Luận văn thạc sĩ vnu ued xây dựng hệ thống bài tập rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa trong viết văn miêu tả cho học sinh lớp 5

Luận văn thạc sĩ VNU UED trình bày hệ thống bài tập rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa trong viết văn miêu tả cho học sinh lớp 5.

Chuyên ngành

Sư phạm Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2013

104
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC SƠ ĐỒ

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Văn miêu tả và biện pháp tu từ nhân hóa trong văn miêu tả

1.2. Đặc điểm nhận thức và việc hình thành kỹ năng của học sinh lớp 5

1.3. Cơ sở thực tiễn

1.4. Phân tích phần văn miêu tả trong chương trình Tiếng Việt 5

1.5. Thực tế rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa và việc sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa trong viết văn miêu tả của học sinh lớp 5

2. CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN KỸ NĂNG SỬ DỤNG BIỆN PHÁP TU TỪ NHÂN HÓA

2.1. Một số nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập

2.2. Đảm bảo mục tiêu dạy học Tập làm văn: rèn luyện kỹ năng tạo lập văn bản

2.3. Đảm bảo tính hệ thống, đa dạng, hấp dẫn

2.4. Đảm bảo tính vừa sức, tạo sức cho học sinh

2.5. Đảm bảo phù hợp với đặc điểm tâm lý, nhận thức của học sinh lớp 5

2.6. Mô tả hệ thống bài tập rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa trong viết văn miêu tả cho học sinh lớp 5

2.7. Bài tập rèn kỹ năng nhận diện và phân tích các biện pháp tu từ nhân hóa trong bài văn miêu tả

2.8. Bài tập rèn kỹ năng tạo lập tu từ nhân hóa trong viết văn miêu tả

2.9. Bài tập rèn kỹ năng chữa lỗi tu từ nhân hóa trong bài văn miêu tả

2.10. Sử dụng hệ thống bài tập để rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa cho học sinh lớp 5. Quy trình tổ chức thực hành bài tập

2.11. Một số hình thức tổ chức thực hành bài tập

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích thực nghiệm

3.2. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm

3.3. Nội dung thực nghiệm. Nội dung dạy học thực nghiệm

3.4. Phiếu bài tập thực hành ở nhà

3.5. Kết quả thực nghiệm

3.6. Nhận xét, đánh giá từ kết quả thực nghiệm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về hệ thống bài tập rèn kỹ năng nhân hóa cho học sinh lớp 5

Hệ thống bài tập rèn kỹ năng nhân hóa cho học sinh lớp 5 là một phần quan trọng trong chương trình giáo dục tiểu học. Việc sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa không chỉ giúp học sinh phát triển khả năng viết văn mà còn nâng cao khả năng cảm thụ văn học. Nhân hóa là một trong những biện pháp tu từ phổ biến, giúp bài văn trở nên sinh động và hấp dẫn hơn. Hệ thống bài tập này được thiết kế nhằm giúp học sinh nhận diện, phân tích và áp dụng biện pháp nhân hóa trong viết văn miêu tả.

1.1. Định nghĩa và vai trò của biện pháp nhân hóa trong văn miêu tả

Biện pháp nhân hóa là việc gán cho sự vật, hiện tượng những đặc điểm, tính cách của con người. Điều này giúp cho bài văn trở nên sinh động và gần gũi hơn với người đọc. Trong văn miêu tả, nhân hóa không chỉ làm tăng tính biểu cảm mà còn giúp học sinh phát triển khả năng tưởng tượng và sáng tạo.

1.2. Tại sao cần rèn kỹ năng nhân hóa cho học sinh lớp 5

Rèn kỹ năng nhân hóa cho học sinh lớp 5 là cần thiết vì đây là giai đoạn các em bắt đầu tiếp cận với các thể loại văn học phức tạp hơn. Việc sử dụng biện pháp nhân hóa giúp các em không chỉ viết văn tốt hơn mà còn hiểu sâu hơn về văn học và cuộc sống xung quanh.

II. Những thách thức trong việc dạy học sinh lớp 5 sử dụng biện pháp nhân hóa

Mặc dù việc dạy học sinh lớp 5 sử dụng biện pháp nhân hóa là cần thiết, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự thiếu hụt tài liệu và phương pháp dạy học hiệu quả. Nhiều giáo viên vẫn chưa có đủ kiến thức và kỹ năng để hướng dẫn học sinh áp dụng biện pháp này một cách hiệu quả.

