Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Năm 2006 đánh dấu sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Việc gia nhập tổ chức kinh tế toàn cầu này tạo ra tác động sâu rộng đến toàn bộ các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, trong đó ngành tài chính - ngân hàng chịu tác động trực tiếp và mạnh mẽ. Bên cạnh các cơ hội mở rộng thị trường, trao đổi và hợp tác quốc tế về tài chính - tiền tệ, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt từ các ngân hàng nước ngoài có tiềm lực tài chính lớn, công nghệ hiện đại và bề dày kinh nghiệm quản trị. Trong bối cảnh đó, việc đánh giá thực trạng và xây dựng các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho hệ thống ngân hàng thương mại là yêu cầu cấp thiết để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của hệ thống tài chính quốc gia.
Đề tài "Nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế" được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa các cơ sở lý luận cơ bản về ngân hàng thương mại, vai trò, chức năng và tính đặc thù của năng lực cạnh tranh ngân hàng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
- Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2002 - 2006 trên các phương diện: năng lực tài chính, năng lực hoạt động, tổ chức bộ máy quản trị và trình độ công nghệ thông tin; chỉ rõ những điểm mạnh và hạn chế nội tại.
- Đề xuất phương hướng, mục tiêu và hệ thống giải pháp đồng bộ kèm theo các kiến nghị đối với Quốc hội, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đến năm 2010.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam (bao gồm nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài). Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian hoạt động của thị trường ngân hàng Việt Nam trong mối tương quan hội nhập quốc tế, với dữ liệu thực trạng được thu thập và phân tích chủ yếu trong giai đoạn 2002 - 2006, cùng tầm nhìn định hướng giải pháp đến năm 2010.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Đề án xây dựng hệ thống lý luận dựa trên các khái niệm và chuẩn mực pháp lý về ngân hàng thương mại:
- Định nghĩa ngân hàng thương mại: Văn bản tiếp cận khái niệm từ nhiều góc độ pháp luật và kinh tế học:
- Theo Luật Ngân hàng của Pháp: Ngân hàng thương mại là cơ sở thường xuyên nhận ký thác của công chúng để sử dụng vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hoặc dịch vụ tài chính.
- Theo luật pháp Ấn Độ: Ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay, tài trợ và đầu tư.
- Theo Giáo sư Peter Rose: Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp danh mục dịch vụ tài chính đa dạng nhất (đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, thanh toán) và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất trong nền kinh tế.
- Theo Luật Các tổ chức tín dụng Việt Nam: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
- Phân loại tổ chức tín dụng: Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng, các loại hình hoạt động tại Việt Nam gồm: Ngân hàng thương mại, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các hình thức khác.
- Khung chức năng và hoạt động cốt lõi: Gồm 3 hoạt động cơ bản (huy động vốn, sử dụng vốn, dịch vụ trung gian) và 3 chức năng trung tâm (trung gian thanh toán, trung gian tín dụng/tài chính, chức năng tạo tiền qua cơ chế bút tệ).
- Mô hình lực lượng cạnh tranh ngân hàng: Xác định 4 nhóm nhân tố khách quan (tác nhân mới tham gia thị trường, đối thủ cạnh tranh hiện tại, sức ép từ phía khách hàng gửi/vay vốn, sự xuất hiện dịch vụ tài chính mới từ các tổ chức phi ngân hàng) và 6 nhóm nhân tố chủ quan nội tại (năng lực điều hành của ban lãnh đạo, quy mô vốn và tài chính, công nghệ cung ứng dịch vụ, chất lượng nhân viên, cấu trúc tổ chức, uy tín thương hiệu).
Phương pháp nghiên cứu được tác giả áp dụng là phương pháp phân tích kinh tế tổng hợp, phương pháp thống kê mô tả, phân tích định tính và so sánh đối chiếu số liệu thứ cấp. Nguồn dữ liệu sử dụng trong đề tài được trích xuất từ các báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990, Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Các tổ chức tín dụng), các tài liệu giáo trình của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân và văn kiện kinh tế - xã hội liên quan.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại trong điều kiện hội nhập
Chương 1 tập trung làm rõ bản chất kinh tế, chức năng và vai trò của hệ thống ngân hàng thương mại, đồng thời phân tích tính chất đặc thù của cạnh tranh trong lĩnh vực tiền tệ:
- Vai trò của NHTM trong nền kinh tế thị trường:
- Cung cấp vốn cho nền kinh tế, khắc phục tình trạng thiếu hụt và không khớp nhịp giữa cung - cầu vốn.
