CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Năng lực Theo quan điểm của những nhà tâm lí học, năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Từ điển tiếng Việt [33] có giải thích: Năng lực là: “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” Trong tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực của HS do Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành năm 2014 [9, tr.10] thì năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định.
Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người lao động, kiến thức và kĩ năng) được thể hiện thông qua 11 các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó. Năng lực bao gồm các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động, mọi công dân đều cần phải có, đó là các năng lực chung, cốt lõi. Định hướng chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015 đã xác định một số những năng lực cốt lõi mà học sinh Việt Nam cần phải có như: – Năng lực làm chủ và phát triển bản thân, bao gồm: + Năng lực tự học. + Năng lực giải quyết vấn đề.
+ Năng lực sáng tạo. + Năng lực quản lí bản thân. – Năng lực xã hội, bao gồm: + Năng lực giao tiếp. + Năng lực hợp tác.
– Năng lực công cụ, bao gồm: + Năng lực tính toán. + Năng lực sử dụng ngôn ngữ. + Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin. Cho dù khái niệm về năng lực được diễn đạt dưới nhiều dạng không giống nhau nhưng có thể rút ra một số đặc điểm chung cơ bản về năng lực: Nói đến năng lực là đề cập đến xu thế đạt được một kết quả nào đó của một công việc cụ thể, do một con người cụ thể thực hiện (năng lực học tập, năng lực tư duy, năng lực tự quản lí bản thân,.
không tồn tại năng lực chung chung) Năng lực là một yếu tố cấu thành trong một hoạt động cụ thể. Năng lực chỉ tồn tại trong quá trình vận động, phát triển của một hoạt động cụ thể. Vì vậy, năng lực vừa là mục tiêu, vừa là kết quả hoạt động, nó là điều kiện của hoạt động nhưng cũng phát triển trong chính hoạt động đó. Từ đó, chúng ta có thể nhận định năng lực của HS phổ thông chính là khả năng vận dụng kết hợp kiến thức, kĩ năng và thái độ để thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập, giải quyết có hiệu quả những vấn đề có thực trong cuộc sống của 12 các em.
Vì vậy, muốn hình thành, rèn luyện, đánh giá năng lực ở HS tất yếu phải tăng cường đưa các em vào tình huống thực, tăng cường tham gia vào hoạt động để làm ra sản phẩm. Năng lực giao tiếp Giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin giữa các thành viên trong xã hội có tính mục đích. Đây là loại hoạt động xã hội mang tính đặc thù, là loại hoạt động cơ bản và thiết yếu làm cho xã hội tồn tại và phát triển. Có nhiều phương tiện để giao tiếp, trong đó ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất cơ bản nhất.
Thuật ngữ “năng lực giao tiếp” tuy xuất hiện sau thuật ngữ “năng lực ngôn ngữ” nhưng nhờ sự xuất hiện ấy mà “năng lực giao tiếp” đã làm thay đổi quan điểm dạy học tiếng Việt hiện nay, trở thành mục đích cuối cùng của việc dạy và học tiếng Việt. Khái niệm “năng lực giao tiếp” được hiểu thông qua sự đối lập với khái niệm “năng lực ngôn ngữ”. Năng lực ngôn ngữ là khả năng của con người tạo ra được những câu đúng trên cơ sở nắm vững những kiến thức ngữ pháp, từ vựng, ngữ âm, tu từ. của ngôn ngữ đó.
Còn năng lực giao tiếp, đó là việc lựa chọn và hiện thực hóa những chương trình của hành vi lời nói tùy thuộc vào khả năng định hướng trong hoàn cảnh này hoặc khác, khả năng phân loại các tình huống sao cho phù hợp với chủ đề, nhiệm vụ và mục đích giao tiếp ở người học trước khi giao tiếp và trong quá trình mô phỏng các tình huống giống và gần giống như giao tiếp thực. Nói cách khác, năng lực giao tiếp chính là khả năng tham gia vào giao tiếp. Hoạt động giao tiếp gồm hai quá trình xảy ra tương tác lẫn nhau là tạo lập và tiếp nhận lời nói. Giao tiếp đều diễn ra ở hai dạng: dạng nói và dạng viết.
