Chương 1 Luật NSNN số 83/20015, NSNN có hai nội dung cơ bản là Thu ngân sách nhà nước và Chi ngân sách nhà nước. Khái niệm và đặc điểm chi Ngân sách nhà nước 1. Khái niệm chi ngân sách nhà nước Khái niệm chi NSNN có thể được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, nhưng tựu trung cần nhận thức rằng, chi NSNN là hoạt động nhằm sử dụng quỹ ngân sách, là quá trình phân phối nguồn tiền tệ nằm trong quỹ NSNN để xây dựng vào mục đích khác nhau của nhà nước, theo một chương trình, kế hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cao nhất quyết định. Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước theo những nguyên tắc nhất định.[29, tr 365] Chi NSNN là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã tập trung vào NSNN và đưa chúng đến mục đích sử dụng.
Do đó, chi NSNN là những việc cụ thể không chỉ dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của nhà nước. Đặc điểm chi Ngân sách Nhà nước Thứ nhất, chi NSNN luôn gắn với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước phải đảm nhận; mức độ và phạm vi chi tiêu NSNN phụ thuộc vào nhiệm vụ của Nhà nước trong từng thời kỳ. Thứ hai, tính hiệu quả của các khoản chi NSNN được xem xét tính hiệu quả ở tầm vĩ mô và mang tính toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, xã hội, chính trị và ngoại giao dựa vào việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng,.mà các khoản chi NSNN đảm nhận. Thứ ba, các khoản chi NSNN đều là các khoản cấp phát mang tính không hoàn trả trực tiếp, không phải trả giá hoặc hoàn lại cho Nhà nước.
Thứ tư, các khoản chi của NSNN có ảnh hưởng chặt chẽ tới mọi mặt của xã hội thường liên quan đến việc phát triển kinh tế, xã hội, tạo việc làm mới, thu nhập, giá cả và lạm phát.Chi NSNN là một bộ phận cấu thành luồng vận động tiền tệ và nó gắn liền với sự vận động của các phạm trù giá trị khác, như: giá cả, tiền lương, tỷ giá hối đoái… e 10 1. Vai trò và phân loại chi Ngân sách nhà nước 1. Vai trò chi Ngân sách Nhà nước Vai trò của chi NSNN là: điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế; giải quyết các vấn đề xã hội; góp phần ổn định thị trường chống lạm phát; tăng cường sức mạnh của bộ máy Nhà nước, bảo vệ đất nước và giữ gìn an ninh. Phân loại chi Ngân sách nhà nước Hệ thống chi NSNN rất đa dạng, phong phú và luôn biến động theo tình hình kinh tế xã hội và chính trị.
Phân loại các khoản chi NSNN là việc sắp xếp, nhóm các khoản chi NSNN có cùng tính chất, cùng mục đích thành các loại chi. Có nhiều tiêu chí để phân loại các khoản chi NSNN theo những mục tiêu quản lý nhất định. Căn cứ vào tính chất các khoản chi: bao gồm chi thường xuyên; chi đầu tư phát triển; chi trả nợ, viện trợ; chi dự trữ nhà nước. Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ: bao gồm chi cho đầu tư phát triển sản xuất và chi tiêu dùng.
Căn cứ theo tính chất cung cấp các hàng hóa và dịch vụ cho xã hội: bao gồm chi cung cấp hàng hóa và chi cung cấp dịch vụ. Căn cứ vào lĩnh vực chi người ta chia các khoản chi theo các loại: bao gồm chi cho y tế; chi cho giáo dục; chi cho phúc lợi; chi quản lý nhà nước và chi đầu tư kinh tế. KHÁI QUÁT VỀ DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN Theo Luật giá năm 2013: Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật [46] Dịch vụ là một trong những lĩnh vực rất rộng trong xã hội. Dịch vụ nằm trong cấu trúc nền sản xuất xã hội.
Ngoài lĩnh vực sản xuất cung ứng sản phẩm vật chất ra, sự đóng góp của khu vực dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng e 11 càng lớn trong tổng sản phẩm quốc dân. Theo đà phát triển ngày càng mạnh mẽ của ngành khoa học công nghệ, đặc biệt là sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và truyền thông, viễn thông, lĩnh vực dịch vụ vốn đã rất đa dạng lại có thêm phương tiện mới hữu hiệu-công nghệ web cho phép các ngành dịch vụ quảng bá, cung cấp dịch vụ trên môi trường điện tử. Theo khuynh hướng chung này, chính phủ các nước trên thế giới đưa việc cung cấp các dịch vụ của họ thông qua trang web hay cổng thông tin điện tử (portal), để phục vụ người dân và doanh nghiệp nhanh chóng và thuận tiện hơn nên gọi là dịch vụ công trục truyến (DVCTT). Dịch vụ công, dịch vụ công trực tuyến 1.
