Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ kinh tế "Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá trung tâm trách nhiệm quản lý trong các doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất Cao su Việt Nam" do nghiên cứu sinh Lương Thị Thanh Việt thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội, năm 2018), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Minh Phương, thuộc chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán - Phân tích (Mã số: 9340301).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Ngành sản xuất cao su giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu liên tục đạt trên 1,5 tỷ USD/năm tính từ năm 2006 đến thời điểm nghiên cứu. Việt Nam là quốc gia đứng thứ 4 thế giới về xuất khẩu mủ cao su (sau Thái Lan, Indonesia, Malaysia), sản phẩm có mặt tại hơn 40 quốc gia, và giá trị xuất khẩu đứng thứ hai trong nhóm hàng nông sản nội địa (chỉ sau gạo). Tuy nhiên, từ năm 2013, các doanh nghiệp cao su trong nước đối mặt với nhiều khó khăn do khủng hoảng kinh tế, thị trường tiêu thụ chậm và giá cao su giảm sâu. Các diễn đàn kinh tế do Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA) và Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG) tổ chức đã chỉ ra các nguyên nhân nội tại: thị trường xuất khẩu phụ thuộc lớn vào Trung Quốc, thị trường tiêu thụ nội địa chưa đủ lớn, và công tác quản trị nội bộ chưa khai thác tối ưu nguồn lực sẵn có.

Phần lớn các doanh nghiệp sản xuất cao su chưa chú trọng đúng mức đến khâu đo lường, đánh giá kết quả hoạt động cũng như chưa xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm của từng bộ phận liên quan để phục vụ việc ra quyết định quản trị ngắn hạn và dài hạn. Trong khi đó, kế toán trách nhiệm (KTTN) với tư cách là một phân hệ quan trọng của kế toán quản trị có chức năng cung cấp hệ thống chỉ tiêu đánh giá các trung tâm trách nhiệm (TTTN) quản lý vẫn còn là vấn đề mới mẻ tại Việt Nam. Do đó, việc xây dựng và triển khai một hệ thống chỉ tiêu đánh giá TTTN quản lý phù hợp với đặc thù chuỗi giá trị ngành sản xuất cao su là yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá TTTN quản lý trong các doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất Cao su Việt Nam, nhằm cung cấp cơ sở cho nhà quản trị đo lường, đánh giá thành quả, quyền hạn, trách nhiệm và đưa ra các quyết định kinh doanh phù hợp.

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể được xác định gồm 3 nội dung:

  1. Tổng kết những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán TTTN quản lý, nội dung và phương pháp xác định hệ thống chỉ tiêu đánh giá TTTN quản lý trong các doanh nghiệp sản xuất nhằm xây dựng nền tảng khoa học cho luận án.
  2. Nghiên cứu, khảo sát và đánh giá thực trạng vận dụng hệ thống chỉ tiêu đánh giá TTTN quản lý trong các doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất Cao su Việt Nam.
  3. Đề xuất phương hướng và xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá TTTN quản lý phù hợp với các doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất Cao su Việt Nam.

Để thực hiện các mục tiêu trên, luận án giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Những lý luận cơ bản về đặc điểm hoạt động kinh doanh, phân cấp quản lý và hệ thống chỉ tiêu đánh giá TTTN quản lý trong các doanh nghiệp sản xuất là gì?
  2. Thực trạng vận dụng hệ thống chỉ tiêu đánh giá TTTN quản lý và mức độ đáp ứng nhu cầu thông tin quản trị nội bộ của các doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất Cao su Việt Nam hiện nay như thế nào?
  3. Những đề xuất nào hữu hiệu cho việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá TTTN quản lý trong các doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất Cao su Việt Nam?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Nội dung và phương pháp xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá TTTN quản lý nhằm hỗ trợ doanh nghiệp quản trị hoạt động kinh doanh.
  • Phạm vi nội dung: Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá TTTN quản lý trong các doanh nghiệp sản xuất cao su.
  • Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất Cao su Việt Nam thực hiện nhiệm vụ trồng trọt và sơ chế mủ cao su thành phẩm đang hoạt động tại Việt Nam (không bao gồm các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài - FDI) có quy mô từ trung bình trở lên.
  • Phạm vi thời gian: Quá trình tìm hiểu, khảo sát, thu thập, xử lý dữ liệu và đánh giá thực tế được thực hiện trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2017.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây được điểm lại

Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về kế toán trách nhiệm và hệ thống chỉ tiêu đánh giá TTTN quản lý theo tiến trình lịch sử và nội dung chuyên môn:

Nghiên cứu quốc tế về kế toán trách nhiệm và trung tâm trách nhiệm:

  • Khởi nguồn và bản chất KTTN: Gordon (1963), Ferrara (1964), Chanko (1967), Callen & Livnat (1989), Burton (1994), Ali & Fowzia (2009) khẳng định KTTN là tiền đề để kiểm soát chi phí và đánh giá trách nhiệm. Phillippe (1959) và Dowd (2001) tiếp cận KTTN dưới góc độ thu thập dữ liệu và kiểm soát hoạt động. Fowzia (2011) bổ sung khía cạnh đo lường và đánh giá thành quả lao động của nhân viên và TTTN.
  • Các yếu tố cấu thành KTTN: Gordon (1963) xác định 4 yếu tố (TTTN quản lý gồm TTCP, TTDT, TTLN; nguyên tắc định giá chuyển nhượng nội bộ; quy định hành chính giới hạn quyền hạn - trách nhiệm; hệ thống khen thưởng thúc đẩy). Fowzia (2011) bổ sung thêm việc thiết lập hệ thống chỉ tiêu tiêu chuẩn và đánh giá thành quả làm căn cứ khen thưởng. Lindkvis & Llewellyn (2003) phân tích mối quan hệ giữa phân công trách nhiệm và cá nhân hóa trách nhiệm. Về tổ chức tài khoản, Chanko (1967) và Muthulaklshmi (2014) đề xuất xây dựng hệ thống mã tài khoản KTTN riêng biệt (khoảng 10 ký tự) phục vụ thu thập dữ liệu theo cấp bậc trách nhiệm (Vos & O'Connell, 1968).
  • Quy trình triển khai KTTN: Anstine & Scott (1980) đúc kết 7 bước triển khai KTTN qua thực nghiệm 18 tháng tại Công ty Dầu khí AOGC (với 375 TTCP). Kellogg (1962) đưa ra 4 nguyên tắc tích hợp KTTN vào hệ thống quản lý chung.
  • Báo cáo KTTN: Cox và cộng sự (1989) nêu 4 nội dung cốt lõi của báo cáo KTTN (đối tượng kiểm soát, tiêu chuẩn so sánh, kết quả thực tế, chênh lệch thực hiện so với dự toán). Phillippe (1959) và Ferrara (1964) phân loại báo cáo theo 3 cấp độ (công nhân, phòng ban, nhà máy); trong khi Clarke (1961) và Muthulaklshmi (2014) cho rằng số cấp báo cáo phải linh hoạt theo mức độ phân cấp thực tế của từng đơn vị.
  • Phân loại TTTN và nhân tố ảnh hưởng: Sarkar & Yeshmin (2005) khảo sát thấy 33% doanh nghiệp duy trì 4 loại TTTN (TTCP, TTDT, TTLN, TTĐT) và 30% duy trì 3 loại. Schoute (2008) và ACCA (2010) khuyến nghị mô hình 4 TTTN. El-shishini (2000) khảo sát 750 doanh nghiệp tại Anh (thu về 251 phản hồi hợp lệ, tỷ lệ 33,47%) và xác định 6 nhân tố tác động đến mức độ chịu trách nhiệm của nhà quản trị (quy mô doanh nghiệp, mức độ phân cấp, kiểu phân cấp, mức độ phân quyền, mức độ tự chủ, mức độ phối hợp). Lin & Yut (2002) đưa ra quy trình 4 bước đánh giá TTTN; Muthulaklshmi (2014) cụ thể hóa thành 13 bước đo lường.

Nghiên cứu về phương pháp và chỉ tiêu đánh giá theo tiến trình thời gian (Neely & Austin, 2002):