2.1. Thiếu tài liệu hỗ trợ dạy học

Nhiều giáo viên gặp khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu phù hợp để giảng dạy biện pháp nhân hóa. Điều này dẫn đến việc học sinh không được tiếp cận với các bài tập thực hành phong phú và đa dạng.

2.2. Khó khăn trong việc áp dụng biện pháp nhân hóa

Học sinh lớp 5 thường gặp khó khăn trong việc nhận diện và áp dụng biện pháp nhân hóa trong bài viết của mình. Điều này có thể do thiếu sự hướng dẫn cụ thể từ giáo viên hoặc do các em chưa hiểu rõ về cách thức sử dụng biện pháp này.

III. Phương pháp xây dựng hệ thống bài tập rèn kỹ năng nhân hóa

Để xây dựng hệ thống bài tập rèn kỹ năng nhân hóa cho học sinh lớp 5, cần áp dụng các phương pháp dạy học tích cực. Các bài tập nên được thiết kế đa dạng, từ nhận diện, phân tích đến thực hành viết văn. Điều này giúp học sinh có cơ hội thực hành và cải thiện kỹ năng viết của mình.

3.1. Nguyên tắc xây dựng bài tập

Các bài tập cần đảm bảo tính hệ thống, đa dạng và phù hợp với khả năng của học sinh. Bài tập nên được thiết kế theo từng cấp độ từ dễ đến khó, giúp học sinh dần dần làm quen với biện pháp nhân hóa.

3.2. Các loại bài tập rèn kỹ năng nhân hóa

Có thể chia bài tập thành ba loại chính: bài tập nhận diện và phân tích, bài tập tạo lập và bài tập chữa lỗi. Mỗi loại bài tập sẽ giúp học sinh phát triển kỹ năng ở các khía cạnh khác nhau của việc sử dụng biện pháp nhân hóa.

IV. Ứng dụng thực tiễn của hệ thống bài tập rèn kỹ năng nhân hóa

Hệ thống bài tập rèn kỹ năng nhân hóa không chỉ giúp học sinh cải thiện khả năng viết văn mà còn nâng cao khả năng cảm thụ văn học. Việc áp dụng biện pháp nhân hóa trong viết văn giúp học sinh tạo ra những bài văn sinh động và hấp dẫn hơn.

4.1. Kết quả thực nghiệm từ việc áp dụng bài tập

Kết quả thực nghiệm cho thấy học sinh có sự tiến bộ rõ rệt trong việc sử dụng biện pháp nhân hóa sau khi tham gia các bài tập. Các em không chỉ viết tốt hơn mà còn thể hiện được cảm xúc và sự sáng tạo trong bài viết.

4.2. Phản hồi từ giáo viên và học sinh

Giáo viên và học sinh đều nhận thấy sự khác biệt trong chất lượng bài viết sau khi áp dụng hệ thống bài tập. Học sinh cảm thấy hứng thú hơn với việc viết văn và có khả năng sáng tạo tốt hơn.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của hệ thống bài tập rèn kỹ năng nhân hóa

Hệ thống bài tập rèn kỹ năng nhân hóa cho học sinh lớp 5 là một công cụ hữu ích trong việc nâng cao chất lượng dạy và học văn miêu tả. Việc áp dụng biện pháp nhân hóa không chỉ giúp học sinh viết tốt hơn mà còn phát triển khả năng cảm thụ văn học. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển hệ thống bài tập này để đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh.

5.1. Định hướng phát triển hệ thống bài tập

Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các bài tập mới, phù hợp với sự phát triển của học sinh. Việc cập nhật tài liệu và phương pháp dạy học sẽ giúp giáo viên có thêm công cụ để giảng dạy hiệu quả hơn.

5.2. Tầm quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng nhân hóa

Rèn luyện kỹ năng nhân hóa không chỉ giúp học sinh viết tốt hơn mà còn giúp các em phát triển tư duy sáng tạo và khả năng cảm thụ văn học. Đây là những kỹ năng quan trọng cho sự phát triển toàn diện của học sinh.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ued xây dựng hệ thống bài tập rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa trong viết văn miêu tả cho học sinh lớp 5

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn đƣợc dự kiến chia thành 3 chƣơng chính: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học của đề tài Chƣơng 2: Đề xuất hệ thống bài tập rèn kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa trong dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 5 Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Văn miêu tả và biện pháp tu từ nhân hóa trong văn miêu tả 1. Khái niệm và một số đặc trưng cơ bản của văn miêu tả - Khái niệm văn miêu tả Là thể văn ra đời từ rất lâu, sự tồn tại của khái niệm văn miêu tả gắn với những công trình nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau. Vì vậy, việc đi đến một khái niệm chung nhất không phải là công việc dễ dàng.

