Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ y học với đề tài "Nghiên cứu giải phẫu và đối chiếu trong phẫu thuật nội soi tái tạo dây chằng chéo trước khớp gối bằng kỹ thuật một bó tất cả bên trong" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Trần Quốc Lâm (khóa 34) tại Trường Đại học Y Hà Nội, thuộc chuyên ngành Chấn thương chỉnh hình và tạo hình (mã số: 62720129), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Trung Dũng.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Đứt dây chằng chéo trước (DCCT) là một trong những thương tổn khớp gối phổ biến, đặc biệt ở nhóm người trẻ tuổi và vận động viên thể thao. Tổn thương này gây mất vững khớp gối, cản trở chức năng vận động và lao động, đồng thời nếu không được can thiệp kịp thời sẽ dẫn đến các biến chứng thứ phát nghiêm trọng như rách sụn chêm, tổn thương sụn khớp và thoái hóa khớp sớm. Phẫu thuật nội soi tái tạo DCCT đã trở thành tiêu chuẩn điều trị can thiệp cho những bệnh nhân có nhu cầu vận động cao, đặc biệt dưới 40 tuổi.
Sự phát triển kỹ thuật phẫu thuật nội soi tái tạo DCCT đặt ra yêu cầu cao về độ chính xác vị trí tạo đường hầm và kích thước mảnh ghép. Trong kỹ thuật tái tạo một bó truyền thống sử dụng gân cơ bán gân và gân cơ thon chập đôi, đường kính mảnh ghép thường dưới 8 mm, làm gia tăng nguy cơ thất bại cơ sinh học (các nghiên cứu đa trung tâm chỉ ra rằng nếu đường kính mảnh ghép giảm đi 1 mm thì tỷ lệ thất bại tăng 45,7%). Đồng thời, việc khoan tạo đường hầm xương không trùng khớp với diện bám giải phẫu gốc làm giảm độ vững vững xoay của khớp gối. Kỹ thuật "tất cả bên trong" (all-inside) với gân bán gân và gân thon chập bốn cho phép đạt đường kính mảnh ghép trên 8 mm với chiều dài gân chỉ từ 60 đến 70 mm, kết hợp tạo đường hầm xương cụt từ trong ra ngoài. Tại Việt Nam, trước thời điểm nghiên cứu, chưa có công trình nào khảo sát chi tiết đặc điểm giải phẫu diện bám DCCT người Việt nhằm đối chiếu và chuẩn hóa các mốc định vị cho kỹ thuật tái tạo một bó tất cả bên trong.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định hai mục tiêu cụ thể:
- Đo diện bám, kích thước của dây chằng chéo trước đối chiếu trong kỹ thuật tái tạo một bó tất cả bên trong.
- Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật nội soi tái tạo dây chằng chéo trước sử dụng gân cơ bán gân và gân cơ thon tự thân bằng kỹ thuật tất cả bên trong.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng giải phẫu: Khớp gối trên thi hài người trưởng thành tại Khoa Giải phẫu bệnh, Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn và Bộ môn Giải phẫu.
- Đối tượng lâm sàng: Bệnh nhân đứt dây chằng chéo trước được chỉ định và thực hiện phẫu thuật nội soi tái tạo DCCT bằng kỹ thuật một bó tất cả bên trong tại Khoa Chấn thương chỉnh hình, Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn.
- Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát các thông số hình thái học giải phẫu thực nghiệm và theo dõi, đánh giá kết quả lâm sàng, cận lâm sàng sau mổ 6 tháng.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu giải phẫu và vị trí tạo đường hầm
Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các mốc giải phẫu quan trọng của DCCT từ đại thể, vi thể đến các mốc định vị trong phẫu thuật:
- Cấu trúc bó và diện bám: Girgis và cộng sự (1975) mô tả DCCT gồm 2 bó chức năng: bó trước trong (AM) và bó sau ngoài (PL). Norwood và Cross (1979) nghiên cứu chức năng cắt lọc từng bó, ghi nhận bó AM chống trượt mâm chày ra trước, bó PL kiểm soát độ vững xoay và ưỡn gối. Mario Ferretti và cộng sự khảo sát diện bám đùi ghi nhận chiều dài 17,2 ± 1,2 mm, rộng 9,9 ± 0,8 mm; xác định gờ liên lồi cầu ngoài (gờ Resident) xuất hiện ở 100% ca và gờ chia đôi (lateral bifurcate ridge) xuất hiện ở 49/60 trường hợp.
