Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngành Giáo dục và Đào tạo Việt Nam thực hiện đổi mới toàn diện từ nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương tiện đến phương pháp dạy học (PPDH). Trọng tâm của quá trình đổi mới là chuyển từ phương pháp truyền thụ một chiều sang tập trung vào hoạt động của học sinh, phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên. Định hướng này được thể chế hóa trong Luật Giáo dục năm 2005 (Chương I, Điều 5): "Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tự giác, tích cực chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên". Đồng thời, UNESCO cũng xác định bốn trụ cột giáo dục của thế kỷ XXI gồm: "Học để biết – Học để làm – Học để tự khẳng định mình – Học để chung sống".
Lý thuyết kiến tạo (LTKT) là quan điểm dạy học hiện đại đã được nghiên cứu và ứng dụng thành công tại nhiều nền giáo dục tiên tiến. Tại Việt Nam, việc nghiên cứu và vận dụng LTKT vào nhà trường phổ thông vẫn còn mới mẻ và kết quả đạt được còn hạn chế do cơ sở lý luận chưa được phổ biến rộng rãi tới đội ngũ giáo viên trực tiếp giảng dạy. Trong chương trình Tiểu học, môn Toán lớp 4 giữ vị trí mở đầu cho giai đoạn học tập sâu, đánh dấu bước chuyển quan trọng khi bổ sung, hoàn thiện kiến thức về số tự nhiên và chính thức đưa vào nội dung phân số – một mảng kiến thức trừu tượng, phức tạp đối với học sinh lứa tuổi 9–10. Việc tiếp cận và tập dượt thiết kế kế hoạch bài học theo quy trình dạy học kiến tạo đối với môn Toán lớp 4 là nhiệm vụ thiết thực nhằm nâng cao chất lượng dạy học và rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là vận dụng lý thuyết kiến tạo để thiết kế kế hoạch bài học cho một số chủ đề trong môn Toán lớp 4, nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán và góp phần thực hiện định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học hiện nay.
Để đạt được mục đích trên, đề tài xác định 6 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta giai đoạn hiện nay.
- Nghiên cứu các phương pháp dạy học theo hướng không truyền thống, đặc biệt tập trung vào cơ sở lý luận của phương pháp dạy học kiến tạo.
- Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa về mục tiêu và nội dung dạy học môn Toán lớp 4.
- Lựa chọn một số nội dung môn Toán lớp 4 phù hợp với việc thiết kế kế hoạch bài học theo phương pháp dạy học kiến tạo.
- Áp dụng quy trình dạy học theo lối kiến tạo để thiết kế kế hoạch bài học cho các nội dung đã được lựa chọn trong chương trình Toán lớp 4.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm bước đầu kiểm nghiệm tính khả thi và tính hiệu quả của các kế hoạch bài học đã thiết kế.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận gồm: Quá trình vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học một số nội dung môn Toán lớp 4 và quy trình thiết kế kế hoạch bài học môn Toán lớp 4 theo lý thuyết kiến tạo. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hoạt động dạy và học môn Toán theo quan điểm kiến tạo tại các lớp 4 thuộc Trường Tiểu học Hùng Vương, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ; trọng tâm nội dung đi sâu vào việc thiết kế kế hoạch bài học chủ đề Phân số.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng nền tảng dựa trên các khái niệm, quy luật và mô hình nhận thức của các nhà khoa học giáo dục và tâm lý học trong và ngoài nước:
- Khái niệm và bản chất kiến tạo: Tác giả tiếp thu các định nghĩa từ GS. TSKH. Nguyễn Bá Kim (học tập là quá trình người học xây dựng kiến thức bằng cách thích nghi với môi trường sinh ra mâu thuẫn, khó khăn, mất cân bằng), Phạm Gia Đức, Lương Việt Thái và Đào Thị Viết Anh (phân loại kiến tạo ngoại sinh, kiến tạo nội sinh và kiến tạo biện chứng). Khóa luận cũng vận dụng phân loại của Paul Ernest về kiến tạo cơ bản (Radical Constructivism - khẳng định vai trò tự xây dựng tri thức của cá nhân) và kiến tạo xã hội (Social Constructivism - nhấn mạnh vai trò của tương tác văn hóa, xã hội giữa học sinh với giáo viên và bạn học).
