Sách chuyên khảo luận bàn về các hình thức sở hữu và sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng phùng trung tập

Sách chuyên khảo phân tích sâu về các hình thức sở hữu và sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng, cung cấp góc nhìn pháp lý toàn diện.

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Sách chuyên khảo

2011

272
15
13

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI GIỚI THIỆU

1. CHƯƠNG 1: CÁC HÌNH THỨC SỞ HỮU

1.1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ SỞ HỮU

Tóm tắt

I. Giới thiệu chung về sách chuyên khảo

Sách chuyên khảo của Phùng Trung Tập tập trung phân tích các hình thức sở hữusở hữu chung hợp nhất trong mối quan hệ vợ chồng. Tác phẩm này không chỉ là tài liệu học thuật mà còn là nguồn tham khảo quan trọng trong lĩnh vực luật hôn nhân gia đìnhluật dân sự. Cuốn sách đặt nền móng lý luận cho việc hiểu rõ các quy định pháp lý về quyền sở hữutài sản chung, đồng thời đề xuất cải cách phù hợp với thực tiễn pháp luật Việt Nam.

1.1. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu

Cuốn sách nhằm mục tiêu làm rõ các hình thức sở hữu trong Bộ luật Dân sự, đặc biệt là sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng. Tác giả phân tích sâu về các quy định pháp lý hiện hành, đồng thời đề xuất sửa đổi để phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Phạm vi nghiên cứu bao gồm các vấn đề liên quan đến quyền tài sản, quản lý tài sản, và phân chia tài sản trong hôn nhân.

1.2. Giá trị thực tiễn

Cuốn sách không chỉ có giá trị lý luận mà còn mang tính ứng dụng cao trong thực tiễn. Nó cung cấp cơ sở khoa học để các cơ quan lập pháp sửa đổi, bổ sung các quy định về sở hữutài sản chung. Đồng thời, đây là tài liệu hữu ích cho sinh viên, nghiên cứu sinh và các nhà hoạt động pháp lý trong việc nghiên cứu và áp dụng luật pháp hôn nhân.

II. Phân tích các hình thức sở hữu

Tác giả Phùng Trung Tập đã phân tích chi tiết các hình thức sở hữu trong Bộ luật Dân sự, bao gồm sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân, và sở hữu chung. Đặc biệt, sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng được xem xét kỹ lưỡng, với các quy định về quyền lợi vợ chồngquản lý tài sản chung. Tác giả cũng đề xuất loại bỏ một số hình thức sở hữu không phù hợp với thực tiễn hiện nay.

2.1. Sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng

Sở hữu chung hợp nhất là hình thức sở hữu đặc thù trong quan hệ vợ chồng, được quy định trong Bộ luật Dân sự. Tác giả phân tích các quy định về quyền sở hữu tài sảnphân chia tài sản khi hôn nhân chấm dứt. Đồng thời, tác giả đề xuất cải cách để đảm bảo công bằng và minh bạch trong việc quản lý tài sản chung.

2.2. Sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân

Tác giả nhấn mạnh sự khác biệt giữa sở hữu nhà nướcsở hữu tư nhân, đồng thời đề xuất loại bỏ các quy định về sở hữu tập thểsở hữu hỗn hợp. Các hình thức sở hữu này được xem là không còn phù hợp với nền kinh tế thị trường hiện đại.

III. Đề xuất cải cách pháp lý

Cuốn sách đưa ra nhiều đề xuất cải cách nhằm hoàn thiện các quy định về sở hữu trong Bộ luật Dân sự. Tác giả Phùng Trung Tập khuyến nghị loại bỏ các quy định lỗi thời và bổ sung các quy định mới phù hợp với thực tiễn pháp luật Việt Nam. Các đề xuất này tập trung vào việc bảo vệ quyền lợi pháp lý của các bên liên quan, đặc biệt là trong quan hệ vợ chồng.

