CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN YHHĐ VỀ THOÁI HÓA CỘT SỐNG CỔ 1. Định nghĩa Thoái hóa cột sống cổ (Cervical spondylosis) là bệnh lý mạn tính khá phổ biến, tiến triển chậm, thường gặp ở người lớn tuổi và/hoặc liên quan đến tư thế vận động. Tổn thương cơ bản của bệnh là tình trạng thoái hóa sụn khớp và/hoặc đĩa đệm ở cột sống cổ [32].
Có thể gặp thoái hóa ở bất kỳ đoạn nào song đoạn C5-C6-C7 là thường gặp nhất [32]. Nguyên nhân Quá trình lão hóa của tổ chức sụn, tế bào và tổ chức khớp và quanh khớp (cơ cạnh cột sống, dây chằng, thần kinh…) [20],[27],[32]. Tình trạng chịu áp lực quá tải kéo dài của sụn khớp. Theo thời gian, sự thay đổi này có thể đè và nén xuống một hoặc nhiều rễ thần kinh chui ra từ lỗ liên hợp.
Trong những trường hợp rất nặng, còn có sự tham gia tổn thương của tủy sống, làm ảnh hưởng đến không chỉ tay mà còn xuống đến chân của người bệnh [32]. Yếu tố nguy cơ chính của thoái hóa cột sống cổ là tuổi tác. Ở Những người 60 tuổi trở đi, hầu hết đều phát hiện dấu hiệu thoái hóa cột sống cổ trên phim X quang. Các yếu tố gây nguy cơ khác là [11]: - Người thừa cân và không tập thể dục.
- Bất động cổ lâu ở một tư thế. - Người khiêng vác nặng, hoặc người có công việc đòi hỏi phải vặn, xoắn cổ nhiều. - Biểu hiện khác: dễ cáu gắt, thay đổi tính tình, rối loạn giấc ngủ, giảm khả năng làm việc. Lâm sàng [32] Biểu hiện rất đa dạng, thường gồm bốn hội chứng chính sau: Hội chứng cột sống cổ: đau, có thể kèm theo co cứng vùng cơ cạnh cột sống cổ cấp hoặc mạn tính; triệu chứng đau tăng lên ở tư thế cổ thẳng hoặc cúi đầu kéo dài, mệt mỏi, căng thẳng, lao động nặng, thay đổi thời tiết đặc biệt bị nhiễm lạnh; có điểm đau cột sống cổ; hạn chế vận động cột sống cổ.
Hội chứng rễ thần kinh cổ: tùy theo vị trí rễ tổn thương (một bên hoặc cả hai bên) mà đau lan từ cổ xuống tay bên đó. Có thể đau tại vùng gáy, đau quanh khớp vai. Đau sâu trong cơ xương, bệnh nhân có cảm giác nhức nhối; có thể kèm cảm giác kiến bò, tê rần dọc cánh tay, có thể lan đến các ngón tay. Đau tăng lên khi vận động cột sống cổ ở các tư thế (cúi, ngửa, nghiêng, quay) hoặc khi ho, hắt hơi, ngồi lâu… Có thể kèm theo hiện tượng chóng mặt, yếu cơ hoặc teo cơ tại vai, cánh tay bên tổn thương.
Hội chứng động mạch đốt sống: nhức đầu vùng chẩm, thái dương, trán và hai hố mắt thường xảy ra vào buổi sáng; có khi kèm chóng mặt, ù tai, hoa mắt, mờ mắt, nuốt vướng; đau tai, lan ra sau tai, đau khi để đầu ở một tư thế nhất định. Hội chứng ép tủy: tùy theo mức độ và vị trí tổn thương mà biểu hiện chỉ ở chi trên hoặc cả thân và chi dưới. Dáng đi không vững, đi lại khó khăn; yếu hoặc liệt chi, teo cơ ngọn chi, dị cảm. Tăng phản xạ gân xương.
