanh toán. Dịch vụ này được các doanh nghiệp đón nhận tích cực vì nó đảm bảo cho khoản tiền gửi tại ng6an hàng sinh lời nhiều hơn.
+ Quỹ tương hỗ và trợ cấp: Các tài khoản tiền gửi trợ cấp thường có lãi suất thấp, nên để tìm kiếm thêm lợi nhuận, nhiều khách hàng đã hướng đến việc sử dụng các sản phẩm đầu tư, đặt biệt là các tài khoản của quỹ tương hỗ. Quỹ tương hỗ bao gồm các chương trình đầu tư được quản lý một cách chuyên nghiệp (có thể là trái phiếu, cổ phiếu, chứng khoán. - Đối với nhóm sản phẩm cho vay gồm: + Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh với quy mô nhỏ. Phương thức cho vay này nhằm hỗ trợ nguồn vốn kinh doanh cho các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Các khách hàng muốn có được các khoản này phải có tài sản thế chấp, chứng minh được tình hình kinh doanh ổn định và có phương án kinh doanh hiệu quả.