3.1. Loại bỏ quy định lỗi thời

Tác giả đề xuất loại bỏ các quy định về sở hữu tập thểsở hữu hỗn hợp, vì chúng không còn phù hợp với nền kinh tế thị trường. Thay vào đó, cần tập trung vào các hình thức sở hữu hiện đại như sở hữu tư nhânsở hữu chung hợp nhất.

3.2. Bổ sung quy định mới

Tác giả đề xuất bổ sung các quy định mới về quản lý tài sản chungphân chia tài sản trong hôn nhân. Các quy định này nhằm đảm bảo công bằng và minh bạch trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản hôn nhân.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I CÁC HÌNH THỨC SỞ HỮU 1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ SỞ HỮU Sở hữu thuộc phạm trù kinh tế tổn tại trong mọi hình thái kinh tế xã hội. Xã hội loài người đã trải qua 5 hình thái kinh tế - xã hội: Hình thái kinh tế cộng sản nguyên thuỷ, hình thái kinh tế chiếm hữu nô lệ, hình thái kinh tế phong kiến, hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa và hình thái kinh tế xã hội chủ nghĩa. Sở hữu phát sinh trong xã hội là một quy luật khách quan và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người.

Trong một xã hội bất kỳ khi có sản xuất và lưu thông các thành quả của lao động thì mức độ chiếm hữu tư liệu sản xuất ở một mức độ nhiều hay ít có ảnh hưởng đến địa vị xã hội của các chủ thể khác nhau. Lịch sử nhân loại đã cho thấy, trong một giai đoạn phát triển nhất định thì giai cấp nào, tập đoàn nào chiếm hữu được nhiều nhất những tư liệu sản xuất cơ bản trong xã hội, thì giai cấp đó, tập đoàn đó cớ quyền chỉ phối và điều chỉnh các quan hệ xã hội theo ý chí của giai cấp, tập đoàn mình. Vấn để sở hữu ở Việt Nam kể từ năm 1945 đến nay có những đặc thù riêng, liên quan đến sự thay đổi chế độ cũ, thiết lập chế độ mới - chế độ dân chủ nhân dân, khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập vào ngày 2 - 9 - 1945. Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á được hình thành ở Việt Nam trong bối cảnh lịnh sử nửa thực dân, nửa phong kiến.

Dưới chế độ mới, sở hữu phong kiến - thực dân dan dan bị xoá bỏ và thiết lập một loại quan hệ sở hữu mới, loại bỏ chế độ người bóc lột người, thực hiện người cày có ruộng và công nhân, trí thức, người lao động thủ công làm chủ chuyên môn, làm chủ tay nghề của mình và chế độ tư hữu tuy vẫn còn tổn tại nhưng không còn thực trạng người bóc lột người như thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Sau 5 năm kể từ ngày miền Bắc Việt Nam được giải phóng, việc lựa chọn con đường phát triển xã hội là, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa và sau thời kỳ khôi phục kinh tếở miền Bắc sau chiến tranh, miền Bắc da xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc đã tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng là cách mạng dân tộc và cách mạng dân chủ nhân dân. Sở hữu trong giai đoạn khôi phục kinh tế ở miền Bắc, chuẩn bị cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội vẫn tổn tại các hình thức sở hữu khác nhau thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Với những quan điểm này, sở hữu của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước vẫn được tiếp tục tổn tại, nhưng kinh.

tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Nền kinh tế ở miền Bắc nước ta trong thời kỳ tiền xã hội chủ nghĩa vẫn tổn tại là nền kinh tế da thành phần. Hình thức sở hữu của các chủ thé trong xã hội vẫn được bảo đảm thực hiện. Một bộ phận tư liệu sản xuất.