- Định vị mốc xương lồi cầu đùi và mâm chày: Connor G. Ziegler và cộng sự xác định tâm diện bám đùi nằm sau gờ Resident 6,1 mm và trên gờ chia đôi 1,7 mm. Trên mâm chày, các mốc quan trọng gồm gờ RER (retro-eminence ridge), hố trước ngoài, gờ và lồi củ DCCT. Philippe Colombet và cộng sự (2007) xác định khoảng cách từ tâm bó AM tới gờ RER là 17,5 ± 1,7 mm, khoảng cách giữa tâm hai bó AM-PL là 8,4 ± 0,6 mm. Hwang M. và cộng sự chỉ ra tâm diện bám chày nằm tại 40% khoảng cách liên gai chày từ trong ra ngoài và trước dây chằng chéo sau khoảng 15 mm.
- Định vị trên X-quang: Bernard xác định tâm diện bám đùi trên phim X-quang nghiêng dựa trên đường Blumensaat (bó AM ở 26,4%, bó PL ở 32,4%). Colombet và cộng sự xác định tâm diện bám chày theo đường Amis-Jakob (tâm bó AM tại 36%, bó PL tại 52% tính từ bờ trước mâm chày).
| Tác giả |
Năm công bố |
Cỡ mẫu khớp gối |
Chiều dài x Chiều rộng diện bám đùi (mm) |
Chiều dài x Chiều rộng diện bám chày (mm) |
| Siebold và cs |
2008 |
46 xác tươi |
15,0 x 8,0 |
14,0 x 10,0 |
| Maestro và cs |
2009 |
50 xác tươi |
15,0 x 8,0 |
15,8 x 11,6 |
| Hensler và cs |
2012 |
77 gối (39 xác) |
12,01 x 9,52 |
15,36 x 11,03 |
| Kopf và cs |
2012 |
8 xác tươi |
- |
18,1 x 10,7 |
| Ahmad và Ali |
2013 |
12 xác tươi |
Diện tích AM: 63,83 mm²; PL: 49 mm² |
Diện tích AM: 63,87 mm²; PL: 51 mm² |
| Iwahashi và cs |
2013 |
22 gối (11 xác) |
Diện tích: 117,9 mm² |
Diện tích: 96,8 mm² |
| Smigielski R. |
2015 |
111 xác tươi |
Rộng (cách đùi 2mm): 16,0; Dày: 3,54 |
- |
| Trang Mạnh Khôi và cs |
2008 |
47 xác formol |
17,1 x 10,0 |
16,2 x 11,2 |
| Chu Văn Tuệ Bình |
2010 |
20 xác formol |
17,33 x 9,03 |
13,91 x 12,08 |
Sự phát triển của các kỹ thuật phẫu thuật và bằng chứng lâm sàng
Kỹ thuật tạo đường hầm trải qua ba giai đoạn: tạo đường hầm từ ngoài vào (outside-in / two incisions), tạo đường hầm từ trong ra (inside-out gồm kỹ thuật qua đường hầm chày - transtibial và qua lỗ vào trước trong - transportal), và kỹ thuật tất cả bên trong (all-inside). Kỹ thuật all-inside do Cerulli G. khởi xướng và phát triển nhờ các dụng cụ khoan ngược như mũi khoan Dual Retrocutter hay Flipcutter của hãng Arthrex, kết hợp phương tiện cố định treo vỏ xương (TightRope Button, RetroScrew).