Trƣớc hết, ở thuật ngữ “miêu tả” nói chung, tác giả Đào Duy Anh trong “Hán Việt Tự điển” đã giải nghĩa: “Miêu tả là lấy nét vẽ hoặc câu văn để biểu hiện cái chân tƣớng của sự vật ra” [2]. Cụ thể hơn, khái niệm “miêu tả” hiểu theo nghĩa từ vựng trong “Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên là: “Dùng ngôn ngữ hoặc một phƣơng tiện nghệ thuật nào đó làm cho ngƣời khác có thể hình dung đƣợc toàn thể sự vật, sự việc hoặc thế giới nội tâm của con ngƣời” [20]. Những khái niệm về “miêu tả” đƣợc ghi trong từ điển nhƣ trên là những khái niệm sử dụng chung cho các loại hình nghệ thuật đƣợc bộc lộ thông qua nghệ thuật miêu tả. Còn trong một văn bản nghệ thuật, miêu tả lại có những đặc điểm riêng và đƣợc quan niệm theo nhiều cách khác nhau.

Các nhà phê bình lý luận văn học thì định nghĩa: “Miêu tả bao gồm những đoạn văn, đoạn thơ tái hiện sự việc, cảnh vật, con ngƣời và hành động của nhân vật đƣợc hình thành trực tiếp nhất thông qua một khối lƣợng chi tiết phong phú. Miêu tả là biện pháp nghệ thuật giúp nhà văn làm hiện lên một cách cụ thể, dựng lên trƣớc mặt ngƣời đọc một cách sinh động sự việc, cảnh vật, con ngƣời trong một khung cảnh và thời điểm nhất định” [6]. Tuy nhiên, định nghĩa này mới chỉ đề cập nội dung miêu tả mà chƣa chú ý đến ngôn ngữ sử dụng trong miêu tả. Bàn về vấn đề này, trong cuốn “Nghệ thuật làm văn”, các học giả Pháp cho rằng “Miêu tả là biến thành cái mà giác quan có thể xúc cảm 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đƣợc, là hình dung bằng miệng hay bằng viết một đối tƣợng vật chất, nói cách khác, là bộc lộ bằng từ mà các họa sỹ phác họa bằng màu sắc”.

Nhìn chung, các quan niệm về miêu tả ở trên đã đề cập tới nhiều phƣơng diện khác nhau của thuật ngữ “miêu tả” sử dụng trong văn bản nghệ thuật (văn miêu tả). Dƣới góc độ ngôn ngữ học, và trong vai trò là thể văn trong nhà trƣờng, GS Đỗ Hữu Châu đã đƣa ra khái niệm về văn miêu tả nhƣ sau: “Miêu tả là một loại văn trong đó ngƣời viết (ngƣời nói) nêu lên các đặc điểm vốn có của sự vật, nhân vật trong thực tế đã đƣợc sàng lọc qua chủ quan của ngƣời viết (ngƣời nói)” [4]. Hay trong Sách giáo khoa “Tiếng Việt 4” do GS. Nguyễn Minh Thuyết chủ biên cho rằng “Miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, của ngƣời, của vật, giúp ngƣời nghe, ngƣời đọc hình dung đƣợc các đối tƣợng ấy” [27].

Gần với quan niệm này, tác giả Xuân Thị Nguyệt Hà trong công trình Luận án Tiến sĩ “Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng viết văn miêu tả cho học sinh tiểu học” cho rằng: “Văn miêu tả là một loại văn dùng trong các phƣơng tiện ngôn ngữ để vẽ lại những đặc điểm nổi bật của các khách thể trong hiện thực khách quan (cảnh vật, sự vật, con ngƣời) một cách cụ thể, sinh động, gợi hình, gợi cảm, tạo hiệu quả nhƣ thật với ngƣời đọc, ngƣời nghe” [5]. Trong phạm vi đề tài nghiên cứu về văn miêu tả trong trƣờng tiểu học, chúng tôi lấy quan niệm của tác giả Xuân Thị Nguyệt Hà làm điểm tựa cho việc triển khai nghiên cứu, cụ thể là: “Văn miêu tả là một loại văn dùng trong các phƣơng tiện ngôn ngữ để vẽ lại những đặc điểm nổi bật của khách thể trong hiện thực khách quan (cảnh vật, sự vật, con ngƣời) một cách cụ thể, sinh động, gợi hình, gợi cảm, tạo hiệu quả nhƣ thật với ngƣời đọc, ngƣời nghe”. Nhƣ vậy, theo khái niệm này, xét về mục đích của văn miêu tả chính là để vẽ lại những đặc điểm nổi bật của khác thể thông qua quan sát, khơi gợi trí tƣởng tƣợng và đồng thời có yếu tố tình cảm, sự đánh giá của ngƣời viết, làm cho đối tƣợng tiếp nhận văn bản cảm động, say mê. Xét về đối tƣợng của văn 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com miêu tả là không giới hạn, hầu nhƣ bất kì sự vật, sự việc nào trong cuộc sống cũng có thể trở thành phạm vi miêu tả.