  • Giai đoạn trước năm 1980: Đánh giá chủ yếu dựa vào các chỉ tiêu tài chính, xuất phát từ bối cảnh cầu vượt cung sau Thế chiến thứ hai (Burgess, 1990; Kendrick, 1984; Sink, 1985). Reece & Cool (1978) chỉ ra 65% doanh nghiệp dùng ROI và chỉ 2% dùng RI để đánh giá TTĐT do ROI mang tính tương đối, thuận tiện so sánh giữa các bộ phận.
  • Giai đoạn từ năm 1980 đến nay: Cung vượt cầu thúc đẩy sự ra đời của các mô hình đo lường hiệu suất kết hợp chỉ tiêu tài chính và phi tài chính (Dixon và cộng sự, 1990; Briggs, Claiboborne, Cole, 2006; Wiersma, 2008; Kaplan & Norton, 1992, 1996a). Các mô hình tiêu biểu gồm: Ma trận đo lường hiệu suất PMM (Keegan, Eiler & Jones, 1989); Kim tự tháp hiệu suất SMART (Lynch & Cross, 1991); Ma trận nhân tố ảnh hưởng và kết quả R&DM; Mô hình Đầu vào - Quy trình - Đầu ra - Kết quả (Brown, 1996); Bảng điểm cân bằng BSC (Kaplan & Norton); Lăng kính hiệu suất (Neely, Adams & Crowe, 2001). Mức độ phổ biến của các chỉ tiêu hiện đại được ghi nhận qua nghiên cứu của Firth (1996), Nanjing (2001c), Biddle và cộng sự (1998), Stern và cộng sự (1991), Stewart (1994) và Silk (1998) về việc 60% doanh nghiệp trong nhóm Fortune-1000 áp dụng các khung đo lường hiện đại.

Nghiên cứu trong nước: Các công trình của Đoàn Ngọc Quế và cộng sự (2011), Nguyễn Ngọc Quang (2010), Lê Công Hoa & Lương Thu Hà (2013), Ngô Kim Thanh (2012), Nguyễn Ngọc Huyền (2013), Đoàn Thị Thu Hà & Nguyễn Thị Ngọc Huyền (2006) đã nghiên cứu về phân cấp quản lý, tổ chức bộ máy và lý thuyết KTTN trong doanh nghiệp Việt Nam.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết

Tổng quan tài liệu cho thấy các nghiên cứu trong nước trước đây chủ yếu tiếp cận KTTN theo phương pháp cổ điển (so sánh chi phí, doanh thu thực tế với dự toán) và chỉ tập trung vào các chỉ tiêu tài chính mang tính ngắn hạn. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện việc vận dụng phương pháp hiện đại như Bảng điểm cân bằng (BSC) để thiết lập hệ thống chỉ tiêu đánh giá TTTN quản lý kết hợp cả chỉ tiêu tài chính và phi tài chính, gắn với chuỗi giá trị và đặc thù tổ chức sản xuất nông - công nghiệp của ngành cao su Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng tổng hợp các cơ sở lý luận quản trị và kế toán hiện đại:

  • Lý thuyết về phân cấp quản lý: Khẳng định phân cấp quản lý là tất yếu khi doanh nghiệp mở rộng quy mô. Luận án xem xét 5 mô hình tổ chức bộ máy: theo sản phẩm, theo địa bàn kinh doanh, theo đối tượng khách hàng, theo đơn vị kinh doanh chiến lược (SBU) và mô hình hỗn hợp.
  • Lý thuyết về trung tâm trách nhiệm quản lý: Phân định 4 loại TTTN cơ bản:
    1. Trung tâm chi phí (TTCP): Gồm TTCP tiêu chuẩn (nơi các yếu tố đầu vào tạo ra đầu ra được đo lường bằng định mức, tương ứng với nông trường cao su và xí nghiệp chế biến) và TTCP dự toán (nơi chi phí gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chức năng theo dự toán, tương ứng với các phòng, ban nghiệp vụ).
    2. Trung tâm doanh thu (TTDT): Chịu trách nhiệm về doanh thu và kiểm soát chi phí bán hàng, gắn với phòng kinh doanh, chi nhánh thương mại, điểm bán hàng.
    3. Trung tâm lợi nhuận (TTLN): Chịu trách nhiệm đồng thời về doanh thu, chi phí và cơ cấu mặt hàng sản xuất - tiêu thụ nhằm tối ưu hóa lợi nhuận.
    4. Trung tâm đầu tư (TTĐT): Chịu trách nhiệm về doanh thu, chi phí, lợi nhuận và hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư (thông qua ROI, RI, EVA).
  • Khung phân tích Bảng điểm cân bằng (BSC): Được lựa chọn làm công cụ nền tảng để thiết kế hệ thống chỉ tiêu, bao quát 4 khía cạnh: Tài chính, Khách hàng, Quy trình nội bộ, Học hỏi và phát triển.