- Cơ chế nhận thức: Vận dụng cơ chế đồng hóa (assimilation) và điều ứng (accommodation) của Jean Piaget; khái niệm vùng phát triển gần (Zone of Proximal Development) của L. S. Vygotsky; chu trình nhận thức của Ernst von Glasersfeld (Dự báo – Kiểm nghiệm – Thất bại – Thích nghi – Kiến thức mới); tư tưởng dạy học toán qua phỏng đoán và kiểm nghiệm của George Pólya; thuật toán tìm kiếm Ơrixtic (Heuristic algorithm).
- Mô hình dạy học kiến tạo: Mô hình hóa tiến trình tiếp thu tri thức gồm 5 thành tố tiếp nối: Vốn tri thức $\rightarrow$ Dự đoán $\rightarrow$ Kiểm nghiệm $\rightarrow$ Điều chỉnh $\rightarrow$ Tri thức mới.
| Tiêu chí so sánh |
Lớp học truyền thống |
Lớp học kiến tạo |
| Chương trình |
Bắt đầu từ các phần nhỏ của tổng thể; nhấn mạnh kỹ năng cơ bản; SGK là pháp lệnh tối cao. |
Nhấn mạnh khái niệm lớn, đi từ tổng thể mở rộng ra thành phần; chú trọng câu hỏi và mối quan tâm của học sinh. |
| Phương tiện dạy học |
Chủ yếu dựa vào sách giáo khoa và sách bài tập. |
Bao gồm các nguồn học liệu đa dạng, phiếu học tập, phương tiện trải nghiệm thực hành. |
| Bản chất việc học |
Dựa vào sự nhắc lại, bắt chước kiến thức có sẵn; kiến thức được coi như vật trơ. |
Học sinh tương tác, tự xây dựng trên nền tảng đã biết; kiến thức là đối tượng động. |
| Vai trò giáo viên |
Truyền đạt thông tin trực tiếp, áp đặt quyền lực chuyên môn tuyệt đối. |
Đàm thoại, tương tác, tổ chức môi trường cho học sinh tự kiến tạo tri thức. |
| Hình thức hoạt động |
Học sinh chủ yếu làm việc cá nhân, thụ động nghe giảng. |
Tăng cường làm việc nhóm, trao đổi, thảo luận và hợp tác xã hội. |
| Đánh giá |
Thông qua bài kiểm tra trắc nghiệm, câu trả lời đúng sai; coi trọng sản phẩm cuối cùng. |
Đánh giá quá trình, kiểm tra hành động, quan điểm và tiến trình tư duy của học sinh. |
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả phối hợp chặt chẽ hai nhóm phương pháp:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, so sánh, tổng hợp và hệ thống hóa các văn kiện, chỉ thị đổi mới PPDH của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo; nghiên cứu tài liệu tâm lý học lứa tuổi, giáo dục học, lý thuyết kiến tạo và chương trình SGK Toán lớp 4 hiện hành.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra, quan sát: Dự giờ, phỏng vấn trực tiếp và phát phiếu điều tra khảo sát 20 giáo viên cùng học sinh khối 4 tại Trường Tiểu học Hùng Vương, thị xã Phú Thọ.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Nghiên cứu kinh nghiệm giảng dạy môn Toán lớp 4 của giáo viên dạy giỏi ở trường tiểu học.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tham vấn giảng viên hướng dẫn, giảng viên bộ môn Toán Trường Đại học Hùng Vương và giáo viên tiểu học.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học thực nghiệm các giáo án đã thiết kế trên đối tượng học sinh lớp 4 nhằm kiểm chứng tính khả thi.
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý định lượng dữ liệu điều tra thực trạng và kết quả bài kiểm tra đầu vào, đầu ra của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.