quan trọng như đất đai, công cụ sản xuất khác vẫn thuộc về người lao động trong các thành phần kinh tế khác nhau. Sự cần thiết phải nhấn mạnh đến công cuộc cải tại xã hội sau ngày giải phóng mién Bắc là sự thực hiện Luật cải cach ruộng đất được ban hành ngày 19 - 12 - 1953, và được thực hiện trên phạm vi toàn miền Bắc vào năm 1955, đã thu được những thành quả đáng kể, mang lại ruộng đất và tư liệu sản xuất quan trọng khác cho nhân dân lao động. Đánh đổ giai cấp dia chủ, cường hào, có nợ máu với nhân dân. Đồng thời cũng tịch thu triệt để tài sản của giai cấp tư sản mại bản, 6 qua đó xoá bỏ tương đối triệt để thế lực phản động và thù địch cách mạng, kẻ thù của nhân dân ở miền Bắc nước ta.

“Trong hoàn cảnh nền kinh tế ở miền Bắc Việt Nam đã lạc hậu lại phải gánh chịu hậu quả của 15 năm do chiến tranh tàn phá, nhiệm vụ khôi phục kinh tế được đặt lên hàng đầu và là nhiệm vụ mang tính cấp bách. Theo tỉnh thần Nghị quyết Trung ương lần thứ VII (tháng 3-1955) và Nghị quyết. của Quốc hội tại phiên họp lần thứ IV (tháng 3-1955) đã xác định: “Không chỉ đơn thuần khôi phục cơ sở sản xuất mức sản xuất, trước chiến tranh, chúng ta còn phải thay đổi quan hệ sản xuất cho hợp uới chế độ dân chủ nhân dân, do đó đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, phục vu dan sinh”. giai đoạn này, thành phần kinh tế tư bản tư nhân được thừa nhận và được coi trọng với chủ trương: "Hướng dan, khuyến khích, giúp đỡ kinh doanh tu nhân của tư sản dân tộc.

Tư sản ngoại quốc cũng cần được chiếu cố một cách thích đáng. Trong thời kỳ khôi phục kinh tế sau chiến tranh, lực lượng sản được phục hồi và phát triển. Thị trường nội địa được mở rộng và ban đầu đã có những dấu hiệu năng động. Xét về bản chất thì nền kinh tế da thành phần có định hướng.

xã hội chủ nghĩa đã có mầm mống và dần dan được định { thì ở miền Bắc Vi Nam trong thời kỳ khôi phục kinh tế đạt được những thành quả: Bắt đầu cdi tạo nên kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội, cụ thể là phát triển từng bước thành phần kinh tế quốc doanh (có tính chất xã hội chủ nghĩa) phát triển từng bước thành phân hinh tế hợp tác xã (có tính chất nửa xã hội chủ nghĩa va xã hội chủ nghĩa) cải tạo từng bước thành phần kinh tế tư bản tư nhân thành tu bản nhà nước. Như thế nghĩa. là cải biến dần dân những quan hệ sở hữu cá thể thành quan hệ sở hữu chung của xã hội uà bước đầu cải tạo công thương nghiệp theo chủ nghĩa xã hội. Như vậy, theo chủ trương trên thì nền kinh tế đa thành phân ở miền Bắc Việt Nam trong Lỗ thời kỳ ngay sau khi chiến tranh kết thúc đã không được bảo hộ.

Theo chủ trương này, thì hai hình thức sở hữu nhà nước và sở hữu của hợp tác xã được ưu tiên củng cố, xây dựng va phát triển. Vấn để cải tạo công thương nghiệp ở miền Bắc tư bản tư nh: in và sở hữu cá thé cũng không dược khuyến khích phát triểi Kể từ năm 1957 trở đi, việc cải tạo công thương nghiệp ở miền Bắc Việt Nam theo hướng phát triển mau dịch quốc doanh và hợp tác xã mua bán với những chính sách: Nhà nước thi hành chế độ gia công đặt hàng, bao tiêu đối với những mặt hang chủ yếu. Khoanh vùng thu mua đổi với những nguyên liệu can thiết như chè, cà phê, thuốc lá, gỗ. Thi hành hình thức đại lý bao tiêu đối với một số mặt hàng thiết yếu phục vụ cho tiêu dùng như xăng, dầu, lốp ô tô, giấy, đường; thống nhất xuất khẩu đối với những loại hàng hoá mà Nhà nước cần kiểm soát để trao đối với nước ngoài như cà phê, sa nhân, hoa hồi, sơn.; đánh thuế thực lãi vào lĩnh vực kinh doanh thương nghiệp tư bản tư nhân và nâng cao thuế.