Phương pháp nghiên cứu và quy trình thu thập dữ liệu

Luận án sử dụng thiết kế nghiên cứu định tính kết hợp điều tra khảo sát thực tế, phỏng vấn sâu chuyên gia và nghiên cứu điển hình (case study).

Mẫu khảo sát định tính: Theo số liệu từ Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA, 2016), tổng thể ngành có 92 doanh nghiệp sản xuất cao su. Tác giả tiến hành điều tra toàn bộ mẫu tổng thể trên tất cả các vùng miền (Nam Bộ, Tây Nguyên, Miền Trung, Tây Bắc). Kết quả thu về 85 phiếu, sau khi kiểm tra, đối chiếu và làm rõ mâu thuẫn qua điện thoại, xác định được 77 phiếu trả lời hợp lệ từ 77 doanh nghiệp (đạt tỷ lệ 82,8% tổng thể).

Tiêu chí phân loại Cơ cấu trong mẫu khảo sát (N = 77) Tỷ lệ (%)
Loại hình doanh nghiệp
- Công ty TNHH MTV 34 doanh nghiệp 44,16%
- Công ty Cổ phần (CTCP) 39 doanh nghiệp 50,65%
- Công ty TNHH HTV trở lên 04 doanh nghiệp 5,19%
Quy mô doanh nghiệp
- Doanh nghiệp quy mô lớn 66 doanh nghiệp 85,71%
- Doanh nghiệp quy mô vừa 11 doanh nghiệp 14,29%

Phương pháp phỏng vấn sâu và nghiên cứu điển hình:

  • Phỏng vấn sâu: Thực hiện trực tiếp với Tổng giám đốc, Giám đốc, Trưởng phòng Tài chính - Kế toán, Trưởng phòng Kỹ thuật, Giám đốc nông trường cao su (NTCS), Giám đốc xí nghiệp chế biến (XNCB) tại các đơn vị: Công ty TNHH MTV Cao su Đắk Lắk, Công ty TNHH MTV Cao su Chư Sê, Công ty TNHH MTV Cao su Quảng Nam, CTCP Tổng công ty Cao su Đồng Nai, CTCP Cao su Đồng Phú và Công ty TNHH Phương Triều Đại. Thời lượng mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài từ 30 đến 60 phút.
  • Nghiên cứu điển hình: Khảo sát chi tiết tại 5 doanh nghiệp tiêu biểu (Cao su Đắk Lắk, Cao su Đồng Nai, Cao su Đồng Phú, Cao su Chư Sê, Cao su Quảng Nam) nhằm thu thập dữ liệu thứ cấp gồm sổ kế toán, báo cáo tài chính, báo cáo sản xuất - tiêu thụ, hồ sơ định mức kỹ thuật, dự toán kinh doanh và ghi chép quan sát thực địa.

Công cụ phân tích dữ liệu: Dữ liệu từ 77 quan sát được mã hóa và xử lý trên phần mềm Microsoft Excel thông qua các công cụ thống kê mẫu và thống kê mô tả nhằm tính toán tần suất, tỷ lệ phần trăm và tổng hợp thực trạng.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về hệ thống chỉ tiêu đánh giá trung tâm trách nhiệm quản lý trong các doanh nghiệp sản xuất

Chương 1 tổng kết có hệ thống các công trình nghiên cứu về KTTN và hệ thống chỉ tiêu đánh giá TTTN quản lý trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả phân tích sự chuyển dịch phương pháp đánh giá qua hai thời kỳ: trước năm 1980 (chủ yếu dùng phương pháp so sánh, phân tích chênh lệch chi phí/doanh thu dựa trên chỉ tiêu tài chính) và sau năm 1980 (sự ra đời của các mô hình PMM, SMART, R&DM, Input-Process-Output-Outcome, BSC, Lăng kính hiệu suất kết hợp chỉ tiêu tài chính và phi tài chính). Chương này chỉ ra rằng các nghiên cứu kế toán trong nước chưa vận dụng đầy đủ các khung lý thuyết hiện đại vào việc đánh giá TTTN quản lý cho các ngành sản xuất đặc thù như ngành cao su, từ đó xác lập tính cấp thiết của đề tài.