Nguồn dữ liệu của khóa luận gồm: Tài liệu lý luận giáo dục, chương trình và SGK Toán 4; phiếu khảo sát thực trạng giáo viên và học sinh; biên bản dự giờ; kết quả điểm số thực nghiệm sư phạm tại Trường Tiểu học Hùng Vương năm học 2015–2016.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu lý thuyết kiến tạo từ những năm 1980 (Brousseau, Berdot, Blanchard-Laville) và các nghiên cứu vận dụng tại Việt Nam (Nguyễn Thị Thu Hằng, Phí Thị Thùy Vân, Đỗ Thị Thanh). Tác giả phân tích 7 định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở Việt Nam hiện nay, bao gồm:
- Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh (qua 3 cấp độ: bắt chước, tìm hiểu/khám phá, sáng tạo).
- Kết hợp nhuần nhuyễn PPDH truyền thống và hiện đại.
- Phát triển năng lực tự học.
- Kết hợp hoạt động cá nhân với hoạt động nhóm.
- Tăng cường rèn luyện kỹ năng thực hành.
- Sử dụng phương tiện kỹ thuật hiện đại.
- Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập.
Về đặc điểm tâm sinh lý, học sinh tiểu học đang trong giai đoạn chuyển dần từ tư duy trực quan cụ thể sang tư duy trừu tượng, chú ý không chủ định và trí nhớ hình tượng chiếm ưu thế. Học sinh thường nhận thức dựa vào kinh nghiệm sống (có kinh nghiệm đúng và sai lầm), điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức hoạt động dự đoán – kiểm nghiệm – điều chỉnh nhận thức theo LTKT.
Về thực tiễn, kết quả điều tra 20 giáo viên tại Trường Tiểu học Hùng Vương chỉ ra:
- Tỷ lệ giáo viên sử dụng các phương pháp dạy học: Thuyết trình chiếm 75%, hỏi đáp chiếm 60%, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề chiếm 65%, thảo luận nhóm chiếm 65%, trò chơi học tập chiếm 15%. Giáo viên chuộng thuyết trình và hỏi đáp vì tiết kiệm thời gian, dễ quản lý trật tự lớp và không tốn công chuẩn bị đồ dùng.
- Khâu điều tra vốn hiểu biết sẵn có của học sinh còn bị xem nhẹ: 30% giáo viên ít khi điều tra, 20% thỉnh thoảng điều tra, 35% ít chú ý đến mối liên hệ giữa bài mới và kiến thức cũ.
- Về nhận thức: 75% giáo viên hiểu đúng về PPDH kiến tạo, song chưa áp dụng vào dạy học Toán 4 vì e ngại phương pháp mới phức tạp và chưa có quy trình hướng dẫn cụ thể.
Khảo sát phía học sinh cho thấy: 30% rất thích học Toán 4, 57% thích, 13% bình thường. Nội dung học sinh thấy khó nhất là Phân số và các phép tính (40%), tiếp theo là Hình học (30%) và Số tự nhiên (30%).
| Các hoạt động của học sinh trong giờ học |
Thường xuyên |
Thỉnh thoảng |
Ít khi |
Không bao giờ |
| Ngồi yên nghe GV giảng bài |
76% |
10% |
10% |
4% |
| Tự ghi bài theo lời giải GV |
0% |
0% |
0% |
100% |
| Ghi bài theo yêu cầu của GV |
72% |
12% |
0% |
16% |
| Thảo luận với các bạn |
0% |
20% |
10% |
70% |
| Hỏi, trao đổi với GV |
0% |
20% |
10% |
70% |
| Tham gia trò chơi học tập |
0% |
8% |
18% |
74% |
Số liệu phản ánh giờ học truyền thống còn nặng tính thụ động (76% học sinh thường xuyên ngồi yên nghe giảng). Ngược lại, khi được hỏi về nguyện vọng, 60% học sinh mong muốn được chơi trò chơi học tập, 50% thích thảo luận nhóm, 40% thích đặt câu hỏi/trao đổi với thầy cô và 0% học sinh thích ngồi yên nghe giảng một chiều.
