Tổng quan nghiên cứu

Đau cấp tính sau phẫu thuật nội soi cắt đại trực tràng là thách thức lâm sàng phổ biến, với khoảng 80% người bệnh phải trải qua cảm giác đau từ mức độ trung bình đến nặng trong những giờ đầu hậu phẫu nếu không được can thiệp kịp thời. Tình trạng đau không được kiểm soát tốt sẽ kích thích hệ thần kinh giao cảm, làm tăng tiêu thụ oxy cơ tim, suy giảm dung tích sống của phổi dẫn đến xẹp phổi và làm chậm quá trình phục hồi nhu động ruột. Mặc dù các kỹ thuật gây tê vùng như gây tê ngoài màng cứng hay gây tê mặt phẳng cơ ngang bụng mang lại hiệu quả nhất định, nhưng lại đòi hỏi trang thiết bị siêu âm hiện đại cùng kỹ năng chuyên sâu của bác sĩ gây mê hồi sức.

Luận văn chuyên khoa cấp II ngành Gây mê Hồi sức của tác giả Bùi Thị Thu Hường, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Bác sĩ Phan Tôn Ngọc Vũ tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021, tập trung giải quyết bài toán tối ưu hóa kiểm soát đau hậu phẫu bằng phương pháp dùng thuốc toàn thân thuận tiện và an toàn. Mục tiêu chính của đề tài là đánh giá hiệu quả giảm đau dự phòng của liều duy nhất pregabalin 150 mg đường uống trước mổ 2 giờ trên bệnh nhân phẫu thuật nội soi cắt đại trực tràng chương trình. Nghiên cứu được thực hiện trên 70 bệnh nhân tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ tháng 11 năm 2020 đến tháng 6 năm 2021. Đề tài hướng tới mục tiêu giảm ít nhất 30% tổng lượng morphine tiêu thụ trong 24 giờ đầu sau mổ, hạ thấp điểm đau trên thang điểm nhìn đồng dạng, hạn chế tối đa các tác dụng phụ của nhóm thuốc phiện và thúc đẩy quá trình hồi phục sớm theo tiêu chuẩn chăm sóc hiện đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết giảm đau dự phòng và chương trình tăng cường hồi phục sau phẫu thuật đại trực tràng. Giảm đau dự phòng là phương thức can thiệp thuốc trước khi xuất hiện kích thích tổn thương mô nhằm ức chế hiện tượng nhạy cảm hóa ngoại vi và nhạy cảm hóa trung ương của hệ thần kinh.

Trong cơ chế phân tử, pregabalin là dẫn xuất tương tự axit gamma-aminobutyric nhưng không gắn trực tiếp vào thụ thể GABA. Thuốc phát huy tác dụng nhờ liên kết chọn lọc và có ái lực cao với tiểu đơn vị alpha-2-delta-1 của kênh canxi phụ thuộc điện thế tại màng trước synap thần kinh. Sự gắn kết này làm giảm dòng ion canxi đi vào nội bào, từ đó ức chế giải phóng các chất dẫn truyền cảm giác đau như glutamate, chất P và peptid liên quan đến gen calcitonin. Đồng thời, pregabalin kích thích chất vận chuyển axit amin làm tăng hấp thu glutamate tại tế bào hình sao, giúp bảo vệ tế bào thần kinh khỏi tình trạng quá kích thích.

Đề tài vận dụng các khái niệm cốt lõi bao gồm:

  1. Mô hình giảm đau đa mô thức phối hợp nhiều nhóm thuốc tác động lên các vị trí tiếp nhận đau khác nhau.
  2. Phương thức kiểm soát giảm đau do người bệnh tự điều khiển bằng máy tiêm truyền tự động.
  3. Thang điểm nhìn đồng dạng từ 0 đến 10 điểm để định lượng mức độ đau khi nghỉ và khi vận động.
  4. Thang điểm an thần Ramsay để đánh giá mức độ ức chế thần kinh trung ương từ mức 1 đến mức 6.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài áp dụng thiết kế thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, có nhóm chứng, được triển khai tại Khoa Gây mê Hồi sức thuộc Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 11 năm 2020 đến tháng 6 năm 2021. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 70 người bệnh được phân bố ngẫu nhiên thành hai nhóm đồng đều: nhóm can thiệp gồm 35 bệnh nhân uống pregabalin 150 mg trước phẫu thuật 2 giờ và nhóm chứng gồm 35 bệnh nhân không sử dụng thuốc tiền mê.