Chương 2: Lý luận về hệ thống chỉ tiêu đánh giá trung tâm trách nhiệm quản lý trong các doanh nghiệp sản xuất

Chương 2 xây dựng khung lý thuyết hoàn chỉnh về tổ chức quản lý và đánh giá TTTN trong doanh nghiệp sản xuất:

  • Làm rõ bản chất hoạt động kinh doanh, đặc điểm phân cấp quản lý theo các mô hình cơ cấu tổ chức (sản phẩm, địa bàn, khách hàng, SBU, hỗn hợp).
  • Định nghĩa và phân loại 4 trung tâm trách nhiệm: TTCP (gồm TTCP tiêu chuẩn và TTCP dự toán), TTDT, TTLN và TTĐT.
  • Xác định vai trò của KTTN trong việc lập dự toán, ghi nhận số liệu thực hiện và thiết lập hệ thống báo cáo đánh giá.
  • Phân tích nội dung và phương pháp xác định các chỉ tiêu đánh giá tài chính truyền thống (chênh lệch định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung; doanh thu thuần; lợi nhuận góp; ROI, RI, EVA) và các chỉ tiêu phi tài chính phục vụ công tác quản trị.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực trạng hệ thống chỉ tiêu đánh giá trung tâm trách nhiệm quản lý trong các doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất Cao su Việt Nam

Chương 3 trình bày các phát hiện từ khảo sát 77 doanh nghiệp và 5 nghiên cứu điển hình:

  • Đặc điểm tổ chức sản xuất và phân cấp: Ngành sản xuất cao su có chu trình khép kín từ trồng trọt, chăm sóc, khai thác mủ (nông trường cao su) đến chế biến thành phẩm (xí nghiệp chế biến) và tiêu thụ. Cơ cấu phân cấp phổ biến gồm: Ban Giám đốc công ty, các phòng ban chức năng, các nông trường cao su (NTCS) và xí nghiệp chế biến (XNCB).
  • Thực trạng phân định TTTN: 100% doanh nghiệp đã hình thành các bộ phận chịu trách nhiệm nhưng việc nhận diện dưới góc độ KTTN còn mang tính tự phát. Nông trường và xí nghiệp chế biến hoạt động như các TTCP tiêu chuẩn; các phòng ban hành chính là TTCP dự toán; phòng kinh doanh/trung tâm thương mại đóng vai trò TTDT; cấp công ty/tổng công ty hoạt động như TTLN và TTĐT.
  • Thực trạng hệ thống chỉ tiêu đánh giá:
    • Tại các TTCP: Chủ yếu theo dõi chi phí vật liệu trực tiếp (CPVLTT), chi phí nhân công trực tiếp (CPNCTT), chi phí sản xuất chung so với định mức/dự toán. Các chỉ tiêu kỹ thuật đặc thù gồm tỷ lệ mủ quy khô (DRC), chỉ số duy trì độ dẻo (PRI), chỉ số nhiễm khuẩn (VFA). Các chỉ tiêu phi tài chính về môi trường, an toàn lao động, năng suất lao động chưa được lượng hóa đồng bộ.
    • Tại TTDT: Đánh giá thuần túy qua sản lượng tiêu thụ, doanh thu thực hiện so với kế hoạch, chưa theo dõi chi tiết độ thỏa mãn khách hàng hay tỷ lệ phát triển thị trường mới.
    • Tại TTLN và TTĐT: Chủ yếu dùng chỉ tiêu lợi nhuận kế toán, tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE); các chỉ tiêu đo lường giá trị hiện đại như ROI, RI, EVA rất ít được tính toán riêng biệt cho từng bộ phận phân cấp.
  • Hạn chế tồn tại: Hệ thống định mức kỹ thuật - kinh tế ở một số đơn vị chậm cập nhật; thông tin phục vụ đánh giá mang tính chất hồi cứu của kế toán tài chính; chưa có mối liên kết nhân quả giữa các chỉ tiêu đánh giá với chiến lược dài hạn của doanh nghiệp.
Loại trung tâm trách nhiệm Bộ phận tương ứng trong DN cao su Chỉ tiêu đánh giá thực tế đang sử dụng Tồn tại chính trong công tác đánh giá
TTCP tiêu chuẩn Nông trường cao su (NTCS), Xí nghiệp chế biến (XNCB) Chênh lệch chi phí thực tế so với định mức (CPVLTT, CPNCTT, CPSXC); sản lượng mủ quy khô (DRC) Thiếu chỉ tiêu phi tài chính về tỷ lệ hao hụt, an toàn lao động, chất lượng mủ (PRI, VFA) gắn với trách nhiệm cá nhân
TTCP dự toán Các phòng, ban chức năng (Kế toán, Kỹ thuật, Tổ chức...) Chi phí thực tế so với dự toán ngân sách được duyệt Chưa đo lường được hiệu quả công việc đầu ra và mức độ phối hợp liên phòng ban
TTDT Phòng Kinh doanh, Chi nhánh thương mại, Điểm bán hàng Doanh thu tiêu thụ, sản lượng xuất khẩu/nội địa so với kế hoạch Chưa đo lường mức độ hài lòng của khách hàng, khả năng mở rộng thị trường ngoài Trung Quốc
TTLN / TTĐT Ban Giám đốc công ty, Khối điều hành toàn đơn vị Lợi nhuận trước thuế, lợi nhuận sau thuế, tỷ suất ROA, ROE chung Chưa phân định rõ lợi nhuận góp từng bộ phận; chưa áp dụng rộng rãi ROI, RI, EVA cho từng dự án/đơn vị