Tuy nhiên, không phải sự miêu tả nào cũng trở thành văn miêu tả. Bởi miêu tả không đơn giản chỉ dừng lại ở việc giúp cho ngƣời đọc thấy rõ nét đặc trƣng, đặc điểm, tính chất,. càng không phải là việc sao chép một cách máy móc các sự vật, sự việc, mà đó phải là sự thể hiện đƣợc những nét tinh tế của tác giả trong việc sử dụng ngôn ngữ, bày tỏ tình cảm, cảm xúc trong quá trình quan sát thực tế cuộc sống. Và hơn thế miêu tả phải là “bằng những ngôn ngữ sinh động đã khắc họa lên bức tranh đó, sự vật đó khiến cho ngƣời đọc, ngƣời nghe nhƣ cảm thấy mình đang đứng trƣớc sự vật, hiện tƣợng ấy và cảm thấy nhƣ đƣợc nghe, sờ những gì mà nhà văn nói đến”.

Nói đến văn miêu tả chúng ta cũng đặc biệt chú ý đến ngôn ngữ của thể văn này. Trong văn miêu tả, việc miêu tả lại các sự vật, sự việc qua ngôn ngữ không đơn thuần là công việc ghi chép hay còn gọi là trần thuật lại sự vật, sự việc mà đó phải là thứ văn chƣơng bóng bẩy, sinh động, gợi hình, và cách hành văn trong kiểu miêu tả này thuộc vào phong cách ngôn ngữ văn chƣơng. - Một số đặc trưng cơ bản của văn miêu tả Mỗi thể loại văn học khác nhau thƣờng có những đặc trƣng, đặc điểm riêng biệt. Việc khái quát đặc điểm của thể văn miêu tả đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm sâu sắc.

Trong cuốn “Văn miêu tả và phương pháp dạy văn miêu tả ở tiểu học”, tác giả Nguyễn Trí đã nêu rõ ba đặc điểm, đó là: văn miêu tả mang tính thông báo thẩm mĩ, chứa đựng tình cảm của ngƣời viết; văn miêu tả mang tính sinh động tạo hình; ngôn ngữ văn miêu tả giàu cảm xúc hình ảnh. Thứ nhất, văn miêu tả mang tính thông báo thẩm mĩ, chứa đựng tình cảm của người viết: Đối tƣợng của văn miêu tả hƣớng đến vô cùng đa dạng, nhƣ tả đồ vật, con vật, thiên nhiên, con ngƣời,… và bằng ngòi bút miêu tả của mình, tác giả bao giờ cũng đánh giá những đối tƣợng này theo một quan điểm thẩm mĩ 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhất định. Do vậy từng chi tiết của bài văn miêu tả đều mang ấn tƣợng cảm xúc chủ quan của ngƣời viết. Đặc điểm này làm cho văn miêu tả trong văn học khác hẳn miêu tả trong khoa học (nhƣ trong sinh học, địa lí học, khảo cổ học,…).

Miêu tả trong nội dung dạy học Tập làm văn cũng khác hẳn trong các môn khoa học tự nhiên và xã hội ở tiểu học. Hãy so sánh hai đoạn miêu tả cùng hƣớng đến một đối tƣợng là tả cảnh bến cảng. Đoạn 1: “Bến cảng lúc nào cũng đông vui. Tàu mẹ, tàu con đậu đầy mặt nƣớc.

Xe anh, xe em tíu tít nhận hàng về và chở hàng ra. Tất cả đều bận rộn” (Phong Thu). Đoạn 2: “Bến cảng lúc nào cũng rất nhiều tàu xe. Tàu lớn, tàu bé đậu đầy mặt nƣớc.