Tiêu chuẩn lựa chọn bao gồm bệnh nhân từ đủ 18 đến 70 tuổi, được phân loại tình trạng sức khỏe theo Hội Gây Mê Hồi Sức Hoa Kỳ từ mức ASA I đến ASA III, tri giác tỉnh táo và đồng thuận tham gia. Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm các trường hợp suy giảm chức năng gan thận với độ thanh thải creatinine dưới 60 ml/phút, có tiền sử động kinh, đau mạn tính đang điều trị thuốc giảm đau dài hạn hoặc dị ứng với các thành phần của thuốc nghiên cứu.

Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo khối với kích thước khối bằng 4, sử dụng hàm tạo số ngẫu nhiên trong phần mềm Microsoft Excel để bảo đảm tính khách quan tuyệt đối. Quy trình gây mê toàn diện đặt nội khí quản được chuẩn hóa đồng nhất cho cả hai nhóm với propofol 1%, fentanyl và rocuronium. Cả hai nhóm đều được áp dụng phác đồ giảm đau đa mô thức kết hợp paracetamol 1000 mg truyền tĩnh mạch, nefopam 20 mg truyền tĩnh mạch và morphine 0,05 mg/kg trước khi đóng da 30 phút, sau đó duy trì giảm đau bằng máy PCA morphine cài đặt liều bolus 1 mg, thời gian khóa 15 phút và liều tối đa 4 mg mỗi giờ.

Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê chuyên dụng Stata 14. Phép kiểm Shapiro-Wilk được sử dụng để kiểm định phân phối chuẩn của các biến số định lượng. Các biến phân phối chuẩn được trình bày dưới dạng giá trị trung bình kèm độ lệch chuẩn và so sánh bằng phép kiểm T-student. Các biến phân phối không chuẩn được trình bày bằng trung vị kèm khoảng tứ phân vị và so sánh bằng phép kiểm phi tham số Mann-Whitney U. Các biến định tính được so sánh bằng phép kiểm Chi bình phương hoặc phép kiểm chính xác Fisher với mức ý nghĩa thống kê được xác lập khi giá trị p nhỏ hơn 0,05 ở khoảng tin cậy 95%.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu trên 70 bệnh nhân phẫu thuật nội soi cắt đại trực tràng đã mang lại những kết quả lâm sàng cụ thể và có ý nghĩa thống kê rõ nét:

  1. Tiết kiệm lượng morphine tiêu thụ trong 24 giờ đầu: Nhóm người bệnh sử dụng liều pregabalin 150 mg trước mổ ghi nhận mức tiêu thụ morphine tích lũy sau 24 giờ giảm khoảng 38% đến 45% so với nhóm chứng. Sự chênh lệch về nhu cầu sử dụng thuốc giảm đau nhóm opioid giữa hai nhóm thể hiện rõ nét từ thời điểm 4 giờ, 6 giờ và đạt mức khác biệt lớn nhất tại mốc 24 giờ hậu phẫu với giá trị p nhỏ hơn 0,001.

  2. Cải thiện điểm đau VAS khi nghỉ và khi vận động: Điểm đau trung bình theo thang điểm VAS khi nghỉ ngơi ở nhóm pregabalin duy trì ở mức đau nhẹ dưới 3 điểm xuyên suốt các mốc theo dõi 2 giờ, 4 giờ, 6 giờ và 24 giờ. Đặc biệt, khi người bệnh thực hiện các động tác vận động như ho sâu hoặc xoay trở người, điểm VAS của nhóm can thiệp thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng tại các thời điểm 2 giờ và 4 giờ đầu sau mổ.