Chương 4: Định hướng và đề xuất xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá trung tâm trách nhiệm quản lý trong các doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất Cao su Việt Nam

Chương 4 đề xuất giải pháp ứng dụng Bảng điểm cân bằng (BSC) để thiết lập hệ thống chỉ tiêu đánh giá cho 2 nhóm doanh nghiệp:

  1. Đối với doanh nghiệp quy mô lớn (phân cấp quản lý tương đối rõ ràng): Xây dựng mô hình chỉ tiêu chi tiết và sơ đồ quan hệ nhân quả cho từng TTTN cụ thể:
    • TTCP tiêu chuẩn Nông trường cao su: Đánh giá khía cạnh tài chính (chi phí chăm sóc, khai thác/ha, giá thành mủ quy khô), khách hàng nội bộ (tỷ lệ đáp ứng nguyên liệu cho XNCB), quy trình nội bộ (tuân thủ quy trình cạo mủ, tỷ lệ mủ đông, chỉ số DRC), học hỏi và phát triển (tỷ lệ thợ cạo mủ đạt tay nghề giỏi, số giờ đào tạo kỹ thuật).
    • TTCP tiêu chuẩn Xí nghiệp chế biến: Đánh giá chi phí chế biến/tấn sản phẩm, tỷ lệ thu hồi mủ, kiểm soát chỉ số dẻo PRI và nhiễm khuẩn VFA, tỷ lệ giao hàng nội bộ đúng tiến độ.
    • TTCP dự toán (Phòng, ban chức năng): Đánh giá việc kiểm soát ngân sách chi tiêu, mức độ hoàn thành nhiệm vụ tham mưu, chỉ số hài lòng của các đơn vị trực thuộc.
    • TTDT (Phòng Kinh doanh): Doanh thu, thị phần xuất khẩu, tỷ lệ khách hàng mới, độ chính xác dự báo thị trường, thời gian thu hồi công nợ.
    • TTLN và TTĐT: Tích hợp các chỉ tiêu lợi nhuận góp, ROI, RI, EVA, hiệu quả sử dụng diện tích đất trồng cao su và tài sản cố định.
  2. Đối với doanh nghiệp quy mô vừa (phân cấp quản lý chưa rõ ràng): Đề xuất mô hình tinh gọn, tập trung hoàn thiện công tác lập định mức chi phí, chuẩn hóa báo cáo kế toán quản trị nội bộ trước khi áp dụng toàn diện các khía cạnh BSC.
  3. Điều kiện thực hiện giải pháp: Kiến nghị các điều kiện đồng bộ về phía cơ quan Nhà nước, Hiệp hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam (ban hành hướng dẫn KTQT), Hiệp hội Cao su Việt Nam, và các giải pháp nội bộ doanh nghiệp (hoàn thiện cơ cấu tổ chức, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cấp hệ thống phần mềm công nghệ thông tin).

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt học thuật và lý luận

  • Tổng hợp và hệ thống hóa các lý thuyết về kế toán trách nhiệm, phân cấp quản lý và đo lường thành quả hoạt động trong doanh nghiệp sản xuất qua các thời kỳ lịch sử.
  • Làm rõ cơ sở khoa học của việc kết hợp các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính, chứng minh sự phù hợp của việc vận dụng Bảng điểm cân bằng (BSC) trong việc thiết kế hệ thống chỉ tiêu đánh giá TTTN quản lý cho các doanh nghiệp sản xuất nông - công nghiệp.
  • Bổ sung vào khoảng trống tài liệu học thuật trong nước về mô hình kế toán trách nhiệm chuyên sâu cho ngành sản xuất cao su.