buôn chuyến, đồng thời thu hẹp chênh lệch giá cả giữa các khu vực. Chính sách hạn chế và cải tạo kinh tế tư bản tư doanh đã có những kết quả: “Công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miên Bắc đã được cải tạo bước đầu. Về công nghiệp, trên 80% cơ sở tự doanh đã có quan hệ gia công đặt hàng uới kinh tế quốc doanh, 80% giá trị hàng hoá của công nghiệp tư bản tư doanh là hàng quốc doanh gia công thu mua. VỀ thương nghiệp trên 1/3 s‹ thương nghiệp tu bản tư doanh đã có quan hệ kinh tiêu, đại lý uới mau dịch quốc doanh”.

Với thực tế này, đã có nhận định: “Hiện nay diéu hiện đã chín muôi đểchúng ta chủ động, tích cực va khẩn trương đẩy uiệc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối uới kinh tế tu bản tư doanh va giai cấp tư sản dân tộc tiến một bước quan trọng có ý nghĩa quyết định”. Với mục tiêu là: “Đưa xí nghiệp tư bản tư doanh: từ hình thức thấp va vita lên hình thức cao của chủ nghĩa tư bản nhà nước, chủ yếu là hình thức công tư hợp doanh, chuyển chế độ chiếm hữu tư bản chủ nghĩa vé căn bản thành chế độ sở hữu nhà nước va trên cơ sở quan hệ sản xuất mới đó biến dan người tư sản dân tộc thành người lao động, sống bang lao động chứ không phải sống bằng bóc lột". chính sách trên, thể hiện rõ tính chất sớm hạn chế thành phần kinh tế cá thể, tư bản tư nhân theo việc cải tạo để sớm thành lập hệ thống thương nghiệp quốc doanh theo phương. Hệ thống thương nghiệp tư doanh đã dan dan được hệ thống thương nghiệp quốc doanh thay thế.

Với những chủ trương như vậy, trong chừng mực nhất dinh đã làm hạn chế sản xuất và lưu thông hàng hoá trên thương trường, thể hiện sự nóng vội, duy ý chí buộc các quan hệ khách quan và nhu cầu khách quan của toàn xã hội vào một khuôn mẫu xã hội chủ nghĩa đích thực, trong khi cơ sở hạ tang của chủ nghĩa xã hội cần phải có thời gian để củng cố, phát triển mạnh mẽ hơn nữa theo quy luật phát triển xã hi Kể từ năm 1958, ở miền Bắc Việt Nam thừa nhận nhiều thành phần kinh tế và hình thức sở hữu. Tuy nhiên, với chính sách cải tạo công thương nghiệp và khôi phục kinh tế sau chiến tranh, thì nền kinh tế nhiều thành phần này có hai hình thức sở hữu được ưu tiên phát triển là sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể của nhân dân lao động. “Trong giai đoạn này, việc cải tạo xã hội chủ nghĩa là cải tạo quan hệ sản xuất trong nông nghiệp được Đảng và Nhà nước chú trọng. Quá trình này được thực hiện theo 3 bu Bước thứ nhất: Thành lập các tổđổi công trong các lang quê đểsản xuất nông nghiệp.

Tổ đổi công có mầm mống ban đầu của xã hội chủ nghĩa. Tổ đổi công là môi trường cho nông dân nông nghiệp tập trung sức lao động theo nguyên tắc một. người vì nhiều người và nhiều người vì một người trong sản xuất nông nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