Sách chuyên khảo hoàn thiện pháp luật về chuyển đổi giới tính ở việt nam nguyễn văn hợi chủ biên nguyễn minh oanh

"Sách chuyên khảo phân tích toàn diện pháp luật về chuyển đổi giới tính tại Việt Nam, do Nguyễn Văn Hợi và Nguyễn Minh Oanh chủ biên."

Chuyên ngành

Pháp luật chuyển đổi giới tính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Sách chuyên khảo

2020

321
31
33

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH

1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH

1.1.1. Khái niệm chuyển đổi giới tính

1.1.2. Đặc điểm của chuyển đổi giới tính

Tóm tắt

I. Pháp luật chuyển đổi giới tính

Pháp luật chuyển đổi giới tính tại Việt Nam đã có bước tiến đáng kể khi Quốc hội khóa 13 thông qua Bộ luật Dân sự năm 2015, trong đó Điều 37 hợp pháp hóa việc chuyển đổi giới tính. Đây là bước đột phá trong việc ghi nhận và bảo vệ quyền nhân thân, đưa Việt Nam trở thành quốc gia thứ 62 trên thế giới và thứ 11 tại châu Á cho phép chuyển đổi giới tính. Tuy nhiên, việc áp dụng quy định này trên thực tế vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết, đặc biệt là các tranh cãi về việc liệu chuyển đổi giới tính có phải là một quyền nhân thân hay không.

1.1. Quyền lợi chuyển đổi giới tính

Quyền lợi chuyển đổi giới tính là một trong những vấn đề trọng tâm được đề cập trong nghiên cứu. Việc hợp pháp hóa chuyển đổi giới tính đã mở ra cơ hội cho những người thuộc cộng đồng LGBT được sống đúng với giới tính mong muốn. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức trong việc đảm bảo quyền lợi này, đặc biệt là sự thiếu đồng nhất trong cách hiểu và áp dụng pháp luật. Ví dụ, quyền của những người đã phẫu thuật chuyển đổi giới tính trước khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực vẫn chưa được quy định rõ ràng.

1.2. Vấn đề pháp lý chuyển đổi giới tính

Vấn đề pháp lý chuyển đổi giới tính được phân tích sâu trong nghiên cứu, đặc biệt là các tranh cãi xung quanh việc liệu chuyển đổi giới tính có cần phải thông qua phẫu thuật y học hay không. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc thừa nhận chuyển đổi giới tính cần dựa trên cả quá trình can thiệp y học và thủ tục pháp lý. Điều này đòi hỏi sự hoàn thiện hơn nữa của hệ thống pháp luật để đảm bảo quyền lợi của người chuyển đổi giới tính.

II. Chính sách chuyển đổi giới tính

Chính sách chuyển đổi giới tính tại Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc thực hiện chuyển đổi giới tính cần được hỗ trợ bởi một hệ thống chính sách đồng bộ, bao gồm cả y tế, pháp lý và xã hội. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội.

2.1. Hỗ trợ chuyển đổi giới tính

Hỗ trợ chuyển đổi giới tính là yếu tố quan trọng để đảm bảo quyền lợi của người chuyển đổi giới tính. Nghiên cứu đề xuất cần có các chính sách hỗ trợ về tài chính, y tế và tâm lý cho những người thực hiện chuyển đổi giới tính. Đồng thời, cần nâng cao nhận thức của xã hội về vấn đề này để giảm thiểu sự kỳ thị và phân biệt đối xử.

2.2. Nghiên cứu chuyển đổi giới tính

Nghiên cứu chuyển đổi giới tính là cơ sở quan trọng để hoàn thiện chính sách và pháp luật. Nghiên cứu này đã đóng góp nhiều ý kiến giá trị, đặc biệt là việc phân tích các khái niệm liên quan đến chuyển đổi giới tính và đề xuất các giải pháp để áp dụng hiệu quả trên thực tế. Điều này giúp tạo nền tảng vững chắc cho việc xây dựng và thực thi chính sách trong tương lai.

III. Tình hình chuyển đổi giới tính tại Việt Nam

Tình hình chuyển đổi giới tính tại Việt Nam đã có những thay đổi tích cực kể từ khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực. Tuy nhiên, việc thực hiện chuyển đổi giới tính vẫn còn nhiều khó khăn, đặc biệt là sự thiếu đồng nhất trong cách hiểu và áp dụng pháp luật. Nghiên cứu chỉ ra rằng, cần có sự hoàn thiện hơn nữa trong hệ thống pháp luật và chính sách để đảm bảo quyền lợi của người chuyển đổi giới tính.

3.1. Vấn đề pháp luật chuyển đổi giới tính

Vấn đề pháp luật chuyển đổi giới tính là một trong những trọng tâm của nghiên cứu. Việc hợp pháp hóa chuyển đổi giới tính đã mở ra cơ hội cho cộng đồng LGBT, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết, đặc biệt là sự thiếu đồng nhất trong cách hiểu và áp dụng pháp luật. Nghiên cứu đề xuất cần có sự hoàn thiện hơn nữa trong hệ thống pháp luật để đảm bảo quyền lợi của người chuyển đổi giới tính.

3.2. Đóng góp của Nguyễn Văn Hợi và Nguyễn Minh Oanh

Nguyễn Văn HợiNguyễn Minh Oanh đã có những đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật chuyển đổi giới tính. Nghiên cứu của họ đã cung cấp cái nhìn đa chiều về vấn đề này, đồng thời đề xuất các giải pháp cụ thể để áp dụng hiệu quả trên thực tế. Điều này giúp tạo nền tảng vững chắc cho việc xây dựng và thực thi chính sách trong tương lai.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 MOT Số VAN DE LÝ LUẬN VỀ CHUYEN ĐỐI GIGI TÍNH I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CUA CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH 1. Khái niệm chuyển đổi giới tính Trong các dự án Luật Chuyển đổi giới tính? mà Bộ Y tế xây dựng và chúng tôi được tiếp cận, có nhiều vấn đề tranh luận xảy ra mà chưa có hồi kết giữa ban soạn thảo và những cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan (trong đó nhóm người thuộc cộng. đồng LGBT là những người chịu ảnh hưởng trực tiếp khi Dự án được chính thức thông qua).

Vấn đề có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến hầu hết các nội dung của dự án đó là để được công nhận là người chuyển đổi giới tính thì việc can thiệp y học có bắt buộc không và ở mức độ nào. Chúng tôi cho rằng, để đi Ề Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi được tiếp cận với hai bản Dự án Luật chuyển đổi giới tính do Bộ Y tế là cơ quan chủ trì: (1) Bản dự án ngày 28/12/2017 xin ý kiến thâm định của Bộ Tư pháp; (2) Bản dự án ngày 15/01/2018 sau khi tiếp thu ý kiến thâm định của Bộ Tư pháp. đến kết luận cuối cùng cho vấn đề này, bảo đảm Luật Chuyển đổi giới tính được thông qua phù hợp với bản chất của chuyển đổi giới tính thì việc cần thiết là phải nhận diện một cách chính xác các khái niệm cơ bản như giới, giới tính, chuyển giới, đặc biệt là khái niệm chuyển đổi giới tính. Theo quan điểm triết học Mác - Lênin, về bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội.

Do đó, bất cứ ai sống trong xã hội đều cần phải thông qua các mối quan hệ xã hội với người khác và môi trường xung quanh để tôn tại. Mỗi con người đều có nhu cầu thể hiện mình, nhận biết mình để khẳng định vị thế của mình trong các mối quan hệ đó. Trong đó, nhu cầu và mong muốn được biết mình là nam hay nữ, mình thực sự mong muốn là nam hay nữ và mong muốn đó có phù hợp với cơ thể của mình khi sinh ra hay không cũng là những mong muốn khách quan và tồn tại cùng với sự tồn tại của mỗi con người. Mong muốn đó ban đầu chỉ là của từng cá nhân riêng lẻ, dần dần trở thành mối quan tâm của nhiều nhóm cá nhân và của cả cộng đồng.

Những mong muốn này có được thoả mãn hay không được thoả mãn, có được xã hội chấp nhận hay không được chấp nhận đều có những ảnh hưởng nhất định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân đó và của cả xã hội. Ở thời kỳ đầu, khi chưa một quốc gia nào thừa nhận những giới tính khác ngoài nam và nữ thì đã tồn tại những mâu thuẫn xung quanh đòi hỏi của cộng đồng LGBT và nhà nước. Ngay cả khi chưa chấp nhận những đòi hỏi của nhóm người này, thì các quốc gia cũng đều phải bắt tay vào nghiên cứu để có những lập luận phù hợp với sự phủ nhận của mình với nhu cầu và đòi hỏi của những người trong cộng đồng LGBT. Chính vì vậy, các thuật ngữ giới, giới tính, chuyển giới và chuyển đối giới tính không phải là những thuật ngữ mới xuất hiện mà đã được quan tâm nghiên cứu trước khi Việt Nam hay bất cứ quốc gia nào hợp pháp hoá việc chuyển đổi giới tính.