Chương 2: Vận dụng lý thuyết kiến tạo thiết kế kế hoạch bài học một số nội dung môn Toán lớp 4
Chương 2 đề xuất quy trình dạy học môn Toán 4 theo lý thuyết kiến tạo gồm 3 giai đoạn và 7 bước chi tiết:
-
Giai đoạn 1: Chuẩn bị
- Bước 1: Nghiên cứu kỹ mục tiêu, phân tích nội dung bài học. Xác định rõ mục tiêu kiến thức, kỹ năng, thái độ và trọng tâm bài dạy.
- Bước 2: Tìm hiểu kiến thức đã học có liên quan và liên hệ với kiến thức mới cần hình thành. Rà soát hệ thống tri thức nền tảng của học sinh để tạo cầu nối logic đến tri thức mới.
- Bước 3: Xác định nội dung vận dụng lý thuyết kiến tạo. Lựa chọn phần kiến thức phù hợp để xây dựng tình huống có vấn đề.
- Bước 4: Lựa chọn phương pháp dạy học và chuẩn bị đồ dùng dạy học. Thiết kế hệ thống phiếu học tập (chứa các bài tập tái hiện và bài tập tạo tình huống thách thức), chuẩn bị bảng phụ, thiết bị trình chiếu.
-
Giai đoạn 2: Tiến hành
- Bước 1: Bộc lộ hiểu biết đã có. Tổ chức cho học sinh tái hiện kiến thức cũ qua các kỹ thuật: nêu vấn đề, thảo luận nhóm, luyện tập thực hành hoặc động não (brainstorming).
- Bước 2: Xây dựng kiến thức mới. Tiến hành theo chuỗi hoạt động: Nêu vấn đề $\rightarrow$ Giải quyết vấn đề (cá nhân/nhóm) $\rightarrow$ Đề xuất giả thuyết/dự đoán $\rightarrow$ Kiểm tra giả thuyết (suy luận thử – sai) $\rightarrow$ Rút ra kết luận (khái quát hóa tri thức mới).
- Bước 3: Vận dụng. Học sinh thực hành giải bài tập trong SGK, vở bài tập và giải quyết tình huống thực tiễn nhằm củng cố và kiểm chứng mức độ điều chỉnh nhận thức.
-
Giai đoạn 3: Tổng kết
- Củng cố kiến thức, dặn dò, tổ chức trò chơi học tập hoặc đặt tình huống gợi mở nhằm tạo tâm thế nhận thức cho các bài học tiếp theo.
Tác giả xác lập 4 nguyên tắc khi lập kế hoạch bài học:
- Nguyên tắc 1: Đảm bảo tính khoa học và tính thực tiễn.
- Nguyên tắc 2: Đảm bảo tính vừa sức đối với học sinh, khả thi trong điều kiện cơ sở vật chất thực tế, phát huy tính tích cực.
- Nguyên tắc 3: Đảm bảo quy trình dạy học kiến tạo gắn với yêu cầu chung của môn Toán tiểu học.
- Nguyên tắc 4: Dựa trên các đặc trưng cốt lõi của dạy học kiến tạo (học sinh là chủ thể tự biến đổi cấu trúc nhận thức, giáo viên là người kiến tạo môi trường).
Vận dụng quy trình trên, tác giả lập bảng tổng hợp kiến thức liên quan và tiến hành thiết kế chi tiết 5 kế hoạch bài dạy thuộc mạch kiến thức Phân số:
- Bài “Phân số và phép chia số tự nhiên”
- Bài “Phân số bằng nhau”
- Bài “Quy đồng mẫu số các phân số”
- Bài “Phép cộng phân số”
- Bài “Phép nhân phân số”
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Chương 3 trình bày việc triển khai thực nghiệm sư phạm tại Trường Tiểu học Hùng Vương, thị xã Phú Thọ:
- Tổ chức thực nghiệm: Lựa chọn các lớp có trình độ tương đương, phân chia thành lớp thực nghiệm (dạy học theo các kế hoạch bài học vận dụng LTKT đã thiết kế ở Chương 2) và lớp đối chứng (dạy học theo phương pháp thông thường).