| Tác giả lâm sàng |
Năm công bố |
Cỡ mẫu (BN) |
Thang điểm Lysholm |
Đánh giá độ vững / KT-1000 / Chức năng |
| Matthew Brown |
2013 |
97 |
Trước: 61,8; Sau 6T: 79,3; Sau 1N: 81,0 |
KOOS 1 năm: 82; Gấp gối 136°; 2 ca đứt lại |
| Seiji Watanabe |
2015 |
24 |
Trước: 56,0; Sau mổ: Tăng đáng kể |
Chênh lệch KT-1000 giảm từ 5,8 mm xuống 1,1 mm |
| Mark Schurz và cs |
2015 |
92 |
Trước: 53,0; Sau mổ: 92,0 (p < 0,001) |
IKDC: 44 lên 89; VAS: 5 xuống 0; KT-2000 chênh 1,3 mm |
| M. M. Omidian |
2016 |
20 |
Sau mổ: 91,0 |
Phục hồi chức năng tốt |
| K. Benea và cs |
2016 |
27 |
Sau mổ: 95,0 |
Tegner cải thiện từ 3,8 lên 6,4; vượt trội so với nhóm outside-in |
| Sam K. Yasen |
2016 |
108 |
Cải thiện tăng 30 điểm |
Theo dõi 30-66 tháng; KT-1000 chênh ≤ 2 mm; Đứt lại: 6,5% |
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn
Các công trình tại Việt Nam trước đây chủ yếu dừng lại ở việc khảo sát hình thái chung trên xác ướp formol hoặc đánh giá kỹ thuật mổ nội soi xuyên mâm chày truyền thống. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống kết hợp giữa giải phẫu thực nghiệm chi tiết (xác định tọa độ tâm diện bám so với các mốc xương) và ứng dụng trực tiếp đối chiếu trong phẫu thuật tái tạo một bó theo nguyên lý giải phẫu bằng kỹ thuật all-inside dùng gân Hamstring tự thân chập bốn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và giải phẫu ứng dụng
- Cấu trúc mô học chỗ bám: Gồm 4 lớp chuyển tiếp từ mềm sang cứng nhằm phân tán ứng lực: (1) Mô dây chằng nguyên vẹn; (2) Sụn xơ không khoáng hóa; (3) Sụn xơ khoáng hóa; (4) Đĩa xương dưới sụn.
- Mạch máu và thần kinh: Cấp máu chính bởi động mạch gối giữa (nhánh động mạch khoeo) và các nhánh động mạch gối dưới ngoài; chi phối thần kinh bởi nhánh khớp sau của thần kinh chày mang các thụ thể bản thể Golgi, Ruffini (thích nghi nhanh) và Pacini (thích nghi chậm).
- Vùng cơ gân chân ngỗng: Cơ may (thần kinh đùi), cơ thon (thần kinh bịt) và cơ bán gân (thần kinh ngồi). Vùng bám tận rộng 20 mm ở mặt trước trong đầu trên xương chày, cách lồi củ trước 19 mm và vào trong 22,5 mm. Lấy gân bán gân và gân thon không ảnh hưởng vận động do các cơ đồng vận hỗ trợ bù trừ.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm giải phẫu
- Quy trình phẫu tích: Mở khớp gối, bộc lộ toàn bộ DCCT, phân lập hai bó AM và PL, tiến hành đo chiều dài, đường kính và diện tích 1/3 giữa thân dây chằng.
- Xác định tâm diện bám: Cắt dây chằng sát diện bám lồi cầu đùi và mâm chày; bóc tách màng bề mặt; sử dụng phương pháp hình học cắt các dây cung để định vị tâm diện bám; đo khoảng cách từ tâm diện bám chung và tâm từng bó đến các mốc giải phẫu: gờ Resident, gờ chia đôi, gờ RER, hố trước ngoài, sừng trước sụn chêm ngoài.
Phương pháp nghiên cứu lâm sàng
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có can thiệp lâm sàng, theo dõi dọc.
- Quy trình phẫu thuật:
- Rạch da nhỏ vùng trước trong đầu trên xương chày, bộc lộ và lấy gân cơ bán gân cùng gân cơ thon.
- Bện gân chập bốn tạo mảnh ghép ngắn (60-70 mm) đạt đường kính mong muốn (>8 mm), chuẩn bị hệ thống chỉ treo TightRope.
- Nội soi khớp gối chẩn đoán, xử trí tổn thương sụn chêm kèm theo (cắt sửa hoặc khâu).
- Đặt dụng cụ định vị, dùng mũi khoan ngược Flipcutter khoan tạo đường hầm đùi và đường hầm chày dạng cụt từ trong ra ngoài theo vị trí giải phẫu gốc.
- Luồn mảnh ghép qua cổng nội soi, kéo căng và cố định vững chắc hai đầu bằng nút treo vỏ xương TightRope/Retro button.
- Công cụ thu thập và đánh giá:
- Lâm sàng: Biên độ gấp duỗi gối, nghiệm pháp Lachman, nghiệm pháp Pivot Shift, nghiệm pháp nhảy xa một chân, thang điểm đau VAS, thang điểm Lysholm, bảng đánh giá IKDC.
- Cận lâm sàng: X-quang thường quy sau mổ kiểm tra vị trí đường hầm theo đường Blumensaat (xương đùi) và đường Amis-Jakob (mâm chày); đo độ di lệch mâm chày ra trước bằng máy KT-1000 tại thời điểm 6 tháng sau mổ so sánh với trước mổ và chân lành.