Những đề xuất mới rút ra từ kết quả nghiên cứu

  • Luận án đã xây dựng mô hình hệ thống chỉ tiêu đánh giá hoàn chỉnh cho 4 loại TTTN (TTCP tiêu chuẩn gồm NTCS và XNCB, TTCP dự toán các phòng ban, TTDT, TTLN, TTĐT) theo 4 khía cạnh của BSC (Tài chính, Khách hàng, Quy trình nội bộ, Học hỏi và phát triển).
  • Luận án thiết lập sơ đồ mối quan hệ nhân quả giữa các nhóm chỉ tiêu tài chính và phi tài chính trong từng TTTN quản lý, giúp nhà quản trị nhận diện rõ nguyên nhân dẫn đến các biến động kinh doanh.
  • Phân loại giải pháp theo 2 nhóm doanh nghiệp (quy mô lớn và quy mô vừa) phù hợp với năng lực quản trị thực tế của các doanh nghiệp sản xuất cao su Việt Nam.
  • Đề xuất hệ thống điều kiện thực thi chi tiết đối với cơ quan quản lý Nhà nước, tổ chức nghề nghiệp kế toán - kiểm toán và các doanh nghiệp trong ngành cao su.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Phạm vi khảo sát giới hạn trong các doanh nghiệp sản xuất cao su thực hiện trồng trọt và sơ chế mủ cao su thành phẩm có quy mô từ trung bình trở lên; không bao gồm các doanh nghiệp FDI và các cơ sở tư nhân quy mô nhỏ.
  • Dữ liệu khảo sát thực tế được thu thập trong giai đoạn 2015-2017, phản ánh thực trạng quản trị trong giai đoạn ngành cao su gặp nhiều biến động về giá và thị trường tiêu thụ.
  • Phương pháp phân tích chủ yếu dựa trên nghiên cứu định tính, điều tra khảo sát mô tả và nghiên cứu điển hình; chưa áp dụng các mô hình định lượng phức tạp (như hồi quy đa biến hay mô hình cấu trúc tuyến tính SEM) để lượng hóa mức độ tác động của từng chỉ tiêu đến hiệu quả tài chính tổng thể.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghiệp cao su hạ nguồn (chế biến sâu như săm lốp, găng tay, đệm cao su) và các doanh nghiệp cao su có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).
  • Ứng dụng các phương pháp nghiên cứu định lượng nâng cao để kiểm định thực nghiệm mối quan hệ tương quan và tác động nhân quả giữa các thước đo phi tài chính trong BSC đến kết quả tài chính (ROI, EVA) của doanh nghiệp cao su.
  • Nghiên cứu tích hợp hệ thống chỉ tiêu đánh giá TTTN theo BSC vào các hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) và hệ thống kế toán số hóa.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Là tài liệu chuyên khảo tham khảo về việc vận dụng lý thuyết kế toán trách nhiệm và công cụ Bảng điểm cân bằng (BSC) vào một ngành sản xuất nông - công nghiệp cụ thể tại Việt Nam.
  • Đối với nhà quản trị các doanh nghiệp sản xuất cao su: Cung cấp bộ công cụ chỉ tiêu chi tiết kèm theo sơ đồ quan hệ nhân quả để thiết lập hệ thống đánh giá nội bộ, giao dự toán và xác định trách nhiệm quản lý cho từng nông trường, xí nghiệp chế biến và phòng ban.
  • Đối với Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG) và Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA): Cung cấp cơ sở thực tiễn để ban hành các quy chế quản trị nội bộ, hướng dẫn lập định mức kinh tế - kỹ thuật và tiêu chuẩn hóa đánh giá hiệu quả hoạt động các đơn vị thành viên.
  • Đối với cơ quan quản lý Nhà nước và tổ chức nghề nghiệp kế toán: Cung cấp luận cứ thực tế phục vụ việc xây dựng thông tư hướng dẫn và tài liệu chuẩn mực về kế toán quản trị trong các doanh nghiệp nhà nước và công ty cổ phần.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân loại các trung tâm trách nhiệm trong doanh nghiệp sản xuất cao su thành những loại nào?