- Nội dung thực nghiệm: Tiến hành dạy thực nghiệm 5 bài học về phân số đã được xây dựng.
- Phương thức đánh giá:
- Đánh giá định tính: Quan sát thái độ, mức độ tập trung, tính chủ động, khả năng tự lực giải quyết vấn đề, tinh thần trao đổi thảo luận nhóm và hứng thú học tập của học sinh trong các tiết dạy.
- Đánh giá định lượng: Thực hiện kiểm tra khảo sát đầu vào để xác định tính tương đồng giữa hai nhóm; tiến hành bài kiểm tra đầu ra sau quá trình thực nghiệm, thống kê phân phối điểm số, tính tỷ lệ phần trăm và vẽ biểu đồ so sánh kết quả học tập giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.
Kết quả và đóng góp
-
Kết quả khảo sát và thực nghiệm:
- Khảo sát thực trạng cung cấp bộ dữ liệu thực tế về thực trạng dạy học Toán 4 tại Trường Tiểu học Hùng Vương (75% GV hiểu đúng LTKT nhưng ngại áp dụng; 76% HS thường xuyên thụ động ngồi nghe giảng; 60% HS mong muốn được tham gia trò chơi và 50% muốn thảo luận nhóm).
- Kiểm tra định tính và định lượng trong thực nghiệm sư phạm cho thấy lớp thực nghiệm có sự cải thiện rõ rệt về mức độ hứng thú, khả năng tự phát hiện tri thức và điểm số bài kiểm tra đầu ra so với lớp đối chứng học theo phương pháp truyền thống.
-
Giải pháp và đề xuất của tác giả:
- Đề xuất quy trình dạy học 3 giai đoạn (Chuẩn bị – Tiến hành – Tổng kết) với 7 bước rõ ràng, giúp giáo viên dễ dàng áp dụng lý thuyết kiến tạo vào thực tế bài giảng môn Toán.
- Xây dựng hệ thống tiêu chí lựa chọn nội dung bài học phù hợp với LTKT và bộ 5 giáo án mẫu minh họa chi tiết cho mảng kiến thức Phân số lớp 4.
- Khuyến nghị giáo viên tiểu học cần chú trọng khâu chuẩn bị phiếu học tập, tích cực điều tra và khai thác vốn kinh nghiệm sẵn có của học sinh trước khi dạy bài mới, đồng thời kiên trì tổ chức cho học sinh thảo luận, phỏng đoán và kiểm nghiệm thử – sai.
-
Đóng góp của khóa luận:
- Về mặt khoa học: Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận của lý thuyết kiến tạo gắn với đặc điểm tâm sinh lý học sinh tiểu học và đặc thù môn Toán lớp 4; chuyển hóa các quan điểm nhận thức trừu tượng (Piaget, Vygotsky, Glasersfeld, Ernest) thành mô hình dạy học sư phạm cụ thể.
- Về mặt thực tiễn: Cung cấp quy trình bài bản và hệ thống giáo án mẫu về phân số được kiểm nghiệm thực tế, đóng vai trò tài liệu tham khảo trực tiếp cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học và giáo viên tiểu học trong việc đổi mới phương pháp dạy học môn Toán.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Phạm vi khảo sát thực trạng và địa bàn thực nghiệm sư phạm chỉ mới thực hiện tại Trường Tiểu học Hùng Vương, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ; quy mô mẫu khảo sát giáo viên còn hẹp (20 giáo viên).
- Nội dung thiết kế kế hoạch bài học mới tập trung chủ yếu vào chủ đề Phân số trong chương trình Toán 4, chưa bao quát toàn bộ các mạch kiến thức khác như Số tự nhiên, Đo lường, Yếu tố hình học và Giải toán có lời văn.
- Khung thời gian một tiết học tiểu học (35–40 phút) và điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học còn thiếu thốn tạo ra khó khăn nhất định cho giáo viên khi triển khai đầy đủ các pha kiến tạo.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu và thử nghiệm quy trình dạy học kiến tạo cho toàn bộ các nội dung còn lại của chương trình môn Toán lớp 4 (Số tự nhiên, Hình học, Đại lượng và Đo đại lượng).
- Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết kiến tạo sang các khối lớp khác ở bậc tiểu học (lớp 1, 2, 3, 5) và các môn học khác ngoài môn Toán.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học: Làm tài liệu tham khảo phục vụ học phần Phương pháp dạy học môn Toán, rèn luyện kỹ năng thiết kế kế hoạch bài học (giáo án) và chuẩn bị cho các đợt thực tập sư phạm, khóa luận tốt nghiệp.
- Giáo viên tiểu học: Tham khảo quy trình 3 giai đoạn 7 bước và hệ thống phiếu học tập để tổ chức các giờ dạy học môn Toán lớp 4 theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh.
- Cán bộ quản lý chuyên môn: Sử dụng làm tài liệu tham khảo trong các đợt sinh hoạt chuyên môn, bồi dưỡng giáo viên về đổi mới phương pháp dạy học.
- Nội dung đáng chú ý:
- Quy trình dạy học 3 giai đoạn (Sơ đồ 2 và thuyết minh chi tiết).
- Bảng tổng hợp các kiến thức đã học có liên quan đến kiến thức mới về phân số (Bảng 2).
- Hệ thống 5 kế hoạch bài dạy mẫu về Phân số ở Chương 2.
Câu hỏi thường gặp
Câu 1: Quy trình dạy học môn Toán lớp 4 theo lý thuyết kiến tạo do tác giả xây dựng gồm những giai đoạn nào?
Trả lời: Quy trình gồm 3 giai đoạn chính:
- Giai đoạn chuẩn bị (4 bước): Nghiên cứu mục tiêu, phân tích nội dung $\rightarrow$ Tìm hiểu kiến thức đã học liên quan $\rightarrow$ Xác định nội dung vận dụng LTKT $\rightarrow$ Lựa chọn PPDH và chuẩn bị đồ dùng dạy học (phiếu học tập).
- Giai đoạn tiến hành (3 bước): Bộc lộ hiểu biết đã có $\rightarrow$ Xây dựng kiến thức mới (nêu vấn đề, giải quyết vấn đề, đề xuất giả thuyết, kiểm tra giả thuyết thử – sai, rút ra kết luận) $\rightarrow$ Vận dụng.
- Giai đoạn tổng kết: Củng cố, dặn dò, tổ chức trò chơi hoặc đưa ra tình huống mở rộng.
Câu 2: Số liệu điều tra thực trạng tại Trường Tiểu học Hùng Vương chỉ ra nghịch lý gì trong hoạt động của học sinh trong giờ học Toán 4?
Trả lời: Kết quả khảo sát cho thấy 76% học sinh thường xuyên phải ngồi yên nghe giảng một chiều và 72% thường xuyên ghi bài thụ động theo yêu cầu của giáo viên; các hoạt động thảo luận nhóm, trao đổi với giáo viên có tới 70% học sinh ít khi được tham gia. Trong khi đó, nguyện vọng thực tế của học sinh là 60% thích tham gia trò chơi học tập, 50% thích thảo luận nhóm, 40% thích trao đổi với thầy cô và 0% học sinh thích ngồi yên nghe giảng.
Câu 3: Giáo viên tiểu học tại cơ sở khảo sát gặp những khó khăn gì khi áp dụng lý thuyết kiến tạo?
Trả lời: Dù 75% giáo viên hiểu đúng về PPDH kiến tạo, nhưng giáo viên chưa áp dụng thường xuyên do: chưa tìm ra quy trình giảng dạy cụ thể, thích hợp; e ngại việc chuẩn bị giáo án và đồ dùng theo LTKT mất nhiều thời gian, công sức; thời lượng tiết học trên lớp bị hạn chế; trình độ học sinh trong lớp không đồng đều; cơ sở vật chất phục vụ dạy học còn thiếu thốn. Do đó, giáo viên vẫn chủ yếu dùng phương pháp thuyết trình (75%) và hỏi đáp (60%) để tiết kiệm thời gian