Biểu hiện khác: dễ cáu gắt, thay đổi tính tình, rối loạn giấc ngủ, giảm khả năng làm việc… Tùy theo vị trí cột sống cổ bị tổn thương mà có thể xuất hiện riêng lẻ hoặc đồng thời các biểu hiện trên. Cận lâm sàng [32] Các xét nghiệm phát hiện dấu hiệu viêm, bilan phosphor - calci thường ở trong giới hạn bình thường. Tuy nhiên cần chỉ định xét nghiệm bilan viêm, các xét nghiệm cơ bản nhằm mục đích loại trừ những bệnh lý như viêm nhiễm, bệnh lý ác tính và cần thiết khi chỉ định thuốc. X quang cột sống cổ thường quy với các tư thế sau: thẳng, nghiêng, chếch ¾ trái và phải.
Trên phim X quang có thể phát hiện các bất thường: mất đường cong sinh lý, gai xương ở thân đốt sống, giảm chiều cao đốt sống, đĩa đệm, đặc xương dưới sụn, hẹp lỗ liên hợp… Chụp cộng hưởng từ (MRI) cột sống cổ: phương pháp có giá trị nhất nhằm xác định chính xác vị trí rễ bị chèn ép, vị trí khối thoát vị, mức độ thoát vị đĩa đệm, mức độ hẹp ống sống, đồng thời có thể phát hiện các nguyên nhân ít gặp khác (viêm đĩa đệm đốt sống, khối u, …). Chụp CT-scan: do hiệu quả chẩn đoán kém chính xác hơn nên chỉ được chỉ định khi không có điều kiện chụp cộng hưởng từ. Điện cơ: giúp phát hiện và đánh giá tổn thương các rễ thần kinh. Chẩn đoán xác định [33] Đánh giá X quang định tính về thoái hóa cột sống cổ đã được nghiên cứu trong dân số bình thường.
Kellgren et al đã phát triển một bộ tiêu chí để phân loại thoái hóa cột sống dựa trên X quang cột sống cổ bên trong một mẫu dân số bình thường. Việc phân loại thang điểm gồm năm cấp, từ 0 không bị thoái hóa, cho đến cấp 4 hẹp khe gian đốt sống nghiêm trọng, đặc xương dưới sụn và gai xương nặng. Gore et al đã mở rộng các tiêu chí chấm điểm cho sự thay đổi thoái hóa để bao gồm ba tham số: hẹp khe gian đốt sống, đặc xương dưới sụn và thoái hóa xương. Độ 0 không bị hẹp khe gian đốt sống, không bị đặc xương dưới sụn và không hình thành gai xương.
Độ I giảm 25% diện tích trong việc hẹp khe gian đốt sống, đặc xương dưới sụn và hình thành gai xương. Độ II giảm 50% diện tích trong việc hẹp khe gian đốt. 7 sống, đặc xương dưới sụn vừa phải và hình thành gai xương kích thước vừa phải. Độ III là hẹp khe gian đốt sống 75%, đặc xương dưới sụn nghiêm trọng và hình thành gai xương nhiều.
Yếu tố Phân độ thoái hóa cột sống cổ (CDI) 0 1 2 3 Hẹp khe 0 - 25 25 - 50 50 - 75 75 - 100 gian đốt sống (%) Đặc xương Không Ít Trung bình Nặng dưới sụn Gai xương Không Nhỏ, <2 Trung bình Lớn, >4 mm mm 2 – 4 mm Bảng 1.1 Phân độ thoái hóa cột sống cổ (CDI). ĐAU CỔ GÁY THEO YHHĐ 1. Định nghĩa Theo Hiệp hội nghiên cứu đau quốc tế (International Association for the Study of Pain): Đau cổ gáy là các cơn đau nằm trong khu vực được giới hạn trên bởi đường cong chẩm trên, giới hạn dưới bởi đường thẳng ngang qua mỏm gai đốt sống ngực 1 và giới hạn hai bên bởi thành bên của cổ [39]. Đau cổ gáy được phân loại theo nhiều cách.
Nếu phân chia theo mốc giải phẫu, đau cổ gáy được chia thành đau cột sống cổ trên và đau cột sống cổ dưới, với mốc phân chia là mặt phẳng ngang đi qua trung điểm của đoạn thẳng nối từ ụ chẩm đến mỏm gai đốt sống ngực 1 [39]. Phân chia theo mốc thời gian, thì đau cổ cấp có thời gian đau dưới 6 tuần [44]. TỔNG QUAN YHCT VỀ THCS CỔ 1. Nguyên nhân Đau cổ cấp trong bệnh lý Thoái hóa khớp với biểu hiện đau thuộc phạm vi chứng “tý” của y học cổ truyền [19],[21].