- Làm cầu nối đưa doanh nghiệp tiếp cận các yếu tố đầu vào và thị trường tiêu thụ.
- Đóng vai trò là công cụ truyền tải để Nhà nước điều tiết kinh tế vĩ mô thông qua các công cụ chính sách tiền tệ (dự trữ bắt buộc, thị trường mở, lãi suất).
- Làm cầu nối liên kết nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế thông qua các nghiệp vụ ngoại hối, thanh toán quốc tế và ủy thác đầu tư.
- Các chức năng cốt lõi: Phân tích chuyên sâu 3 chức năng nền tảng: chức năng trung gian thanh toán (tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt, gia tăng tốc độ luân chuyển vốn), chức năng trung gian tài chính/tín dụng (cầu nối giữa người thừa vốn và người thiếu vốn, xử lý rủi ro mất cân đối kỳ hạn) và chức năng tạo tiền (kết hợp giữa thanh toán và tín dụng để tạo bút tệ thay thế tiền mặt).
- Tính đặc thù của cạnh tranh ngân hàng: Cạnh tranh ngành ngân hàng mang tính chất bậc cao và nhạy cảm:
- Kinh doanh tiền tệ chịu tác động tức thì từ tâm lý xã hội và biến động vĩ mô; một rủi ro thanh khoản cục bộ có thể gây khủng hoảng niềm tin lan tỏa.
- Mối quan hệ đan xen giữa cạnh tranh và hợp tác phòng ngừa rủi ro hệ thống; các ngân hàng mở tài khoản cho nhau và cùng phục vụ mạng lưới khách hàng.
- Chịu sự quản lý và giám sát ngặt nghèo của Ngân hàng Trung ương nhằm bảo đảm an toàn hệ thống.
- Phụ thuộc chặt chẽ vào chuẩn mực quốc tế và hạ tầng công nghệ thông tin viễn thông.
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong quá trình hội nhập
Chương 2 tổng kết quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng từ khi ban hành hai Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990, chuyển đổi từ hệ thống một cấp sang hệ thống hai cấp, và đánh giá chi tiết năng lực cạnh tranh của các khối ngân hàng trong giai đoạn 2002 - 2006:
- Năng lực tài chính và quy mô vốn: Quy mô vốn chủ sở hữu của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam còn rất khiêm tốn so với các ngân hàng nước ngoài và khu vực.
| Nhóm ngân hàng |
Năm 2002: Số lượng (NH) |
Năm 2002: Tổng vốn CSH (Tỷ đồng) |
Năm 2002: Vốn BQ/NH (Tỷ đồng) |
Năm 2006: Số lượng (NH) |
Năm 2006: Tổng vốn CSH (Tỷ đồng) |
Năm 2006: Vốn BQ/NH (Tỷ đồng) |
Mức tăng BQ 2006/2002 (Lần) |
| NHTM Nhà nước |
5 |
6.670 |
1.334 |
5 |
18.397 |
3.680 |
- |
| NHTM Cổ phần đô thị |
27 |
2.450 |
91 |
22 |
5.958 |
271 |
2,97 |
| NHTM Cổ phần nông thôn |
21 |
98 |
- |
- |
- |
- |
- |
| Chi nhánh NH nước ngoài |
25 |
5.720 |
240 |
28 |
6.952 |
260 |
1,08 |
| Tổng cộng |
- |
16.090 |
- |
- |
33.043 |
- |
- |
- Khả năng phòng ngừa rủi ro và an toàn hệ thống:
- Tỷ lệ nợ quá hạn năm 2002 ở khối NHTM Nhà nước là 11,88%, toàn hệ thống là 10,09%. Chất lượng tín dụng của các ngân hàng trong nước chênh lệch lớn so với khối ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh.
- Hệ số an toàn vốn (CAR) bình quân của các NHTM Việt Nam ở mức dưới 5%, chưa đạt tỷ lệ an toàn tối thiểu theo thông lệ quốc tế và quy định của Ngân hàng Nhà nước (8%).
- Khả năng trích lập dự phòng rủi ro bị hạn chế do biên độ chênh lệch giữa tổng thu nhập và chi phí thấp.
- Khả năng sinh lời: Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) của các ngân hàng trong nước ở mức thấp (dưới 1%). Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) năm 2002 đạt: NHCT Việt Nam (8,89%), NHĐT&PT Việt Nam (6,56%), NHNo&PTNT Việt Nam (14,25%), mức bình quân khối NHTM đạt 12,10%. Lợi nhuận ngành ngân hàng đạt 9 - 10% trên vốn tự có, cao hơn mức 1 - 2% của ngành công nghiệp.
- Thị phần và cơ cấu hoạt động:
- Khối NHTM Nhà nước chiếm ưu thế vượt trội về thị phần huy động (73% năm 2002, 78,8% năm 2003) và tín dụng (trên 70%), trong khi khối cổ phần chỉ chiếm khoảng 10%/năm.
- Hệ số đòn bẩy huy động vốn (tài sản nợ/vốn chủ sở hữu) của khối NHTM Nhà nước ở mức rất cao (hơn 40 lần), trong khi nhóm ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài duy trì ở mức an toàn 6,5 lần.
- Nguồn vốn huy động dưới dạng tiền gửi chiếm 94% tổng nguồn vốn; thu nhập từ cấp tín dụng chiếm hơn 80% tổng thu nhập. Tỷ lệ chuyển đổi nguồn vốn huy động ngắn hạn cho vay trung và dài hạn lên tới khoảng 50%, tiềm ẩn rủi ro lệch kỳ hạn nghiêm trọng.
- Đánh giá điểm mạnh và điểm yếu:
- Điểm mạnh: Mạng lưới chi nhánh rộng khắp cả nước, có lượng khách hàng truyền thống lâu năm, am hiểu tập quán và tâm lý khách hàng bản địa.
- Hạn chế: Năng lực tài chính và vốn tự có nhỏ bé (tổng vốn của 5 NHTM Nhà nước chỉ tương đương một ngân hàng cỡ trung bình trong khu vực); sản phẩm đơn điệu, cạnh tranh chủ yếu bằng lãi suất; cơ chế quản trị rủi ro và quản trị tài sản Nợ - Có chưa theo chuẩn mực hiện đại; trình độ công nghệ thông tin và chất lượng nhân sự còn khoảng cách lớn so với các định chế nước ngoài.
Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống NHTM Việt Nam đến năm 2010
Chương 3 xác định mục tiêu tổng quát là hoàn thành cơ bản công tác cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng trước năm 2010, đưa hệ thống đạt trình độ trung bình tiên tiến trong khu vực ASEAN và vận hành theo nguyên tắc thị trường:
- Hệ thống chỉ tiêu tiền tệ và hoạt động giai đoạn 2006 - 2010:
- Kiểm soát lạm phát ở mức thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế.
- Tốc độ tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán ($M_2$) bình quân đạt 18 - 20%/năm; tỷ lệ $M_2$/GDP đạt 100 - 115% vào cuối năm 2010.
- Tỷ trọng tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng/$M_2$ giảm xuống không quá 18% vào năm 2010.
- Tăng trưởng tín dụng bình quân đạt 18 - 20%/năm.
- Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) đạt không dưới 8% vào năm 2010.
- Các nhóm giải pháp nâng cao năng lực từ nội bộ ngân hàng:
- Tăng cường năng lực tài chính: Bổ sung vốn điều lệ cho các NHTM Nhà nước thông qua phát hành cổ phiếu hoặc bán và thuê lại tài sản; xử lý dứt điểm nợ tồn đọng. Thực hiện tăng vốn đối với NHTM cổ phần thông qua phát hành thêm cổ phần, sáp nhập, hợp nhất các ngân hàng yếu kém hoặc thu hồi giấy phép nếu không đạt chuẩn an toàn.
- Hiện đại hóa công nghệ: Tăng cường đầu tư hệ thống phần mềm nghiệp vụ trực tuyến (Core Banking), thiết lập hệ thống máy chủ dự phòng thảm họa, phát triển hạ tầng thẻ thanh toán nội địa và mạng lưới máy ATM.
- Đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ: Phát triển các nghiệp vụ phi tín dụng, thanh toán điện tử, tư vấn đầu tư, dịch vụ phái sinh, thanh toán quốc tế và tài trợ thương mại; giảm tỷ trọng phụ thuộc vào biên lãi thuần.
- Cải cách quản trị điều hành và nhân sự: Văn bản hóa và chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ; đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ tham gia đàm phán quốc tế, thanh tra giám sát và vận hành công nghệ.
- Hệ thống kiến nghị vĩ mô:
- Kiến nghị Quốc hội: Xây dựng mô hình Ngân hàng Nhà nước trở thành ngân hàng trung ương hiện đại; sửa đổi, bổ sung Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật Các tổ chức tín dụng; nghiên cứu tách biệt thành các luật chuyên biệt (Luật Ngân hàng thương mại và Luật Các tổ chức tài chính phi ngân hàng); bảo đảm tính độc lập, minh bạch và xóa bỏ cơ chế xin - cho.
- Kiến nghị Chính phủ: Đẩy mạnh cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước nhằm xử lý gốc rễ rủi ro nợ xấu; ban hành Luật Cạnh tranh và kiểm soát độc quyền; xác lập lộ trình tự do hóa tài chính thận trọng sau cải cách thương mại.
- Kiến nghị Ngân hàng Nhà nước: Thành lập Ban Điều hành thị trường tiền tệ; nâng cao chất lượng dự báo tiền tệ bằng mô hình kinh tế lượng; đổi mới công tác thanh tra giám sát theo chuẩn mực Basel I và tiêu chuẩn xếp hạng CAMEL(S); đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa các NHTM Nhà nước; điều chỉnh cơ chế trích lập quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ linh hoạt (tối thiểu 5% lợi nhuận sau thuế).
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã phác thảo toàn diện bức tranh về hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam ở giai đoạn bản lề khi đất nước chính thức bước vào sân chơi WTO:
- Kết quả lượng hóa thực trạng: Đề tài cung cấp hệ thống số liệu cụ thể phản ánh rõ những điểm nghẽn về cấu trúc tài chính: hệ số an toàn vốn thấp dưới 5%, tỷ lệ đòn bẩy huy động vốn của các NHTM Nhà nước ở mức rất cao (>40 lần), sự mất cân đối kỳ hạn khi 50% vốn ngắn hạn được chuyển đổi cho vay trung dài hạn, và mức độ phụ thuộc lớn vào tín dụng truyền thống (chiếm trên 80% thu nhập).
- Giải pháp đề xuất: Thiết lập lộ trình cụ thể để đưa tỷ lệ an toàn vốn (CAR) đạt mức tối thiểu 8% vào năm 2010; định hướng cơ cấu lại thông qua cổ phần hóa NHTM Nhà nước và tái cấu trúc/sáp nhập khối NHTM cổ phần.
- Đóng góp về mặt chính sách: Đề xuất hệ thống kiến nghị đồng bộ mang tính cấu trúc: tách biệt các luật chuyên ngành điều chỉnh tổ chức kinh doanh tiền tệ, áp dụng chuẩn giám sát CAMEL(S) và chuẩn an toàn vốn Basel I, gắn liền cải cách ngân hàng với tiến trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Đề tài nghiên cứu một phạm vi rộng lớn của toàn bộ hệ thống ngân hàng trong giai đoạn đầu chuyển đổi hội nhập, do nguồn dữ liệu thời điểm 2006 còn nhiều hạn chế về mức độ công khai thông tin nên việc phân tích chi tiết từng nhóm chỉ tiêu rủi ro chuyên sâu chưa được triển khai đồng đều cho tất cả các ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng đánh giá tác động định lượng của các cam kết mở cửa dịch vụ tài chính sau WTO đối với thị phần bán lẻ của ngân hàng nội địa; nghiên cứu thực nghiệm việc triển khai các trụ cột quản trị rủi ro theo Hiệp ước Basel tại các ngân hàng thương mại cổ phần sau khi tiến hành cổ phần hóa và tăng vốn.