  3. Giảm số lần yêu cầu thuốc giảm đau qua hệ thống PCA: Tổng số lần người bệnh tự bấm nút yêu cầu máy PCA cung cấp morphine tích lũy trong 24 giờ ở nhóm pregabalin giảm hơn 40% so với nhóm chứng. Khoảng thời gian từ lúc kết thúc phẫu thuật đến khi người bệnh có yêu cầu bấm liều giảm đau cứu hộ đầu tiên ở nhóm can thiệp kéo dài hơn đáng kể so với nhóm đối chứng.

  4. Mức độ an toàn cao và hạn chế biến chứng: Tỉ lệ xảy ra biến chứng suy hô hấp với tần số thở dưới 8 lần/phút hoặc chỉ số SpO2 dưới 90% là 0% ở cả hai nhóm. Tỉ lệ người bệnh bị an thần sâu ở mức Ramsay từ 4 trở lên không ghi nhận trường hợp nào. Nhóm can thiệp có xu hướng giảm tỉ lệ buồn nôn và nôn nhờ giảm lượng morphine tích lũy, trong khi tác dụng phụ chóng mặt nhẹ xuất hiện thoáng qua với tỉ lệ khoảng 5,7% và tự hồi phục mà không cần xử trí thuốc hỗ trợ.

Thảo luận kết quả

Hiệu quả giảm tiêu thụ morphine và hạ thấp điểm đau của pregabalin bắt nguồn từ khả năng phong bế các kênh canxi trước synap, ngăn chặn sự bùng phát của các chất gây viêm và giảm dẫn truyền tín hiệu đau lên vỏ não ngay từ trước khi có vết rạch da. Khi kết hợp với paracetamol và nefopam, pregabalin tạo nên tác động hiệp đồng trên nhiều tầng thụ cảm đau, mang lại hiệu quả kiểm soát cơn đau toàn diện mà không phụ thuộc quá mức vào opioid liều cao.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các công bố quốc tế uy tín. Nghiên cứu của Baloyiannis trên phẫu thuật nội soi cắt đại trực tràng ghi nhận liều pregabalin dự phòng giúp giảm 48% tổng lượng morphine trong 24 giờ đầu từ 17,50 mg xuống còn 9,17 mg. Tương tự, phân tích gộp của Mishky trên 4.155 bệnh nhân qua 55 thử nghiệm lâm sàng chỉ ra pregabalin giúp giảm trung bình 6,59 mg lượng morphine tiêu thụ trong phẫu thuật nội soi ổ bụng, đồng thời làm giảm tỉ lệ buồn nôn với tỉ số nguy cơ đạt mức 0,62. Tại Việt Nam, kết quả này vượt trội hơn so với một số nghiên cứu trên phẫu thuật mở bụng trên của các tác giả trước đó khi chỉ giảm được 10% lượng morphine do không thực hiện liều lặp lại hoặc do can thiệp xâm lấn quá lớn.

Các dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua hệ thống bảng biểu so sánh đặc điểm nhân trắc học, bảng phân bố bệnh lý nền ASA và biểu đồ đường thể hiện lượng morphine tích lũy qua các mốc thời gian 2 giờ, 4 giờ, 6 giờ và 24 giờ. Biểu đồ đường dốc tiêu thụ morphine ở nhóm chứng tăng nhanh trong 6 giờ đầu, trong khi đường biểu diễn của nhóm can thiệp pregabalin có độ dốc thoai thoải ổn định, minh chứng trực tiếp cho tính ưu việt của phương pháp giảm đau dự phòng.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Chuẩn hóa phác đồ tiền mê bằng pregabalin: Ban lãnh đạo bệnh viện và Hội đồng Thuốc & Điều trị cần phê duyệt bổ sung chỉ định uống 1 liều duy nhất pregabalin 150 mg trước phẫu thuật nội soi ổ bụng 2 giờ vào quy trình thường quy ERAS của Khoa Gây mê Hồi sức. Mục tiêu hướng tới là giảm tối thiểu 35% lượng morphine sử dụng trong 24 giờ hậu phẫu cho toàn bộ bệnh nhân phẫu thuật tiêu hóa chương trình từ quý 1 năm 2024.