Dịch vụ công Thuật ngữ “dịch vụ công” lần đầu tiên được chính thức ghi nhận trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khoá VIII) (năm 1999) và đến Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX (năm 2001), thuật ngữ này lại được cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng khẳng định lại; Tiếp sau đó Quốc hội khoá XI đã thống nhất sử dụng thuật ngữ này trong việc quyết định các vấn đề về tổ chức và hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước khi thông qua Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001. Lần đầu tiên Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001 quy định: Chính phủ có nhiệm vụ cơ bản “Thống nhất quản lý việc xây dựng, phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ, các dịch vụ công” Nghị quyết 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục, thể thao khẳng định: Xã hội hoá nhằm phát huy tiềm năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động toàn xã hội chăm lo sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao. Các nhiệm vụ đẩy mạnh xã hội hóa chủ yếu gồm: Nhà nước đổi mới cơ chế chính sách, đổi mới phương thức cơ cấu đầu tư; Chuyển các cơ sở công e 12 lập đang hoạt động theo cơ chế sự nghiệp mang nặng tính hành chính bao cấp sang cơ chế tự chủ; Phát triển mạnh các cơ sở ngoài công lập với hai loại hình dân lập và tư nhân; Tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra. Như vậy, theo tinh thần các văn kiện của Đảng và Nhà nước, xã hội hoá chính là huy động nguồn lực từ trong nhân dân và sự tham gia của người dân vào việc giải quyết các vấn đề thuộc chính sách xã hội của Nhà nước, nhưng không làm giảm vai trò, trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo các dịch vụ công cơ bản cho người dân.
DVC cũng có thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp như sau: Theo nghĩa rộng, DVC là những dịch vụ, hàng hoá mà Nhà nước can thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu công bằng, hiệu quả. Theo đó, DVC là tất cả những hoạt động của Chính phủ nhằm thực hiện chức năng vốn có của mình, bao gồm các hoạt động ban hành chính sách, pháp luật, toà án,… cho đến những hoạt động y tế, giáo dục, giao thông công cộng. Theo nghĩa hẹp, DVC được hiểu là những hàng hoá, dịch vụ phục vụ trực tiếp nhu cầu của các tổ chức, công dân mà Chính phủ can thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng. Tuỳ theo trình độ phát triển cũng như quan niệm của từng nước mà phạm vi DVC ở mỗi nước có thể rộng, hẹp khác nhau.
Việc sử dụng khái niệm DVC theo phạm vi rộng hẹp phải nhằm hướng tới các mục tiêu phù hợp. Trong điều kiện của nước ta hiện nay, khái niệm DVC được hiểu theo nghĩa hẹp bởi các lý do: Do yêu cầu tách biệt giữa chức năng phục vụ trực tiếp và chức năng quản lý nhà nước của Nhà nước, để từ đó rút ra các biện pháp cải tiến thích hợp đối với từng loại hoạt động nói trên. Chức năng quản lý nhà nước bao gồm các hoạt động quản lý và điều tiết đời sống kinh tế-xã hội thông qua các công cụ quản lý vĩ mô như pháp luật, chiến lược, chính sách, kế hoạch, quy hoạch, kiểm tra, kiểm soát. Chức năng phục vụ trực tiếp bao gồm các hoạt e 13 động do Nhà nước cung ứng nhằm phục vụ trực tiếp các lợi ích thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân.
Công tác quản lý nhà nước là do nhu cầu của bản thân bộ máy nhà nước nhằm đảm bảo trật tự, ổn định và công bằng xã hội. Còn việc cung ứng DVC lại do nhu cầu cụ thể của các tổ chức và công dân, ngay cả khi các nhu cầu này có thể phát sinh từ những yêu cầu của Nhà nước. Do càng ngày người ta càng chú trọng hơn đến chức năng phục vụ của Nhà nước. Trước đây, chúng ta thường quan tâm đến chức năng cai trị hay chức năng quản lý nhà nước.
Trên thực tế, do bản chất của mình nên Nhà nước luôn phải tiến hành cung cấp công cộng một số dịch vụ phục vụ nhu cầu xã hội. Tuy nhiên, khi đó do nhận thức rằng: Nhà nước gắn liền với cai trị, có nghĩa là Nhà nước can thiệp, chỉ đạo trực tiếp lĩnh vực sản xuất và cung ứng DVC dưới hình thức xin-cho. Dịch vụ công trực tuyến Dịch vụ công trực tuyến hay còn gọi là dịch vụ công điện tử là DVC sử dụng hệ thống công nghệ thông tin và viễn thông để thực hiện các hoạt động của các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện chức năng quản lý hành chính của mình, cung cấp và đáp ứng các nhu cầu chung thiết yếu của công dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Cùng với việc sử dụng công nghệ thông tin và viễn thông, DVC điện tử đáp ứng mọi nhu cầu của công dân và tổ chức 24/7 (24h trong ngày và 7 ngày trong tuần), ở bất cứ nơi đâu có kết nối mạng internet, vượt qua mọi rào cản địa lý, không gian và thời gian.
Tuy nhiên, khái niệm DVCTT được hiểu ngắn gọn và rõ ràng như sau: Dịch vụ công trực tuyến là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác của cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng.