CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆPTHƯƠNG MẠI TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG 1. Khái niệm và vai trò hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và cả về phía con người (chủ thể). “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Kinh doanh bao gồm hai loại hình: kinh doanh sản xuất và kinh doanh dịch vụ” (Nguyễn Thừa Lộc, Trần Văn Bão, 2016).
“Hoạt động kinh doanh là việc sản xuất hoặc cung cấp bất kỳ dịch vụ gì đáp ứng một nhu cầu cụ thể của con người (ngoài thương mại còn nhiều loại dịch vụ khác) nhằm mục đích kiếm lời.Về cơ bản, hoạt động kinh doanh bao gồm hai đặc trưng sau đây: thứ nhất, nó bao gồm một hoặc một số khâu trong quá trình sản xuất sản phẩm – cung ứng dịch vụ; thứ hai, hoạt động kinh doanh nhằm mục tiêu sinh lời” (Nguyễn Ngọc Huyền, 2017). Hoạt động kinh doanh là hoạt động sinh lời của các doanh nghiệp. Đó có thể là doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, hộ cá thể, trang trại, các loại hình công ty… Do đó, người làm kinh doanh đòi hỏi phải biết cân nhắc và lựa chọn phương án tối ưu sao cho chi phí thấp nhất mà mang lại hiệu quả cao nhất. Hoạt động kinh doanh có tác dụng nhiều mặt đối với lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực tiêu dùng của xã hội.
“Thứ nhất, nó được tiến hành nhằm tạo ra sản phẩm, cung ứng vật tư hàng hoá và các dịch vụ cần thiết một cách đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, đúng số lượng, chất lượng một cách thuận lợi với quy mô ngày càng mở rộng, thỏa mãn nhu cầu thị trường và tạo ra giá trị gia tăng thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển; Thứ hai, hoạt động kinh doanh chính là các mắt xích của quá trình tái sản xuất mở rộng, liên kết chuỗi; 6 Thứ ba, hoạt động kinh doanh đào tạo một đội ngũ lao động có chuyên môn, có tay nghề, có ý thức tổ chức kỷ luật,…; Thứ tư, hoạt động kinh doanh tạo ra giá trị gia tăng cho xã hội, đóng góp ngân sách, tạo ra việc làm,… góp phần giải quyết các vấn đề của xã hội; Thứ năm, hoạt động kinh doanh đúng đắn có tác dụng định hướng tiêu dùng, tạo ra văn minh tiêu dùng” ( Nguyễn Ngọc Huyền, 2017). Điều kiện để thực hiện hoạt động kinh doanh thương mại 1. Vốn Trong bất cứ một hoạt động nào thì nhân tố vốn luôn là một nhân tố quan trọng, mọi kế hoạch về đầu tư, xây dựng, sản xuất kinh doanh… mà không có vốn thì cũng đều trở thành không tưởng. Đối với các doanh nghiệp, vốn có vai trò quyết định đến quy mô hoạt động của doanh nghiệp và được hình thành từ hai nguồn chính: Vốn tự có và vốn đi vay.
Vốn của doanh nghiệp được phân bổ dưới hai dạng chính là vốn cố định và vốn lưu động. Ngoài ra khả năng quay vòng vốn cũng rất quan trọng, cùng với một lượng cầu về sản lượng tương ứng với lượng vốn cần thiết nhất định nếu khả năng quay vòng vốn của doanh nghiệp càng cao thì lượng vốn cần cho mỗi kỳ càng ít và sẽ càng thuận lợi cho doanh nghiệp về vấn đề huy động vốn hơn. Cho nên đây cũng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cơ sở vật chất kĩ thuật Trong phạm vi môi trường kinh tế quốc dân, nhân tố kỹ thuật - công nghệ cũng đóng vai trò ngày càng quan trọng, mang tính chất quyết định đối với khả năng cạnh tranh, hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Cơ sở vật vật chất kĩ thuật của doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ cơ sở vật chất tham gia quá sản xuất, cung cấp hàng hóa dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Cụ thể như máy móc, nhà xưởng, công cụ bốc dỡ, xe vận chuyển hàng, máy fax, máy photo, máy in, điện thoại bàn, máy tính,. là các công cụ hỗ trợ không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Kỹ thuật – công nghệ mới thúc đẩy hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp phát triển theo hướng tăng nhanh tốc độ, đảm bảo sự ổn định bền vững trong hoạt động 7 kinh doanh và bảo vệ môi trường sinh thái.
Vì ảnh hưởng của nó đến các ngành, các doanh nghiệp là khác nhau nên phải phân tích tác động của nó đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thuộc ngành cụ thể nhất định. Nhân lực “Con người là yếu tố cốt lõi trong mọi hoạt động của các loại hình doanh nghiệp, quyết định sự thành công của các doanh nghiệp, các tổ chức ở mỗi quốc gia. Trong các doanh nghiệp, yếu tố này là cực kỳ quan trọng vì mọi quyết định liên quan đến quá trình quản trị chiến lược đều do con người quyết định, khả năng cạnh tranh trên thị trường mạnh hay yếu, văn hóa tổ chức tốt hay chưa tốt,… đều xuất phát từ con người. Vì vậy, nhân lực là yếu tố đầu tiên trong các nguồn lực mà các nhà quả trị của các doanh nghiệp có định hướng kinh doanh lâu dài cần xem xét, phân tích để quyết định nhiệm vụ, mục tiêu và những giải pháp cần thực hiện” (Đặng Đình Đào, Hoàng Đức Thân, 2013).
