Đặt vấn đề Thực tế, hoạt động thương mại điện tử trên mạng xã hội, nền tảng thiết bị di động ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, pháp luật thương mại và pháp luật giao dịch điện tử còn thiếu quy định về quản lý và chế tài đối với các hành vi vi phạm trong hoạt động này”. Nền tảng số là phương tiện, là môi trường dé thực hiện các giao dịch thương mại điện tử, kết nối các bên trong dịch vụ số và giao dịch trực tuyến. Sự xuất hiện nền tảng số đã làm bùng nổ các giao dịch thương mại điện tử trên mạng.
Báo cáo số 442/BC-CP ngày 1/10/2020, tại mục II.1 phần B ghi nhận: “Thực tiễn cho thấy, có mô hình hoạt động thương mại điện tử không thuộc cả hai mô hình hoạt động thương mại điện tử đã quy định tại Nghị định số 52/2013/NĐ- CP (một số mô hình chỉ là nơi trung gian dan người mua tìm kiếm hàng hoá, dich vu sau khi truy cập từ một website khác và nhận hoa hông với moi giao dịch thành công). Cần có các quy định pháp lý điều chỉnh các mô hình trên đề đảm bảo diéu chỉnh mô hình thương mại điện tử lành mạnh, dam bảo quyên lợi người tiêu dùng và tránh thất thu thuế với khoản lợi nhuận phát sinh”. Điều đó cho thấy pháp luật 8 Báo cáo số 142/BC-BTTTT ngày 30/9/2022 Báo cáo Tổng kết việc thi hành Luật Giao dịch điện tử, trang 23. 16 về thương mại điều tử vẫn còn những khoảng trống pháp lý trong việc điều chỉnh nên tảng số trung gian kết nối các bên mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ.
Đã có ý kiến cho răng nền tảng số được nhận định là mô hình giao tiếp mới. Khi chuyền đổi số, các nền tang số (digital platform) đóng vai trò quan trọng, hỗ trợ tương tác với người dùng ở nhiều cấp độ khác nhau. Khi đó, khái niệm “người trung gian” trong Luật Giao dịch điện tử đã thay đôi. Đó không chỉ là cơ quan, tô chức mà là các nền tảng số như Grab, Airbnb, LinkedIn v.
Vì vậy, Luật Giao dịch điện tử cần đặt ra nội dung sửa đôi liên quan đến việc xem xét về trách nhiệm của các bên tham gia giao dịch theo mô hình mới. Tóm lại, nền tảng số là khái niệm pháp lý mới, hiện tượng pháp lý mới cần được nghiên cứu dé hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh. Nhận diện nền tảng số trung gian 2. Quan niệm về nên tảng số Mặc dù chưa có quan điểm thống nhất về nội hàm khái niệm nền tang số trung gian, tuy nhiên, thuật ngữ nền tảng số đã được sử dụng trong một số văn bản pháp luật của nước ta.
Quyết định số 942/QĐ-TTg “Phê duyệt Chiến lược phát triển chính phủ điện tử hướng tới chính phủ sé giai doan 2021 — 2025, dinh hướng đến năm 2030” hay Quyết định số 186/QD-BTTTT “Phê duyệt chương trình thúc day phát triển và sử dụng nén tảng số quốc gia phục vụ chuyên đổi số, phát triển chính phủ sé, kinh tế số, xã hội số” đều có nhắc đến thuật ngữ “nền tảng số”. Một số quốc gia sử dụng thuật ngữ “nền tảng số - digital platform” nhưng cũng có một số quốc gia sử dụng thuật ngữ “nền tảng trực tuyến — online platform”. Cụ thé: - Trong khung khổ pháp ly có hiệu lực hiện nay của Chau Au, chưa có một định nghĩa rõ ràng và có hiệu lực pháp lý dé làm rõ thé nào là "Nền tảng số" hay "Nền tảng trực tuyến". Tuy nhiên, các nền tảng trực tuyến mang tính chất trung gian, tạo môi trường dé các bên tương tác, giao dịch hàng hóa, dịch vụ đang được ? Báo cáo số 142/BC-BTTTT ngày 30/9/2022 Báo cáo Tổng kết việc thi hành Luật Giao dịch điện tử, trang 44.
