Chương 1: Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ Chương 2: Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp tăng cường ứng dụng CNTT nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu hậu WTO. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ, NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VÀ TĂNG CƢỜNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ DNVVN trước hết cũng là một doanh nghiệp.
Vì vậy, DNVVN mang đặc điểm của một doanh nghiệp. Doanh nghiệp, theo qui định của Luật Doanh nghiệp năm 2005, được hiểu là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Trong đó, kinh doanh được hiểu là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Như vậy, DNVVN trước hết cũng là một tổ chức kinh tế, được thành lập hợp pháp nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh để thu lợi nhuận.
Trong nền kinh tế thị trường, quá trình từ sản xuất đến lưu thông hàng hóa, dịch vụ đã hình thành nên các loại hình doanh nghiệp khác nhau. Mỗi loại hình doanh nghiệp lại có quy mô khác nhau tương ứng với nguồn lực của mình, từ đó có sự phân biệt giữa DNVVN song song tồn tại với doanh nghiệp lớn trong mọi nền kinh tế. Tuy còn nhiều khó khăn, song DNVVN ở Việt Nam đã và đang khẳng định vai trò, vị thế của mình trong nền kinh tế. Chính vì vậy việc đưa ra một khái niệm về DNVVN là cần thiết, tạo thuận lợi cho công tác quản lý, thống kê và xem xét quá trình phát triển của DNVVN.
Ở Việt Nam, cho đến trước năm 1998, khái niệm về DNVVN chưa được quy định trong một văn bản pháp lý nào. Quan niệm về DNVVN ở Việt Nam vì vậy mà rất khác nhau tùy theo cách xem xét và tiêu chí đánh giá. Điều này tạo ra sự thiếu nhất quán và khó khăn trong việc đưa ra khái niệm về DNVVN. 5 Ngày 20/06/1998, Thủ tướng Chính phủ đã có Quy định tại công văn 681/CP-KTN xác định tiêu thức về DNVVN tạm thời trong giai đoạn này, đó là: DNVVN là những doanh nghiệp có vốn điều lệ trung bình dưới 5 tỷ VNĐ và có số lao động trung bình dưới 200 người.
Tuy mới chỉ là tiêu chí quy ước tạm thời mang tính hành chính để xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ DNVVN nhưng có thể coi đây là bước đi đầu tiên trong việc xác định DNVVN. Theo Quy định này, doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có số lao động dưới 30 người và vốn dưới 1 tỷ VNĐ, doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có vốn từ 1 đến 5 tỷ. Đối với doanh nghiệp công nghiệp thì doanh nghiệp nhỏ có vốn dưới 1 tỷ trở xuống, các doanh nghiệp thương mại và dịch vụ thì số lao động dưới 30 người. Ngày 23/11/2001, một mặt tham khảo quy định của nhiều nước trên thế giới, mặt khác, căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNVVN.
Nghị định này là cơ sở pháp lý để xác định khái niệm về DNVVN ở Việt Nam hiện nay. Theo quy định tại điều 3 của Nghị định này: “doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc có số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”. Từ Quy định này, có thể hiểu DNVVN ở Việt Nam là các tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh và có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc có số lao động không quá 300 người. DNVVN ở Việt Nam bao gồm tất cả các doanh nghiệp thỏa mãn các điều kiện trên, không phân biệt hình thức sở hữu hay ngành nghề kinh doanh.
Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ Căn cứ vào Nghị định số 90/2001/NĐ-CP nói trên về trợ giúp phát triển với DNVVN có hai tiêu chí để xác định DNVVN ở Việt Nam, đó là: tiêu chí về vốn và tiêu chí về số lượng lao động trung bình hàng năm. Cũng theo Nghị định này, căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực 6 hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả 2 chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên. Các tiêu chí để xác định DNVVN ở Việt Nam không có quy định về định lượng tối thiểu và do đó DNVVN theo định nghĩa của Việt Nam bao gồm cả các doanh nghiệp siêu nhỏ theo cách hiểu của nhiều quốc gia khác(1). Khái niệm về DNVVN ở Việt Nam tương tự như định nghĩa của Liên minh Châu Âu, xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ là các doanh nghiệp có ít hơn 250 lao động tồn tại dưới bất kì hình thức pháp lý và cơ cấu sở hữu nào(2).
Tuy nhiên, tiêu chí về DNVVN nêu trên đã và đang tỏ ra bất cập. Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung Nghị định 90/2001/NĐ-CP nói trên là cần thiết. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đưa ra đề nghị sửa đổi tiêu chí xác định DNVVN trên nguyên tắc làm rõ hơn các tiêu thức đang được quy định tại Nghị định 90/2001/NĐ-CP. Cụ thể, tiêu chí vốn đăng ký thay vì mức cố định là không quá 10 tỷ đồng sẽ được xác định cho từng ngành theo hệ thống ngành cấp 1 của Hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân hoặc phân theo 3 khu vực theo hệ thống tài khoản quốc gia.
