Chương 1 này. 7 CHƯƠNG 2 – CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Một số khái niệm 2. Khái niệm về rủi ro Theo trường phái truyền thống, rủi ro được xem là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy đến, là sự không may mắn, sự tổn thất mất mát, nguy hiểm.
Đó là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến. Rủi ro còn được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người. Theo trường phái hiện đại, rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực.
Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội. Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai. Trên thực tế cho thấy rằng chúng ta đang sống trong một thế giới mà các mối đe dọa liên tục. Nền văn minh nhân loại càng phát triển, các hoạt động của con người càng phức tạp và đa dạng thì các mối đe dọa đối với con người cũng trở nên đa dạng hơn.
Nghiên cứu rủi ro, xác định và đo lường mức độ rủi ro sẽ giúp quản lý rủi ro tốt hơn trong mọi mặt. Theo Jasanoff (1999), khái niệm về rủi ro làm cơ sở cho phần lớn các quy định về môi trường hiện đại. Rủi ro không còn được coi đơn thuần là khả năng gây tổn hại phát sinh từ các nguyên nhân vật lý, sinh học hoặc xã hội ít nhiều có thể xác định được. Thay vào đó, phù hợp hơn khi coi rủi ro là hiện thân của các giá trị và niềm tin văn hóa được lưu giữ sâu sắc - các bài hát trong tiêu đề của bài báo - liên quan đến các vấn đề như tác nhân, quan hệ nhân quả và sự không chắc chắn.
Những giá trị này được đưa vào các phương pháp luận chính thức, chẳng 8 hạn như đánh giá rủi ro định lượng, theo đó các xã hội công nghiệp đánh giá rủi ro. Ý nghĩa của rủi ro theo đó thay đổi từ bối cảnh văn hóa này sang bối cảnh văn hóa khác, đặt ra những vấn đề khó khăn cho quản trị môi trường toàn cầu. Bài viết phản ánh về vai trò của khoa học trong việc thúc đẩy nhận thức hội tụ về rủi ro giữa các nền văn hóa chính trị khác nhau. Theo COSO (2004), rủi ro là tính thiếu chắc chắn và thiên về tổn thất; với mục đích đầu tư, rủi ro là sự mất mát so với dự kiến; với mục đích quản lý dự án, rủi ro là yếu tố chưa tiên đoán được có thể ảnh hưởng tới việc hoàn thành mục tiêu; với đa mục đích, rủi ro là sự phân bố xác suất quanh giá trị trung bình… Như vậy, rủi ro là khả năng xảy ra thiệt hại cho doanh nghiệp do các tình huống có thể xảy ra.
Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động của doanh nghiệp thường xuyên phải đối mặt với thách thức và cơ hội, khi đó rủi ro đã được nhìn nhận tổng quát hơn, trong đó gồm cả các tình huống có thể đem lại lợi ích cho doanh nghiệp nếu như có sự quản lý phù hợp. Nghiên cứu của Standard và Poor (2007), phân tích quản lý rủi ro doanh nghiệp (ERM) vào quy trình xếp hạng tín dụng doanh nghiệp trên toàn cầu như một khuôn khổ có cấu trúc, hướng tới tương lai để đánh giá quản lý như một thành phần chính trong việc xác định hồ sơ doanh nghiệp tổng thể. Quản lý rủi ro doanh nghiệp (ERM) cung cấp cho ban quản lý thông tin để tối ưu hóa thu nhập và cuối cùng là giá trị của công ty trong khi vẫn chấp nhận rủi ro được xác định rõ. Quản lý rủi ro doanh nghiệp (ERM) cũng cung cấp một ngôn ngữ mới và rõ ràng hơn để chuyển thông tin về các ý định và khả năng của ban quản lý, vốn rất quan trọng đối với việc đánh giá tín dụng.
Theo Purdy (2010), quản trị rủi ro doanh nghiệp không phải là một hoạt động độc lập, tách biệt với hoạt động chính và quy trình của doanh nghiệp. Quản trị rủi ro doanh nghiệp là các hoạt động điều phối để định hướng và kiểm soát một tổ chức về mặt rủi ro. Trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập, các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với rất nhiều rủi ro, bất trắc có thể gây ra những tổn thất nặng nề cho doanh nghiệp cũng như có thể có được nhiều cơ hội kinh doanh đầy mạo hiểm và vô 9 cùng tiềm năng nếu như biết cách đối mặt và xử lý rủi ro hiệu quả. Mặc dù trên thế giới và tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về quản trị rủi ro doanh nghiệp như lợi ích của ERM, những động lực và trở ngại trong việc thực hiện ERM,… song vẫn chưa có nghiên cứu nào tương tự trong bối cảnh kinh tế hội nhập nêu trên.
Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Đối với ngân hàng, các tác động đến từ rủi ro có thể dẫn đến sự giảm sút trong doanh thu, hoặc đặt ngân hàng vào tình trạng khó khăn về tài chính. Ngoài ra, các tác động này có thể biểu hiện dưới dạng phi tài chính gây hậu quả tiêu cực đến uy tín, khả năng sinh lời trong tương lai của ngân hàng. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng được hiểu là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng. Rủi ro thường đi đôi với lợi ích, rủi ro càng cao thì lợi nhuận kì vọng cho ngân hàng càng lớn.