- Phân tích thống kê y học và tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc đạo đức nghiên cứu y sinh học.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
Chương 1 tổng thuật toàn diện cơ sở giải phẫu học của DCCT từ mức độ đại thể, vi thể, hệ thống mạch máu - thần kinh chi phối đến cấu trúc bám tận tại lồi cầu ngoài xương đùi và mâm chày. Tác giả phân tích chi tiết giải phẫu chức năng của nhóm cơ chân ngỗng (cơ may, cơ thon, cơ bán gân) làm cơ sở cho việc lấy gân ghép.
Chương này cũng phân loại có hệ thống các kỹ thuật phẫu thuật nội soi tái tạo DCCT theo cách tạo đường hầm (outside-in, inside-out, all-inside), theo cấu trúc giải phẫu (tái tạo một bó truyền thống, một bó theo giải phẫu Mid-Mid, hai bó AM-PL), theo phương pháp cố định mảnh ghép (vít chèn, vít chốt ngang, nút treo TightRope, Retroscrew) và theo vật liệu gân ghép (tự thân, đồng loại, tổng hợp). Tác giả làm rõ các nghiên cứu giải phẫu trên xác và các báo cáo lâm sàng về kỹ thuật all-inside trong nước và quốc tế.
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 2 mô tả tường minh tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ cho cả hai phân hệ nghiên cứu giải phẫu và nghiên cứu lâm sàng. Địa điểm nghiên cứu được thực hiện đồng bộ tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn và Đại học Y Hà Nội.
Tác giả chi tiết hóa các bước phẫu tích đo đạc nhân trắc học giải phẫu, quy trình phẫu thuật nội soi một bó tất cả bên trong chuẩn hóa, phác đồ điều trị phục hồi chức năng sau mổ, các chỉ số đánh giá lâm sàng (Lysholm, IKDC, Lachman, Pivot Shift), kỹ thuật đo X-quang theo Blumensaat - Amis-Jakob, phương pháp đo khách quan độ lỏng gối bằng máy KT-1000 và quy trình xử lý số liệu y sinh học.
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 3 trình bày các số liệu thực nghiệm và kết quả lâm sàng thu được:
- Kết quả giải phẫu:
- Số bó DCCT, chiều dài và kích thước 1/3 giữa thân DCCT.
- Kích thước trung bình diện bám đùi và khoảng cách từ tâm diện bám đùi (tâm toàn bộ diện bám, tâm bó AM, tâm bó PL) đến gờ Resident và gờ chia đôi.
- Kích thước diện bám mâm chày và khoảng cách từ tâm diện bám chày (tâm toàn bộ diện bám, tâm bó AM, tâm bó PL) đến gờ RER, hố trước ngoài, gờ và lồi củ DCCT.
- Kết quả lâm sàng:
- Đặc điểm nhóm bệnh nhân nghiên cứu: tuổi trung bình, giới tính, nguyên nhân chấn thương, thời gian từ chấn thương đến mổ, tổn thương sụn chêm kèm theo.
- Kích thước mảnh ghép (đường kính luôn đạt mức tối ưu, chiều dài mảnh ghép), thời gian phẫu thuật, chiều dài các đường hầm xương cụt.
- Kết quả kiểm soát mức độ đau (VAS), tình trạng tràn dịch khớp, biên độ gấp duỗi gối sau mổ.
- Đánh giá phục hồi chức năng tại thời điểm 6 tháng: điểm Lysholm, xếp loại IKDC, nghiệm pháp nhảy xa một chân, kết quả nghiệm pháp Lachman, Pivot Shift.
- Đánh giá độ vững khớp gối bằng máy KT-1000: so sánh mức độ di lệch mâm chày ra trước trước mổ và sau mổ 6 tháng.
- Phân tích tương quan giữa các yếu tố ảnh hưởng (thời gian chấn thương, tổn thương sụn chêm kèm theo, đường kính mảnh ghép, vị trí đường hầm đùi/chày trên X-quang) với kết quả phục hồi chức năng khớp gối (Lysholm, IKDC), ghi nhận tai biến và biến chứng.