Đối với tiêu chí số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng đề nghị chỉ nên coi đây là một trong những thông tin ban đầu để phân loại đối tượng, vì pháp luật hiện hành không quy định doanh nghiệp đăng ký tiêu chí này khi đăng ký kinh doanh. Ngoài ra, tiêu chí doanh thu cũng đang được đề xuất để coi như là một trong ba tiêu chí xác định DNVVN. Các doanh nghiệp chỉ cần thỏa mãn một trong ba tiêu chí này thì sẽ được coi là DNVVN và được hưởng các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với DNVVN. Theo hai tiêu chí phân loại trên, số lượng DNVVN ở Việt Nam chiếm tỷ lệ rất lớn (xem Bảng 1).
(1) Hoa Kỳ định nghĩa doanh nghiệp siêu nhỏ là một doanh nghiệp với 10 nhân viên trở xuống (kể cả những thành viên trong gia đình làm việc không lương) do người nghèo sở hữu và điều hành. 7 Bảng 1: Tỷ lệ doanh nghiệp phân theo quy mô lao động giai đoạn 2001-2006 Đơn vị tính: Tỷ lệ % Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Qui mô lao động Dưới 5 lao động 24,5 23,1 19,2 18,2 19,6 20,5 12,8 5-9 lao động 25,8 26,9 28,8 28,4 28,8 30,7 44,1 10-49 lao động 28,5 30,5 32,9 35,0 35,4 34,5 30,0 50-199 lao động 13,3 12,2 12,0 11,8 10,7 9,7 8,9 200-299 lao động 2,7 2,3 2,2 2,0 1,7 1,4 1,3 Tổng số DNVVN 94,3 94,9 95,1 95,4 96,1 96,8 97,2 300-499 lao động 2,5 2,2 2,2 1,9 1,6 1,4 1,2 500-999 lao động 1,9 1,7 1,7 1,6 1,3 1,1 1,0 1.000 lao động trở lên 0,1 0,1 0,1 0,1 0,1 0,1 0,1 Tổng số DN không phải DNVVN 5,7 5,1 4,9 4,6 3,9 3,2 2,8 Nguồn: Tổng cục thống kê- Thực trạng DN qua kết quả điều tra năm 2001-2007 Nếu xem xét về quy mô lao động của DN, bảng 2 dưới đây sẽ cung cấp cái nhìn cụ thể hơn về DNVVN ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2006. Nhìn từ bảng 2, có thể thấy gần 87% tổng số doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2006 có từ 49 lao động trở xuống và 57% có dưới 10 lao động, trong khi đó có dưới 3% số doanh nghiệp có lao động thường xuyên trên 300 người. Số lượng các DNVVN ngày càng tăng, đồng thời qui mô nguồn vốn các doanh nghiệp cũng mở rộng.
Năm 2000, số DNVVN có nguồn vốn dưới 0,5 tỷ (2) EU định nghĩa một doanh nghiệp với: 1-9 lao động là doanh nghiệp siêu nhỏ, 10 -49 lao động là doanh nghiệp nhỏ, và 50 – 249 lao động là doanh nghiệp vừa. 8 chiếm vị trí áp đảo (38,5%) nhưng năm 2006 đã giảm xuống còn 12,1%. Tỷ lệ DNVVN có nguồn vốn từ 1-5 tỷ tăng dần qua các năm, từ 25,4% năm 2000 lên 48,7% năm 2006, số doanh nghiệp vừa và nhỏ có nguồn vốn từ 5-10 tỷ cũng tăng qua các năm (xem Bảng 3). Bảng 2: Số lƣợng DN phân theo quy mô lao động giai đoạn 2001-2006 Đơn vị tính: số ngƣời Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Quy mô lao động Dưới 5 lao động 10.737 Tổng số DNVVN 39.999 lao động 495 539 638 684 764 801 864 Trên 5.000 lao động 34 40 42 57 56 70 81 Tổng số DN không 2.732 phải là DNVVN Nguồn: Tổng cục thống kê- Thực trạng DN qua kết quả điều tra năm 2001-2007 Bảng 3: Tỷ lệ doanh nghiệp phân theo quy mô nguồn vốn giai đoạn 2001-2006 Đơn vị tính: Tỷ lệ % Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Quy mô nguồn vốn Dưới 0,5 tỷ VND 38,5 35,5 29,6 26,1 25,3 23,6 12,1 0,5-1 tỷ VND 15,5 16,3 17,5 18,0 17,6 18,1 16,6 1-5 tỷ VND 25,4 28,2 32,0 34,4 35,7 37,1 48,7 9 5-10 tỷ VND 6,5 6,5 7,1 7,6 8,0 8,2 9,6 Tổng số DNVVN 85,9 86,9 86,2 86,1 86,6 87,0 87,1 10-50 tỷ VND 9,4 8,9 9,2 9,2 9,0 8,9 8,8 50-200 tỷ VND 3,6 3,4 3,4 3,5 3,2 2,9 2,9 200-500 tỷ VND 0,7 0,7 0,8 0,8 0,8 0,8 0,8 Trên 500 tỷ VND 0,5 0,4 0,4 0,4 0,4 0,4 0,5 Tổng số DN không phải là DNVVN 14,1 13,6 13,8 13,9 13,4 13,0 12,9 Nguồn: Tổng cục thống kê- Thực trạng DN qua kết quả điều tra năm 2001-2007 3.