Nhân lực là lực lượng lao động sáng tạo của doanh nghiệp. Toàn bộ lực lượng lao động của doanh nghiệp bao gồm: lao động quản trị, lao động nghiên cứu và phát triển, đội ngũ lao động kỹ thuật trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất tác động rất mạnh và mang tính chất quyết định đến mọi hoạt động của doanh nghiệp. Do vai trò ảnh hưởng có tính chất quyết định của nguồn nhân lực, doanh nghiệp cần luôn chú trọng trước hết đến đảm bảo số lượng, chất lượng và cơ cấu của 3 loại lao động: các nhà quản trị cao cấp, các nhà quản trị cấp trung gian và cấp thấp và đội ngũ các thợ cả, nghệ nhân và công nhân có tay nghề cao. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần phải đảm bảo được các điều kiện vật chất, kỹ thuật cần thiết và tổ chức lao động sao cho tạo động lực phát huy hết tiềm năng của đội ngũ lao động này.
Quản lý tài chính Hoạt động tài chính là hoạt động mà bất kỳ doanh nghiệp nào dù sản xuất hay kinh doanh đều phải có. Nó liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng, bán hàng trả chậm, hoạt động đầu tư trái phiếu, tín phiếu, các khoản triết khấu thanh toán khi mua và bán hàng hay các hoạt động có liên quan đến thanh lý và thu hồi vốn góp liên doanh đầu tư vào công ty liên kết, các khoản chênh lệch ngoại tệ, chuyển nhượng tài chính và các hoạt động tài chính khác. 8 Quản lý tài chính là tất các hoạt động của doanh nghiệp nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn tài chính của doanh nghiệp. Quản lý tài chính có tầm quan trọng đối với doanh nghiệp vì: - Thứ nhất: kiểm soát dòng tài chính của mọi hoạt động hay sản xuất kinh doanh của tổ chức đó.
- Thứ hai: quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp và khả năng phát triển trong tương lai. Cụ thể, các vai trò thể hiện tầm quan trọng của quản trị tài chính trong doanh nghiệp như sau: Hoạch định tài chính trong doanh nghiệp. Vai trò đầu tiên của quản lý tài chính trong doanh nghiệp là hoạch định nguồn lực tài chính sẵn có của mình trên cơ sở tận dụng tối đa các đòn bẩy tài chính nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn hay nói cách khách là nâng cao lợi nhuận so với vốn đầu tư. Quyết định các khoản đầu tư và tài trợ.
Hoạch định không chưa đủ, lãnh đạo hay nhà quản trị tài chính phải quyết định phương pháp thực hiện hiệu quả, đồng thời xác định các khoản đầu tư và tài trợ cho hoạt động đầu tư vào tài sản, công nghệ, con người… như thế nào cho hợp lý. Để từ đó lợi nhuận được tăng trưởng phù hợp so với mức đầu tư vào tài sản cố định, máy móc hoặc từ việc nâng cấp công nghệ sản xuất hiện tại… để đáp ứng nhu cầu thị trường. Kiểm soát hoạt động và tình trạng doanh nghiệp thông qua kiểm soát dòng tiền. Hầu hết các hoạt động trong doanh nghiệp đều có tác động tới tài chính trong doanh nghiệp.
Do đó nhà quản trị thông qua dòng tiền có thể kiểm soát hầu hết các hoạt động đang diễn ra và hiệu quả của các hoạt động đó thông qua tình hình tài chính. Tổ chức bộ máy Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị là tổng hợp các bộ phận khác nhau có mối liên hệ và quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hoá, được giao những trách nhiệm và quyền hạn nhất định và được bố trí theo từng cấp nhằm thực hiện chức năng quản trị doanh nghiệp. Quản trị doanh nghiệp tác động mạnh mẽ đến hoạt động lao động sáng tạo của đội ngũ lao động, đến sự đảm bảo công bằng giữa doanh nghiệp với môi trường 9 bên ngoài cũng như cân đối có hiệu quả các bộ phận bên trong doanh nghiệp, mặt khác, giữa quản trị doanh nghiệp và chất lượng sản phẩm có mối quan hệ nhân quả,… nên tác động mạnh mẽ đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Quản trị lao động có chất lượng trước hết nếu như có cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị tốt.
Vì vây, doanh nghiệp cần chú trọng hai vấn đề chính. Một là, luôn đánh giá đúng thực trạng cơ cấu tổ chức quản trị doanh nghiệp trên cả hai mặt là hệ thống tổ chức và cơ chế hoạt động của nó. Hai là, khả năng thích ứng của cơ cấu tổ chức trước các biến động của môi trường kinh doanh. Ngoài ra, doanh nghiệp phải chú ý đánh giá tính hiệu quả của cơ cấu tổ chức thông qua các chỉ tiêu như: tốc độ ra quyết định, tính kịp thời và độ chính xác của các quyết định.
Nội dung các hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại 1. Nghiên cứu thị trường lựa chọn mặt hàng, lĩnh vực kinh doanh và lập kế hoạch kinh doanh Nghiên cứu thị trường là công cụ kinh doanh thiết yếu và là công việc cần làm trong một thị trường cạnh tranh, nơi có quá nhiều sản phẩm phải cạnh tranh gay gắt để giành sự chấp nhận mua hoặc sử dụng cuả khách hàng.