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN
Chương 4 tập trung phân tích, bàn luận và so sánh các kết quả giải phẫu của luận án với các công trình trên thế giới (Siebold, Maestro, Ziegler, Ferretti) và Việt Nam (Trang Mạnh Khôi, Chu Văn Tuệ Bình), giải thích sự tương đồng và khác biệt về nhân trắc diện bám của người Việt Nam.
Tác giả đi sâu thảo luận về kỹ thuật định vị đường hầm dựa trên các mốc xương trong mổ nội soi, tính ưu việt của mảnh ghép gân Hamstring chập bốn trong kỹ thuật all-inside giúp tăng đường kính mà không làm tăng độ dài gân lấy, ưu điểm xâm lấn tối thiểu của việc tạo đường hầm cụt bằng Flipcutter và độ vững cơ học của nút treo TightRope. Chương này phân tích chi tiết sự phục hồi động học khớp gối đo bằng máy KT-1000, mối liên quan mật thiết giữa vị trí đặt đường hầm giải phẫu với kết quả chức năng IKDC/Lysholm, cũng như đánh giá tính an toàn thông qua tỷ lệ biến chứng thấp.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt khoa học và lý luận
- Cung cấp hệ thống dữ liệu nhân trắc học giải phẫu chi tiết về kích thước diện bám đùi, diện bám chày, thân DCCT và khoảng cách chuẩn xác từ tâm diện bám tới các mốc xương định vị (gờ liên lồi cầu ngoài, gờ chia đôi, gờ RER, hố trước ngoài) trên người Việt Nam.
- Xác lập cơ sở khoa học cho việc tạo đường hầm theo nguyên lý giải phẫu (Mid-Mid / giải phẫu một bó), chứng minh việc đặt đường hầm vào tâm diện bám gốc giúp phục hồi động học khớp gối tốt hơn so với các phương pháp định vị đẳng trường truyền thống.
Đóng góp về mặt thực tiễn lâm sàng
- Chuẩn hóa quy trình phẫu thuật nội soi tái tạo DCCT một bó bằng kỹ thuật tất cả bên trong sử dụng gân cơ bán gân và gân cơ thon chập bốn tự thân tại Việt Nam.
- Giải quyết triệt để nhược điểm mảnh ghép đường kính nhỏ (< 8 mm) của kỹ thuật truyền thống; kỹ thuật all-inside cho phép tạo mảnh ghép chập bốn có đường kính lớn, bảo tồn xương nhờ cơ chế khoan đường hầm cụt từ trong ra ngoài bằng dụng cụ chuyên dụng (Flipcutter).
- Chứng minh tính hiệu quả và an toàn của phương pháp qua sự cải thiện rõ rệt các thang điểm lâm sàng (Lysholm, IKDC), phục hồi tầm vận động gối, kiểm soát mất vững xoay (Pivot Shift âm tính) và giảm thiểu độ di lệch ra trước của mâm chày đo bằng máy KT-1000 sau 6 tháng theo dõi.
Kiến nghị đề xuất
- Khuyến nghị ứng dụng các mốc giải phẫu xương trong mổ (gờ Resident, gờ chia đôi, gờ RER) để dẫn đường khoan tạo đường hầm chính xác trong phẫu thuật nội soi tái tạo DCCT.
- Nhân rộng triển khai kỹ thuật all-inside kết hợp nút treo vỏ xương TightRope tại các cơ sở chấn thương chỉnh hình có trang bị hệ thống nội soi và dụng cụ khoan ngược.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu lâm sàng được tiến hành tại một trung tâm phẫu thuật chuyên khoa (Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn), thời gian đánh giá kết quả chức năng khớp gối và độ vững mâm chày trên máy KT-1000 tập trung ở mốc 6 tháng sau mổ; nguồn gân nghiên cứu giới hạn ở gân Hamstring tự thân.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi dài hạn (2 năm, 5 năm) để đánh giá tỷ lệ đứt lại, nguy cơ thoái hóa khớp thứ phát và khả năng duy trì hoạt động thể thao đỉnh cao; mở rộng nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật all-inside cho các nguồn gân ghép khác hoặc các trường hợp phẫu thuật tái tạo lại khi DCCT bị đứt tái phát.
Giá trị tham khảo
- Bác sĩ phẫu thuật Chấn thương chỉnh hình và Nội soi khớp: Cung cấp tài liệu tham khảo thực hành chi tiết về các bước phẫu thuật, thông số định vị giải phẫu đường hầm và kỹ thuật xử lý mảnh ghép gân chập bốn cố định bằng TightRope.