Các ngân hàng cần phải đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro – lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được lợi ích xứng đáng với mức rủi ro chấp nhận. Do đó, chấp nhận rủi ro là yêu cầu tất yếu đối với ngân hàng. Theo tiêu chuẩn của Basel thì Rủi ro là việc ngân hàng có thể xảy ra tổn thất ngoài dự kiến. Ví dụ, nếu ngân hàng dự đoán rằng chỉ thu hồi được 97% các khoản cho vay trong quý IV/201X, song lại thu về được 98% thì đó có thể coi là thành công và mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
Chỉ khi ngân hàng thu hồi được ít hơn 97% thì mới được gọi là tổn thất và sự kiện rủi ro đã xảy ra. Như vậy, rủi ro của ngân hàng phải gắn với việc giảm sút thu nhập ngoài dự kiến và những biện pháp quản lý rủi ro của ngân hàng là để kiểm soát rủi ro nằm trong mức chấp nhận được, có thể kiểm soát được và không gây tổn thất quá lớn, làm giảm lợi nhuận kỳ vọng. Một quan điểm khác là quan điểm của Ngân hàng nhà nước Việt Nam: Rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất. Như vậy, theo quan điểm này thì rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất có thể dự báo trước được (Expected Loss).
Đây là khái niệm được các nhà nghiên cứu quan tâm để thực hiện nghiên cứu của mình. 10 Là ngành kinh doanh đặc biệt trong nền kinh tế nên rủi ro trong lĩnh vực ngân hàng thường rất nhiều và rất cao. Nếu phân theo các nhân tố tác động đến tổn thất, rủi ro thường bao gồm rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động. Ngoài ra, một số rủi ro ít gặp hơn có thể kể đến như rủi ro pháp lý, rủi ro quốc gia (COSO, 2013).
• Rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng có thể được định nghĩa là tiềm năng mà một bên trong hợp đồng sẽ không đáp ứng các nghĩa vụ của mình theo các điều khoản đã thỏa thuận. Rủi ro tín dụng còn được gọi là rủi ro vỡ nợ, rủi ro hoạt động hoặc rủi ro đối tác. Tất cả những điều này về cơ bản đề cập đến cùng một điều: tác động của hiệu ứng tín dụng đối với các giao dịch của một công ty. Có ba đặc điểm xác định rủi ro tín dụng: Rủi ro (đối với một bên có thể không hoàn thành hoặc chịu thay đổi bất lợi về khả năng thực hiện); Khả năng bên này không thực hiện nghĩa vụ của mình (xác suất vỡ nợ); Tỷ lệ thu hồi (nghĩa là có thể thu hồi bao nhiêu nếu vỡ nợ xảy ra).
• Rủi ro lãi suất: Là khả năng xảy ra tổn thất về thu nhập hoặc vốn của tổ chức tín dụng do những biến động về lãi suất. Rủi ro lãi suất có thể phát sinh từ: (i) chênh lệch thời điểm ấn định mức lãi suất mới của tài sản và nguồn vốn; (ii) thay đổi mối quan hệ giữa các mức lãi suất thị trường khác nhau của các tài sản và nguồn vốn khác nhau; (iii) thay đổi mối quan hệ lãi suất ở các kì hạn khác nhau; và (iv) thay đổi lựa chọn của khách hàng về duy trì kỳ hạn còn lại của các tài sản và nguồn vốn (khách hàng vay trả gốc trước hạn hoặc khách hàng gửi tiền rút gốc trước hạn). Những thay đổi lãi suất ảnh hưởng đến thu nhập thông qua thay đổi thu nhập lãi ròng của ngân hàng, cụ thể nó ảnh hưởng tới thu nhập và chi phí của các tài sản và nợ nhạy cảm với lãi suất. Những thay đổi về lãi suất cũng ảnh hưởng đến giá trị tiềm ẩn của giá trị tài sản và nợ bởi lãi suất thay đổi sẽ dẫn tới thay đổi giá trị hiện tại của dòng tiền tương lai thu được từ các tài sản đó, qua đó ảnh hưởng tới giá trị vốn cổ phần của ngân hàng (COSO, 2013).
• Rủi ro ngoại hối: Là khả năng xảy ra tổn thất về thu nhập hoặc vốn phát sinh do có sự biến động của tỷ giá hối đoái. Rủi ro này chủ yếu xảy ra trong thời gian tổ chức tín dụng có trạng thái mở, ở cả nội bảng và ngoại bảng, và/hoặc trên 11 thị trường giao ngay hoặc trên thị trường kỳ hạn, thị trường tương lai (COSO, 2013). • Rủi ro thanh khoản: Rủi ro thanh khoản là khả năng xảy ra tổn thất khi ngân hàng không có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính của mình.