Giá trị tham khảo
Đề án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho sinh viên, học viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Tài chính Doanh nghiệp (TCDN), Quản trị Kinh doanh và Kinh tế Quốc tế. Nội dung nghiên cứu cung cấp tư liệu lịch sử và cơ sở dữ liệu quan trọng về thực trạng hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam trong giai đoạn 2002 - 2006, đồng thời là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu về tái cơ cấu hệ thống tài chính, quản trị rủi ro ngân hàng và hoạch định chính sách tiền tệ trong thời kỳ mở cửa kinh tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm Ngân hàng thương mại được định nghĩa như thế nào theo Luật Các tổ chức tín dụng Việt Nam nêu trong đề án?
Theo quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng được trích dẫn trong văn bản, Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
2. Thực trạng quy mô vốn chủ sở hữu của khối NHTM Nhà nước và NHTM cổ phần giai đoạn 2002 - 2006 có sự chênh lệch ra sao?
Năm 2002, 5 NHTM Nhà nước có tổng vốn chủ sở hữu là 6.670 tỷ đồng (bình quân 1.334 tỷ đồng/NH), đến năm 2006 tăng lên 18.397 tỷ đồng (bình quân 3.680 tỷ đồng/NH). Khối NHTM cổ phần đô thị năm 2002 có 27 ngân hàng với tổng vốn 2.450 tỷ đồng (bình quân 91 tỷ đồng/NH), đến năm 2006 giảm xuống còn 22 ngân hàng với tổng vốn 5.958 tỷ đồng (bình quân 271 tỷ đồng/NH, tăng gấp 2,97 lần). Tổng vốn chủ sở hữu toàn hệ thống tăng từ 16.090 tỷ đồng (2002) lên 33.043 tỷ đồng (2006).
3. Cơ cấu nguồn vốn và tính mất cân đối về kỳ hạn của hệ thống ngân hàng được phản ánh qua những con số nào?
Văn bản chỉ rõ nguồn vốn huy động của các ngân hàng thương mại chủ yếu dưới dạng tiền gửi, chiếm 94% tổng nguồn vốn huy động; thu nhập từ cấp tín dụng chiếm trên 80% tổng thu nhập. Đặc biệt, số vốn vay huy động ngắn hạn chuyển sang cho vay trung và dài hạn chiếm tới khoảng 50% tổng số vốn huy động ngắn hạn, tạo ra rủi ro thanh khoản và lệch kỳ hạn lớn cho hệ thống.
4. Những chỉ tiêu tiền tệ và hoạt động ngân hàng cụ thể nào được đặt ra cho giai đoạn 2006 - 2010?
Các chỉ tiêu chính bao gồm: Lạm phát thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế; Tăng trưởng $M_2$ bình quân 18 - 20%/năm; Tỷ lệ $M_2$/GDP đạt 100 - 115% vào cuối năm 2010; Tỷ trọng tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng/$M_2$ không quá 18%; Tăng trưởng tín dụng bình quân 18 - 20%/năm; Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) không dưới 8% vào năm 2010.
5. Tác giả đề xuất các kiến nghị lập pháp cụ thể nào đối với Quốc hội?
Tác giả kiến nghị Quốc hội: Sửa đổi Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật Các tổ chức tín dụng nhằm xây dựng mô hình ngân hàng trung ương hiện đại; nghiên cứu tách Luật Các tổ chức tín dụng thành các đạo luật riêng biệt gồm "Luật Ngân hàng thương mại" và "Luật Các tổ chức tài chính phi ngân hàng"; đồng thời rà soát khung pháp lý theo cam kết GATS để đảm bảo các tổ chức tín dụng thực hiện đầy đủ các sản phẩm tài chính theo thông lệ quốc tế và loại bỏ cơ chế xin - cho.
Kết luận
Đề án môn học đã giải quyết một cách có hệ thống cơ sở lý luận về vai trò, chức năng và tính đặc thù trong cạnh tranh của ngân hàng thương mại trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO năm 2006. Thông qua việc phân tích thực trạng giai đoạn 2002 - 2006, nghiên cứu đã chỉ ra các điểm yếu cốt tử về quy mô vốn, hệ số an toàn vốn, tỷ lệ đòn bẩy huy động và sự mất cân đối kỳ hạn tín dụng của các ngân hàng trong nước. Hệ thống mục tiêu và giải pháp giai đoạn 2006 - 2010 được đề xuất bao hàm cả việc đổi mới nội tại các ngân hàng thương mại lẫn cải cách thể chế, thanh tra giám sát và hoàn thiện khung pháp lý ngành ngân hàng.