- Giảng viên và Nghiên cứu sinh, Học viên sau đại học: Cung cấp nguồn tổng quan tài liệu phong phú, phương pháp luận nghiên cứu kết hợp giữa phẫu tích hình thái học thực nghiệm và can thiệp lâm sàng theo dõi dọc.
- Các nhà xây dựng hướng dẫn điều trị: Là cơ sở dữ liệu thực chứng trong nước phục vụ việc xây dựng và chuẩn hóa phác đồ điều trị tổn thương đứt dây chằng chéo trước khớp gối.
Câu hỏi thường gặp
1. Kỹ thuật tái tạo DCCT "tất cả bên trong" (all-inside) có những điểm khác biệt cơ bản nào so với kỹ thuật truyền thống?
Kỹ thuật all-inside tạo cả hai đường hầm xương đùi và xương chày đều từ trong khớp ra ngoài dưới dạng đường hầm cụt bằng các dụng cụ khoan ngược chuyên dụng (như Flipcutter), thay vì khoan thông hoàn toàn từ ngoài vào. Phương pháp này chỉ cần rạch da nhỏ, bảo tồn tối đa cấu trúc bè xương, sử dụng mảnh ghép ngắn (60-70 mm) chập bốn giúp tăng đường kính (> 8 mm) và cố định hai đầu bằng các nút treo vỏ xương (TightRope Button).
2. Các mốc giải phẫu xương chính nào được sử dụng để định vị đường hầm lồi cầu đùi và mâm chày trong luận án?
Ở lồi cầu ngoài xương đùi, hai mốc chính là gờ Resident (gờ liên lồi cầu ngoài) và gờ chia đôi (lateral bifurcate ridge). Ở mâm chày, các mốc quan trọng bao gồm gờ RER (retro-eminence ridge - nằm ngay trước diện bám dây chằng chéo sau), hố trước ngoài, gờ và lồi củ DCCT.
3. Tại sao đường kính mảnh ghép gân Hamstring lại là yếu tố sống còn trong phẫu thuật tái tạo DCCT?
Các nghiên cứu đa trung tâm quốc tế đã chứng minh nếu đường kính mảnh ghép gân nhỏ hơn 8 mm thì nguy cơ đứt lại dây chằng tăng cao; cụ thể, đường kính mảnh ghép cứ giảm đi 1 mm thì tỷ lệ thất bại sau phẫu thuật tăng lên 45,7%. Kỹ thuật all-inside chập bốn gân bán gân và gân thon giúp giải quyết triệt để nguy cơ này.
4. Vị trí đường hầm trên X-quang được kiểm tra và đối chiếu bằng các phương pháp nào?
Trên phim chụp X-quang khớp gối tư thế nghiêng chuẩn sau mổ, vị trí đường hầm xương đùi được đánh giá dựa trên đường Blumensaat theo phương pháp của Bernard; vị trí đường hầm mâm chày được xác định dựa trên đường Amis-Jakob tính theo tỷ lệ phần trăm từ bờ trước ra bờ sau mâm chày.
5. Kết quả phục hồi độ vững và chức năng khớp gối sau mổ được đánh giá thông qua những tiêu chí khách quan nào?
Độ vững khớp gối được đánh giá qua các nghiệm pháp lâm sàng chuyên biệt (Lachman, Pivot Shift), nghiệm pháp chức năng (nhảy xa một chân) và phép đo khách quan độ di lệch mâm chày ra trước bằng máy KT-1000 tại thời điểm 6 tháng sau mổ; chức năng khớp gối toàn diện được lượng hóa qua thang điểm Lysholm và bảng phân loại chuẩn quốc tế IKDC.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Trần Quốc Lâm là công trình nghiên cứu chuyên khảo kết hợp chặt chẽ giữa hình thái giải phẫu thực nghiệm và thực hành ngoại khoa chấn thương chỉnh hình tại Việt Nam. Luận án đã xác lập hệ thống dữ liệu nhân trắc diện bám DCCT người Việt, cung cấp cơ sở định vị chính xác đường hầm theo giải phẫu trong phẫu thuật nội soi. Đồng thời, nghiên cứu khẳng định kỹ thuật tái tạo DCCT một bó tất cả bên trong sử dụng gân Hamstring tự thân chập bốn là phương pháp điều trị hiệu quả, an toàn, giúp tối ưu hóa kích thước mảnh ghép, phục hồi vững chắc động học khớp gối và cải thiện chức năng vận động cho người bệnh.