17 điều chỉnh bởi Quy định (EU)2019/1150 về thúc đây công băng, minh bạch dành cho người sử dụng doanh nghiệp của các dịch vụ trung gian trực tuyến. Quy định (EU) 2019/1150 ban hành bởi Nghị viện và Hội đồng Châu Âu ngày 20/6/2019"°. - Tại Dự thảo Nghị định Hoàng gia về quản lý nền tảng số (sắp được thông qua), Chính phủ Thái Lan quy định: "Dich vụ nên tang kỹ thuật số" có nghĩa là sự cung cấp các dịch vụ nên tảng số để phục vụ như một trung gian có không gian để kết nối người dùng doanh nghiệp với người tiêu dùng trên nên tảng kỹ thuật số sử dụng mạng máy tính.""" - Indonesia không có định nghĩa hay sử dụng thuật ngữ "nền tảng số" hay "nền tảng trực tuyến" trong văn bản pháp luật của mình. Tuy nhiên, các nền tảng số được hiểu là đang được điều chỉnh bởi Nghị định số 71 của Chính phủ Indonesia (được thông qua năm 2019) và Quy định số 05 của Bộ Thông tin truyền thông Indonesia.
Theo đó, tô chức, doanh nghiệp vận hành nền tảng trực tuyến có thê được coi là "Người vận hành Hệ thống Điện tu" trong phạm vi tư nhân eo Dự thảo Luật Giao dich điện tử (Dự thao 3) có quy định tai khoản 19, khoản 20 Điều 3: “Nên tảng số trung gian là hệ thong thông tin tạo môi trường mạng cho phép các bên thực hiện giao dịch hoặc cung cấp, sử dụng sản phẩm, dịch vụ. Chủ quản nên tảng số trung gian độc lập với các bên thực hiện giao dịch”. Như vậy, có thé hiểu nền tang số trung gian là môi trường mà tại đó các quan hệ pháp luật được xác lập. Chủ thé sở hữu nên tảng số trung gian độc lập với các bên thực hiện giao dịch.
Phạm vi nghiên cứu của bài viết chỉ trong lĩnh vực thương mai, liên quan đến nền tảng số trung gian trong lĩnh vực thương mại. Nén tang số trung gian trong lĩnh vực thương mai là môi trường dé các bên xác lập quan hệ pháp luật thương mại với chủ sở hữu nên tảng số trung gian nhằm tìm kiếm đối tác, trao đổi giao dịch trên nên tảng số trung gian do. !® Báo cáo số 146/BC-BTTTT ngày 30/9/2022, Báo cáo nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về Luật Giao dịch điện tử, trang 31 '' Báo cáo số 146/BC-BTTTT ngày 30/9/2022, Báo cáo nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về Luật Giao dich điện tử, trang 35 ! Báo cáo số 146/BC-BTTTT ngày 30/9/2022, Báo cáo nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về Luật Giao dịch điện tử, trang 35 18 2. Một số đặc điểm pháp lý của nền tảng số trung gian trong lĩnh vực thương mại Thứ nhất, chủ thé sở hữu nên tảng số trung gian xác lập quan hệ môi giới với từng bên (bên mua và bên bán).
Quan hệ môi giới thương mại được xác lập giữa bên mua với chủ sở hữu nên tảng số trung gian, giữa bên bán với chủ sở hữu nên tảng số trung gian. Giữa bên mua và bên bán xác lập quan hệ mua bán hàng hoá, tài sản, cung ứng dịch vụ. Cách môi giới của nền tảng số trung gian không theo phương thức truyền thống mà mang tính hiện đại — sử dụng việc vận hành không gian ảo là nơi người mua và người bán tìm tiếm đối tác phù hợp với nhu cầu mong muốn của mình. Chủ sở hữu nền tảng số trung gian chỉ hỗ trợ cho bên bán và bên mua trong việc gặp gỡ, trao đôi với nhau.
Chủ sở hữu nên tang số trung gian không nhân danh chính mình hay nhân danh cho một trong hai bên (bên mua hoặc bên bán) dé xác lap, thực hiện giao dịch. Trong quan hệ môi giới thương mại này, chủ sở hữu nền tảng trung gian nhân danh chính mình và vì lợi ích cảu mình. Chủ sở hữu nền tảng số trung gian có tư cách pháp lý hoàn toàn độc lập với bên bán và bên mua. Họ đang thực hiện công việc dé hưởng thù lao chứ không phải là người làm công ăn lương.
Chủ sở hữu nền tảng số trung gian có mục đích lợi nhuận rất rõ rang, mang tính nghề nghiệp. Thường thì bên bán sẽ là chủ thé có nghĩa vụ trả thù lao cho chủ sở hữu nền táng số trung gian. Phương thức thanh toán do các bên thoả thuận Thứ hai, nền tảng số trung gian hoạt động với phạm vi xuyên biên giới. Trong các hoạt động môi giới thương mại tryền thống, mua bán truyền thống, sự tồn tại ranh giới gitta các quốc gia tương đối rõ ràng, còn trong hoạt động môi giới của nền tảng số trung gian, khái niệm biên giới dần được xoá mờ.
Bên bán, bên mua, chủ sở hữu nền tang số có thé ở bat kỳ quốc gia hay vùng lãnh thé nào. Họ không gặp gỡ trực tiếp mà gặp nhau trong thị trường ảo, ở đó không tồn tại ranh giới lãnh tho. Thứ ba, nên tảng số trung gian là yếu tổ thuộc mặt khách quan của hành vi thương mại điện tử, chỉ phối tới nội dung của quan hệ pháp luật thương mại điện tử, cụ thể là quyên và nghĩa vụ của các bên liên quan. Hoạt động mua bán, cung 19 ứng dich vụ giữa bên bán và bên mua được xác lập trong môi trường nên tảng số trung gian.
Nên tảng số trung gian là không gian ảo, nơi người mua và người bán tìm kiếm đối tác phù hợp với nhu cầu mong muốn của mình. Tiện ích mà nền tảng số trung gian mang lại đóng vai trò hỗ trợ cho bên mua, bên bán gặp gỡ, trao đôi với nhau. Đề nhận diện một hành vi có vi phạm pháp luật không, cần dựa vào bốn mặt cấu thành: mặt chủ thé, mặt khách thé, mặt chủ quan, mặt khách quan. Như vậy, nên tảng số trung gian là một trong các yêu tố cần thiết phải được suy xét đến trong việc đánh giá tính hợp pháp của hành vi mà các chủ thể liên quan thực hiện.
Nền tang số trung gian là yếu tố đặc trưng tao ra sự khác biệt giữa quan hệ pháp luật được xác lập trên nền tảng số trung gian với quan hệ pháp luật truyền thống. Cụ thé, quan hệ môi giới trên nền tảng số trung gian khác với quan hệ môi giới truyền thống, quan hệ mua bán trên nền tảng số trung gian khác với quan hệ mua bán truyền thống. Sự khác biệt đó dẫn đến yếu tố nội dung (bao gồm quyền và nghĩa vụ của các chủ thể) trong quan hệ pháp luật có sự khác nhau. Thit tư, chủ sở hữu nên tảng số trung gian luôn độc lập trong các quan hệ pháp luật giữa họ với bên mua, bên bán.
Các chủ sở hữu nền tảng trung gian muốn nền tảng trung gian đóng vai trò không thé thiếu trong hoạt động mua ban hang hoá, tài sản, cung ứng dịch vụ giữa các bên. Hay nói cách khác, họ muốn việc sử dụng nền tảng của mình trở thành thói quen tiêu dùng và sự lựa chọn hàng đầu của bên mua, bên bán.