Xe to, xe nhỏ nhận hàng về và chở hàng ra. Tất cả đều hoạt động liên tục”. Ở đoạn thứ hai, không tồn tại cảm xúc của ngƣời viết, các chi tiết của cảnh vật hiện ra một cách chính xác nhƣng thật lạnh lùng. Còn ở đoạn thứ nhất, trích từ văn bản văn học của nhà văn Phong Thu, nên ngay trong từng câu miêu tả, ngƣời đọc đã thấy rõ cảm xúc của tác giả hòa vào không khí đông vui, nhộn nhịp của bến cảng.

Qua đó ngƣời đọc cũng cảm nhận đƣợc niềm vui của chính tác giả. Thứ hai, văn miêu tả có tính sinh động và tính tạo hình: Có thể nói, một bài văn miêu tả có hay, hấp dẫn ngƣời đọc hay không chính là nhờ vào đặc điểm này. Vậy thế nào là tính sinh động, tạo hình trong bài văn miêu tả? Đó là khi các sự vật, đồ vật, phong cảnh, con ngƣời,… đƣợc miêu tả hiện lên qua từng câu, từng dòng chữ nhƣ trong cuộc sống thực. Đối tƣợng tiếp nhận tƣởng nhƣ có thể cầm nắm đƣợc, có thể nhìn ngắm đƣợc hoặc nói nhƣ M.Gooc-Ky có thể “sờ mó” đƣợc.

Là bậc thầy về ngôn ngữ trong văn học Việt Nam, những đoạn văn miêu tả mang đặc điểm này xuất hiện nhiều trong các sáng tác của nhà văn Nguyễn Tuân, nhƣ trong truyện ngắn “Những chiếc ấm đất” khi miêu tả cảnh ngƣời đầy tớ già gánh nƣớc từ trên chùa về làng là một đoạn miêu tả giàu chất tạo hình “Trên con đƣờng đất cát khô, nồi nƣớc tròng trành theo bƣớc chân mau của ngƣời đầy tớ già đánh rỏ xuống mặt đƣờng những hình ngôi sao ƣớt và thẫm màu. Những hình sao 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ƣớt nối nhau trên một quãng đƣờng dài ngoằn ngoèo nhƣ lối đi của loài bò sát. Ví buổi trƣa hè này là một đêm bóng trăng dãi, và ví cổng chùa Đồi Mai là một cửa non đào thì những giọt sao kia có đủ cái thi vị một cuộc đánh dấu con đƣờng về của khách tục trở lại trần”. Nhƣ vậy làm nên sự sinh động, tạo hình của văn miêu tả chính là những chi tiết sống gây ấn tƣợng, nếu tƣớc bỏ chúng đi bài văn miêu tả sẽ mờ nhạt, thiếu độ sáng.

Thứ ba, ngôn ngữ miêu tả giàu cảm xúc và hình ảnh: Nhƣ trên đã khẳng định, văn miêu tả cho phép bộc lộ cảm xúc của tác giả, ghi dấu ấn của tác giả, đối tƣợng đƣợc miêu tả phải hiện lên một cách sinh động, tạo hình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Hệ thống bài tập rèn kỹ năng nhân hóa cho học sinh lớp 5" cung cấp một bộ bài tập phong phú nhằm phát triển kỹ năng nhân hóa cho học sinh tiểu học. Nội dung tài liệu không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về khái niệm nhân hóa mà còn khuyến khích sự sáng tạo và tư duy phản biện thông qua các bài tập thực hành. Việc áp dụng các bài tập này trong giảng dạy sẽ giúp giáo viên nâng cao chất lượng dạy học, đồng thời tạo ra môi trường học tập tích cực cho học sinh.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp giảng dạy và phát triển năng lực học sinh, bạn có thể tham khảo tài liệu "Dạy học luyện từ và câu cho học sinh lớp 5 theo hướng phát triển năng lực giao tiếp", nơi cung cấp các phương pháp giúp học sinh cải thiện kỹ năng giao tiếp. Ngoài ra, tài liệu "Biện pháp nâng cao năng lực kể chuyện cho học sinh lớp 5" cũng là một nguồn tài liệu hữu ích, giúp phát triển khả năng kể chuyện và tư duy sáng tạo cho học sinh. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Quản lý dạy học môn ngữ văn trường trung học cơ sở thành phố hà nội theo hướng phát triển năng lực người học", để có cái nhìn tổng quát hơn về việc quản lý và nâng cao chất lượng dạy học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có thêm nhiều góc nhìn và phương pháp giảng dạy hiệu quả hơn.