Luận án phân loại thành 4 loại TTTN cơ bản:

  1. Trung tâm chi phí (TTCP): Gồm TTCP tiêu chuẩn (Nông trường cao su và Xí nghiệp chế biến) và TTCP dự toán (các phòng, ban chức năng).
  2. Trung tâm doanh thu (TTDT): Gồm Phòng Kinh doanh, Chi nhánh thương mại, Điểm bán hàng.
  3. Trung tâm lợi nhuận (TTLN): Ban điều hành công ty hoặc các đơn vị phụ trách sản xuất và tiêu thụ trọn gói.
  4. Trung tâm đầu tư (TTĐT): Ban Giám đốc, Hội đồng quản trị/Hội đồng thành viên chịu trách nhiệm về phân bổ và sử dụng nguồn vốn đầu tư.

2. Mẫu khảo sát thực trạng của luận án được chọn như thế nào và quy mô mẫu hợp lệ là bao nhiêu?

Mẫu khảo sát được chọn từ tổng thể 92 doanh nghiệp sản xuất cao su Việt Nam do Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA) công bố năm 2016. Tác giả đã thu về 85 phiếu khảo sát và xử lý, sàng lọc được 77 phiếu trả lời hợp lệ từ 77 doanh nghiệp (gồm 34 công ty TNHH MTV, 39 công ty cổ phần và 4 công ty TNHH HTV trở lên; trong đó 66 doanh nghiệp quy mô lớn và 11 doanh nghiệp quy mô vừa), đạt tỷ lệ 82,8% tổng thể.

3. Tác giả đã chọn những doanh nghiệp nào để thực hiện nghiên cứu điển hình (case study)?

Tác giả đã chọn 5 doanh nghiệp có quy mô tiêu biểu trong ngành sản xuất cao su để nghiên cứu điển hình:

  1. Công ty TNHH MTV Cao su Đắk Lắk
  2. CTCP Tổng công ty Cao su Đồng Nai
  3. CTCP Cao su Đồng Phú
  4. Công ty TNHH MTV Cao su Chư Sê
  5. Công ty TNHH MTV Cao su Quảng Nam (Ngoài ra, tác giả còn thực hiện phỏng vấn sâu tại Công ty TNHH Phương Triều Đại).

4. Luận án đề xuất khung công cụ nào để xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá trung tâm trách nhiệm?

Luận án đề xuất vận dụng mô hình Bảng điểm cân bằng (Balanced Scorecard - BSC) để thiết lập hệ thống chỉ tiêu đánh giá cho từng TTTN theo 4 khía cạnh: Tài chính, Khách hàng, Quy trình nội bộ, Học hỏi và phát triển, đồng thời xây dựng sơ đồ mối quan hệ nhân quả giữa các chỉ tiêu.

5. Sự khác biệt cơ bản trong việc đánh giá TTTN trước và sau năm 1980 được luận án tổng kết là gì?

Theo tổng kết của luận án (dựa trên Neely & Austin, 2002): Giai đoạn trước năm 1980 chỉ sử dụng các phương pháp so sánh truyền thống và các chỉ tiêu tài chính mang tính ngắn hạn (doanh thu, định mức chi phí, ROI). Giai đoạn từ năm 1980 đến nay xuất hiện xu hướng kết hợp toàn diện giữa chỉ tiêu tài chính và phi tài chính thông qua các mô hình đo lường hiệu suất chiến lược (PMM, SMART, BSC, Performance Prism) nhằm phản ánh kịp thời các hoạt động vận hành nội bộ và định hướng khách hàng.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Lương Thị Thanh Việt đã giải quyết một vấn đề mang tính thời sự trong công tác quản trị doanh nghiệp sản xuất cao su tại Việt Nam thông qua việc hệ thống hóa cơ sở lý luận về kế toán trách nhiệm và khảo sát thực trạng tại 77 doanh nghiệp trong ngành. Bằng việc đề xuất khung chỉ tiêu đánh giá dựa trên Bảng điểm cân bằng (BSC) cho từng loại trung tâm trách nhiệm kèm theo sơ đồ quan hệ nhân quả chi tiết, công trình đã đóng góp cả về mặt học thuật kế toán quản trị lẫn khả năng ứng dụng thực tiễn trong việc đo lường, kiểm soát và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực của các doanh nghiệp cao su. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo có giá trị đối với các nhà nghiên cứu, giảng viên chuyên ngành kế toán - quản trị và các nhà quản lý doanh nghiệp trong ngành sản xuất cao su Việt Nam.