Khái niệm “giới” muốn nói đến vai trò của giới nam và giới nữ về mặt xã hội, hành vi, các hoạt động và các đặc tính của mỗi một giới (sinh học, tâm lý, xã hội)”. “Giới chỉ sự khác biệt về mặt xã hội giữa nam và nữ, phản ánh đặc điểm quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ, liên quan đến địa vị xã hội của nam giới và phụ nw”. Như vậy, các quan điểm đưa ra đều nhận định giới là nói đến vai trò, địa vị xã hội của nam giới và phụ nữ. Ví dụ giới nam thường để tóc ngắn và giọng nói 6m - trầm, giới nữ thường để tóc dài và giọng nói trong - cao.

Theo đó, chỉ cần dựa vào 3 Nguyễn Minh Tuần (2017), Chuyển đổi giới tính cho người bi dau khổ về giới, bài viết trong Kỷ yêu Hội thảo “Góp ý dự án Luật chuyền đối giới tính”, Trung ương Hội Luật gia Việt Nam va Vụ Pháp chế - Bộ Y tế phối hợp tổ chức ngày 29/12/2017. * Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Tap bài giảng Luật Binh đẳng giới, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr. những biểu hiện bên ngoài về mặt xã hội có thể xác định được một người thuộc giới nam hay giới nữ.

Với những phân tích về khái niệm giới ở trên, muốn thay đổi (chuyển đổi) giới từ nam sang nữ hoặc từ nữ sang nam chỉ cần thay đổi những đặc điểm nhận dạng như vị trí, vai trò của cá nhân trong xã hội (thay đổi những đặc điểm bên ngoài). Tức là, chuyển giới là việc thay đổi những đặc điểm nhận dạng về vị trí, vai trò của cá nhân trong xã hội, điều này có thể khiến cho những người xung quanh nhận diện về giới của cá nhân người chuyển giới không phù hợp với giới tính sinh học của họ. Ví dụ: nữ muốn chuyển giới thành nam thì chỉ cần cắt tóc ngắn, mặc đồ nam, thay đổi giọng nói và làm những việc mà nam giới thường làm; một người nam muốn chuyển giới thành nữ thì chỉ cần để tóc dài, mặc đồ nữ, thay đối giọng nói và làm những việc mà nữ giới thường làm. Để đạt được điều này, người chuyển giới có thể cần hoặc không cần thực hiện những phẫu thuật y học mà có thể chỉ cần điều trị nội tiết tố sinh dục là đủ.

Theo đó, người chuyển giới được hiểu là người nhận dạng, mong muốn mình có giới tính khác với giới tính sinh học khi sinh ra, cơ thể không có gì khiếm khuyết về giới tính”. = Truong Hồng Quang, Tìm hiểu quyển của người dong tinh, song tinh, chuyển giới và liên giới tính ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia sự that, Hà Nội, 2017, tr. 10 Khái niệm “giới tính” muốn nói đến những biểu lộ sinh học đặc trưng của một người (như nhiễm sắc thể, tuyến sinh dục, các bộ phận sinh dục trong và ngoài) là nam hay nữ°.

Giới tính thể hiện những đặc điểm sinh học của nam và nữ, có tính chất bẩm sinh, tự nhiên, sinh thành, biến đổi tuân theo quy luật sinh học, gắn liền với cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết di’. Như vậy, để xác định giới tinh của một người có thể phải dựa vào nhiều đặc điểm như nhiễm sắc thể, bộ phận sinh dục. Thời điểm xác định giới tính của một người là thời điểm cấp giấy chứng sinh. Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Thông tư số 17/2012/TT-BYT ngày 24 tháng 10 năm 2012 của Bộ Y tế về quy định cấp và sử dụng giấy chứng sinh, thẩm quyền cấp giấy chứng sinh thuộc về: Bệnh viện đa khoa có khoa sản; Bệnh viện chuyên khoa phụ sản, Bệnh viện sản - nhi; Nhà hộ sinh; Trạm y tế cấp xã; Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hợp pháp khác 5 Nguyễn Minh Tuấn (2017), Chuyển đổi giới tính cho người bị đau khổ về giới, bài viết trong Kỷ yêu Hội thảo “Góp ý dựán Luật chuyền đổi giới tính”, Trung ương Hội Luật gia Việt Nam và Vụ Pháp chế - Bộ Y tế phối hợp tổ chức ngày 29/12/2017.

’ Trường Dai học Luật Hà Nội (2013), Tập bài giảng Luật Binh đăng giới, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 8 Theo quy định tai Phụ lục số 04 ban hành kèm theo Thông tư sỐ 17/2012/TT-BYT ngày 24 tháng 10 năm 2012 của Bộ Y tế về quyđịnh cấp và sử dụng giấy chứng sinh. Phụ lục này hướng dẫn cách ghi giấy chứng sinh, trong đó một trong những nội dung phải ghi trong giấy chứng sinh đó là giới tính của trẻ.