“Tý” nghĩa là đóng lại, là bế tắc. Sách “Hoàng đế Nội kinh tố vấn, Tý luận” viết: “Ba thứ tà khí phong, hàn, thấp cùng xâm nhập, hỗn hợp nhau mà thành. Trong đó có phong nặng hơn thì gọi là hành tý, hàn nặng hơn thì gọi là thống tý, thấp nặng hơn thì được gọi là trước tý. Mùa đông bị bệnh thì gọi là cốt tý, mùa xuân bị bệnh thì gọi là cân tý, mùa hạ bị bệnh thì gọi là mạch tý, cuối hạ bị bệnh thì gọi là cơ tý, mùa thu bị bệnh thì gọi là bì tý” [10].
Nói về nguyên nhân gây bệnh, “Hoàng Đế Nội Kinh tố vấn, Tý luận” viết: “Thử diệc kỳ thực ẩm cư xử, vi kỳ bệnh bản dã; lục phủ diệc các hữu du, phong hàn thấp khí trúng kỳ du, nhi thực ẩm ứng chi, tuần du nhi thập ác kỳ xá phủ dã”. Nghĩa là “Cách ăn ở là nguyên nhân căn bản của tật bệnh. Lục phủ cũng đều có du huyệt, tà khí phong hàn thấp trúng vào du huyệt ở ngoài, mà ở trong lại bị thương về ăn uống; trong ngoài tập hợp với nhau, bệnh tà sẽ theo du huyệt mà xâm nhập vào đều đóng lại ở phủ của huyệt đó” [10]. Theo Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, điều cốt yếu của chứng tý ý là do bên trong cơ thể bị hư suy, hai kinh can thận bị suy yếu khiến cho tinh huyết giảm, không nuôi dưỡng được gân xương, tà khí thừa cơ xâm nhập vào cơ thể mà gây nên bệnh.
Sách Nội kinh có chia ra 5 chứng tý, nhưng tóm lại không ngoài ba khí phong hàn thấp gây nên. Như vậy, nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh gây thoái hóa khớp theo y học cổ truyền bao gồm [10]: - Do tuổi cao, thận khí hư, vệ khí hư yếu. Vệ ngoại bất cố làm cho tà khí (phong, hàn, thấp, nhiệt) xâm nhập vào cơ thể, tà khí ứ lại ở cơ nhục, cân mạch, kinh lạc làm khí huyết không thông mà gây nên chứng “tý”. 10 - Do tuổi cao, chức năng của các tạng trong cơ thể hư suy; Hoặc do ốm đau lâu ngày; hoặc do bẩm tố cơ thể tiên thiên bất túc; do phòng dục quá độ khiến cho thận tinh hao tổn, thận hư không nuôi dưỡng được can âm, âm dẫn tới can huyết hư.
Thận hư không chủ được cốt tủy, can huyết hư không nuôi dưỡng được cân gây nên chứng “tý”. Do lao động nặng nhọc, gánh vác lâu ngày; hoặc do tuổi đã cao, cơ nhục yếu, lại thêm vận động sai tư thế; hoặc do ngã đập. làm tổn thương kinh mạch. Kinh mạch bị tổn thương dẫn tới đường đi của khí huyết không thông, khí huyết ứ lại gây chứng “tý”.
Triệu chứng biểu hiện với tình trạng đau vùng cổ gáy, tăng khi trời lạnh, ngồi làm việc kéo dài, vận động. Các thể lâm sàng theo YHCT: 1. Thể phong hàn thấp Nguyên nhân thường gặp là do lạnh, thường vào mùa thu đông. Bệnh khởi phát đột ngột, cổ, vai, lưng, chi trên đau khó chịu, có cảm giác co thắt, cứng cổ gáy, cử động khó khăn hoặc không dám cử động, vùng cổ gáy sợ lạnh, gặp lạnh đau tăng, giảm đau khi gặp nóng.
Lưỡi nhạt, rêu trắng mỏng, mạch phù khẩn [48]. Thể khí huyết ứ trệ Đau cổ, vai, lưng, lan 2 tay, đau căng cứng, dữ dội, cự án, không dám cử động cổ do đau, có thể ảnh hưởng đến giấc ngủ. Chất lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết, mạch huyền hoặc tế sáp [48].