  2. Thiết lập quy trình cá thể hóa liều dùng: Bác sĩ gây mê hồi sức cần thực hiện tính toán độ thanh thải creatinine định kỳ trước mổ cho tất cả bệnh nhân trên 60 tuổi hoặc có bệnh lý thận kèm theo. Trường hợp độ thanh thải từ 30 đến 60 ml/phút, cần chủ động hiệu chỉnh giảm liều pregabalin xuống mức 75 mg để bảo đảm an toàn sinh học và phòng tránh nguy cơ tích lũy thuốc gây ngủ gà kéo dài.

  3. Tăng cường phối hợp phác đồ đa mô thức không opioid: Đội ngũ điều trị cần duy trì nghiêm ngặt sự phối hợp giữa pregabalin đường uống với paracetamol truyền tĩnh mạch 1000 mg mỗi 6 giờ và nefopam 20 mg mỗi 8 giờ sau phẫu thuật. Giải pháp này giúp kiểm soát điểm đau VAS dưới 3 điểm, cho phép bệnh nhân tập hít thở sâu và vận động sớm ra khỏi giường ngay trong vòng 12 đến 18 giờ đầu sau phẫu thuật.

  4. Mở rộng chương trình đào tạo và nhân rộng tuyến cơ sở: Phòng Chỉ đạo tuyến phối hợp với Khoa Gây mê Hồi sức tổ chức 4 khóa tập huấn chuyên môn mỗi năm về kỹ thuật quản lý đau đa mô thức và hướng dẫn vận hành máy PCA an toàn cho các bệnh viện tuyến quận, huyện trong giai đoạn 2024 - 2026. Giải pháp này mang lại phương án giảm đau chi phí thấp, dễ thực hiện mà không cần phụ thuộc vào máy siêu âm đắt tiền như các kỹ thuật gây tê vùng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Bác sĩ chuyên khoa Gây mê Hồi sức: Nắm vững quy trình giảm đau dự phòng chuẩn mực bằng pregabalin, phương pháp lập trình thông số an toàn cho máy PCA morphine và phác đồ xử trí các tác dụng không mong muốn sau phẫu thuật nội soi đại trực tràng.

  2. Phẫu thuật viên Ngoại Tiêu hóa: Ứng dụng kết quả đề tài để phối hợp đa chuyên khoa trong quy trình ERAS, giúp bệnh nhân giảm đau vết mổ và đau do bơm hơi CO2, nhanh chóng hồi phục nhu động ruột và rút ngắn thời gian nằm viện từ 1 đến 2 ngày.

  3. Dược sĩ lâm sàng: Cập nhật dữ liệu dược động học, cơ chế gắn kết thụ thể alpha-2-delta-1, tương tác thuốc và bảng điều chỉnh liều pregabalin theo mức lọc cầu thận nhằm tư vấn sử dụng thuốc an toàn, kinh tế trong bệnh viện.

  4. Học viên sau đại học và nghiên cứu sinh Y khoa: Tham khảo mô hình thiết kế nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng chuẩn mực, cách thức xác định biến số lâm sàng và kỹ thuật phân tích số liệu y sinh học chuyên sâu bằng phần mềm Stata 14.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao pregabalin được chỉ định uống trước mổ 2 giờ thay vì sử dụng sau khi phẫu thuật kết thúc? Pregabalin hấp thu nhanh qua đường tiêu hóa và đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương sau khoảng 1 giờ. Cho người bệnh uống thuốc trước phẫu thuật 2 giờ giúp thuốc đạt nồng độ điều trị tối ưu trong máu và dịch não tủy ngay trước thời điểm rạch da, từ đó phát huy tối đa hiệu quả giảm đau dự phòng và ngăn chặn hiện tượng nhạy cảm hóa thần kinh trung ương.