11 được phép cung cấp dịch vụ đỡ đẻ. Một thực tế từ trước đến nay là khi trẻ mới được sinh ra, chúng ta thường chỉ dựa vào bộ phận sinh dục để xác định giới tính của trẻ (trừ khi trẻ được sinh ra mà có khuyết tật bẩm sinh về giới tính thì cần thông qua thủ tục xác định lại giới tính theo quy định của pháp luật). Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 88/2008/NĐ-CP ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ về Xác định lại giới tính: “Khuyết tật bẩm sinh về gidi tính là những bất thường ở bộ phan sinh dục của một người ngay từ khi mới sinh ra, biểu hiện ở một trong các dạng như nữ lưỡng giới giả nam, nam lưỡng giới giả nữ hoặc lưỡng giới thật”. Như vậy, nếu trẻ được sinh ra mà không có bất thường ở bộ phận sinh dục thì mặc nhiên được hiểu là không có khuyết tật bẩm sinh về giới tinh và có thé xác định chính xác giới tính của trẻ là nam hay nữ.

Về khái niệm chuyển đổi giới tính, hiện nay còn tổn tại nhiều quan điểm khác trái chiều, nhưng tựu chung lại có hai nhóm quan điểm như sau: Quan điểm thứ nhất cho rằng “Chuyển đổi giới tính là phẫu thuật chuyển đổi bộ phận sinh dục ngoài, trong và điều trị hormon sinh dục thay thế”°. ? Nguyễn Minh Tuan (2017), Chuyển đổi giới tính cho người bị đau khổ về giới, bài viết trong Kỷ yêu Hội thảo “Góp ý dự án Luật chuyền đối giới tính”, Trung ương Hội Luật gia Việt Nam và Vụ Pháp chế - Bộ Y tế phối hợp tổ chức ngày 29/12/2017. 12 Theo quan điểm này, việc chuyển đổi giới tính chỉ được thừa nhận đối với những người thực hiện việc phẫu thuật thay đổi bộ phận sinh dục trong và ngoài, tức là sự can thiệp y học để chuyển đổi giới tính phải được thực hiện một cách toàn diện chứ không chỉ dừng lại ở việc phẫu thuật một trong các bộ phận cơ thể. Cùng quan điểm này, tác giả Lê Diệu Linh cho rằng: “Chuyển đổi giới tính (hay còn gọi phẫu thuật chuyển giới) là khái niệm dùng để chỉ những thủ tục y khoa để thay đổi giới tính của một người, trong đó bao gồm những công đoạn như phẫu thuật bộ phận sinh dục, tiêm hoóc-môn, phẫu thuật chỉnh hình.

”'9, Như vậy, mặc dù tác giả bài viết không chỉ ra cụ thể việc phẫu thuật bộ phận sinh dục có toàn diện (cả trong lẫn ngoài) hay không nhưng dựa trên cụm từ “những thủ tục y khoa để thay đổi giới tính của một người,.” có thể hiểu rằng tác giả không loại trừ bất cứ sự can thiệp y học nào trong quá trình phẫu thuật chuyển đổi giới tính.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

"Hoàn Thiện Pháp Luật Chuyển Đổi Giới Tại Việt Nam - Nguyễn Văn Hợi & Nguyễn Minh Oanh" là một tài liệu chuyên sâu phân tích các vấn đề pháp lý liên quan đến chuyển đổi giới tính tại Việt Nam. Tác giả đưa ra những đánh giá về thực trạng pháp luật hiện hành, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý, đảm bảo quyền lợi và sự công bằng cho cộng đồng chuyển giới. Tài liệu này không chỉ cung cấp cái nhìn toàn diện về vấn đề mà còn là nguồn tham khảo quý giá cho các nhà nghiên cứu, luật sư và những người quan tâm đến quyền con người.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề pháp lý khác, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về đăng ký kết hôn thực tiễn tại uỷ ban nhân dân phường thanh vinh thị xã phú thọ tỉnh phú thọ, nghiên cứu về thủ tục hành chính liên quan đến hôn nhân. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về bảo hiểm thai sản và thực tiễn áp dụng tại tỉnh sơn la cung cấp góc nhìn về quyền lợi và bảo vệ phụ nữ trong lĩnh vực y tế. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do hết thời hiệu khởi kiện theo pháp luật việt nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các quy định thời hiệu trong tố tụng dân sự. Mỗi tài liệu này đều là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh pháp lý đa dạng.