  2. Pregabalin 150 mg có gây ức chế hô hấp nguy hiểm khi dùng chung với morphine không? Nghiên cứu lâm sàng trên 70 bệnh nhân ghi nhận tỉ lệ suy hô hấp là 0%, tần số thở và chỉ số SpO2 của tất cả người bệnh đều duy trì ở giới hạn sinh lý bình thường. Pregabalin không tác động lên trung tâm hô hấp mà còn giúp giảm hơn 38% nhu cầu morphine, qua đó gián tiếp làm giảm đáng kể nguy cơ ức chế hô hấp do opioid gây ra.

  3. Cần lưu ý điều gì khi dùng pregabalin cho bệnh nhân có bệnh lý thận mạn tính kèm theo? Khoảng 98% lượng pregabalin được đào thải qua thận ở dạng nguyên vẹn và không bị chuyển hóa qua gan. Do đó, với bệnh nhân có độ thanh thải creatinine từ 30 đến 60 ml/phút, bác sĩ cần giảm liều khởi đầu xuống 75 mg mỗi ngày; với bệnh nhân chạy thận nhân tạo, cần bổ sung liều từ 25 mg đến 50 mg ngay sau mỗi chu kỳ lọc máu.

  4. Phác đồ uống pregabalin có thể thay thế hoàn toàn kỹ thuật gây tê mặt phẳng cơ ngang bụng không? Pregabalin không thay thế hoàn toàn TAP block nhưng là giải pháp thay thế vô cùng hiệu quả tại các cơ sở y tế tuyến dưới chưa trang bị máy siêu âm. Uống pregabalin mang lại hiệu quả giảm morphine tương đương khoảng 40%, kỹ thuật đơn giản, chi phí thấp và tránh được nguy cơ ngộ độc thuốc tê toàn thân do dùng thể tích thuốc tê lớn.

  5. Việc sử dụng pregabalin có làm tăng đáng kể tổng chi phí điều trị của người bệnh không? Chi phí cho một viên pregabalin 150 mg dạng uống rất thấp trong cơ cấu chi phí phẫu thuật. Ngược lại, việc giảm tiêu thụ morphine giúp giảm thiểu các biến chứng buồn nôn, nôn, liệt ruột và rút ngắn thời gian theo dõi tại phòng hồi tỉnh, từ đó giúp tiết kiệm đáng kể tổng chi phí nằm viện và tiền thuốc điều trị biến chứng cho bệnh nhân.

Kết luận

  • Đề tài chứng minh uống liều duy nhất pregabalin 150 mg trước phẫu thuật 2 giờ giúp giảm khoảng 38% đến 45% tổng lượng morphine tiêu thụ trong 24 giờ đầu sau phẫu thuật nội soi cắt đại trực tràng.
  • Điểm đau theo thang điểm nhìn đồng dạng khi nghỉ và khi vận động ở nhóm can thiệp pregabalin thấp hơn rõ rệt so với nhóm chứng, đặc biệt trong 6 giờ đầu hậu phẫu.
  • Phương pháp có độ an toàn rất cao, không gây ức chế hô hấp, không gây an thần quá mức và làm giảm các tác dụng phụ nôn ói do hạn chế sử dụng thuốc phiện.
  • Luận văn đóng góp một phác đồ giảm đau dự phòng đa mô thức đơn giản, hiệu quả cao, chi phí thấp và có khả năng triển khai rộng rãi tại các bệnh viện từ tuyến trung ương đến tuyến huyện.
  • Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2024 đến năm 2025, các cơ sở y tế cần mở rộng nghiên cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn trên nhiều loại phẫu thuật nội soi ổ bụng khác nhau.

Hãy chủ động ứng dụng phác đồ giảm đau dự phòng với pregabalin vào quy trình chăm sóc ngoại khoa thường quy ngay hôm nay để nâng cao chất lượng điều trị và mang lại trải nghiệm hồi phục êm ái nhất cho người bệnh!