Theo đó, để dạy cho HS năng lực giao tiếp phải dạy các em cả 4 hoạt động: nghe, nói, đọc, viết. Bốn hoạt động này xảy ra trong những tình huống giao tiếp cụ thể gồm nhiều nhân tố ảnh hưởng tương hỗ lẫn nhau. Hoạt động sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp chi phối bởi các nhân tố giao tiếp khác như nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, đối tượng giao tiếp và đặc biệt là mục 13 đích giao tiếp. Muốn tham gia vào hoạt động giao tiếp, HS vừa phải biết tiếp nhận, vừa phải biết sản sinh ra văn bản (bao gồm cả nói và viết) nhưng các kĩ năng đó phải có sự biến đổi, chuyển hóa về chất, tức là tạo ra và làm giàu năng lực sử dụng lời nói của cá nhân, vì dạy giao tiếp chính là dạy lời nói.
Theo hướng này, người học sẽ ít quan tâm đến các quy tắc ngôn ngữ, sẽ quan tâm đến việc tạo ra câu nói, lời nói cụ thể. Lời nói thì vô cùng phong phú, sinh động, vô hạn, biến đổi trong các hoàn cảnh sử dụng (giao tiếp) khác nhau. Có thể định nghĩa năng lực giao tiếp như sau: “Năng lực giao tiếp là khả năng giao tiếp có liên quan đến những người khác với độ chính xác, rõ ràng, dễ hiểu, chặt chẽ, chuyên môn, hiệu quả phù hợp. Đó là một thước đo để xác định mức độ các mục tiêu nào có sự tương tác đang đạt được” [14, tr.
Tuy nhiên năng lực giao tiếp còn tùy thuộc vào tình huống hay ngữ cảnh mà trong đó sự tương tác diễn ra. Giao tiếp được coi là thành công đối với một nhóm trong một tình huống nào đó nhưng nó có thể không được coi là thành công đối với nhóm khác trong một tình huống khác. Giao tiếp là sự chia sẻ ý nghĩa, tình cảm, thông tin với một hoặc nhiều người. Nhưng giao tiếp chỉ đơn thuần là nói chuyện với ai đó thì có thực sự mang lại kết quả như ta mong đợi chưa? Không chỉ đơn giản là thế, giao tiếp còn bao hàm rất nhiều vấn đề khác như: Bạn nói như thế nào? Bạn hiểu đối tượng giao tiếp với mình như thế nào? Làm thế nào để hai bên có thể hiểu rõ về các thông tin cùng trao đổi? Bạn làm thế nào để lần giao tiếp đó đạt được hiệu quả như mong đợi.? Vì vậy, kĩ năng giao tiếp liên quan tới nhiều hoạt động từ kĩ năng viết đến kĩ năng nói, kết hợp với tư thế, cử chỉ điệu bộ, động tác để diễn tả quan điểm và mục đích của vấn đề muốn đề cập.
Phát triển năng lực giao tiếp cho HS Tiểu học là quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục nhằm giúp người học hình thành và rèn luyện các thao tác, hành động để trao đổi, tiếp nhận, xử lí thông tin bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong các mối quan hệ của HS ở gia đình, nhà trường, xã hội. 14 Thông qua giao tiếp, con người được tiếp nhận thông tin để biến nó thành tri thức, kĩ năng sống của mỗi người. Giáo dục nhằm phát triển năng lực giao tiếp cho HS giữ vai trò quan trọng bởi vì: Phát triển năng lực giao tiếp giúp hình thành và phát triển nhân cách của HS. Việc vận dụng kĩ năng giao tiếp vào trong cuộc sống của mỗi con người chính là năng lực vận dụng có hiệu quả những tri thức về giao tiếp, giúp cá nhân tạo dựng được chỗ đứng trong xã hội.
Xét trong quan hệ liên nhân, nếu kĩ năng giao tiếp tốt sẽ giúp cá nhân tạo dựng được hình ảnh tốt về bản thân và các mối quan hệ hợp tác tốt trong xã hội. Đối với lứa tuổi HS đang trong giai đoạn hình thành và phát triển nhân cách thì năng lực giao tiếp đóng vai trò quan trọng bởi nhờ có kĩ năng giao tiếp các em học tập hiệu quả, nhờ có kĩ năng giao tiếp các em tự tin tham gia vào hoạt động giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội, trải nghiệm bản thân. Phát triển năng lực giao tiếp tạo nên hệ giá trị sống tích cực của HS. Giáo dục kĩ năng giao tiếp cho HS tiểu học giữ vai trò rất to lớn trong việc bắt đầu tạo nên hệ giá trị sống cho các em, giúp các em thể hiện được giá trị của bản thân vào cuộc sống và từ đó các em trưởng thành với một hệ giá trị tích cực bởi thành quả của quá trình giáo dục.
Bên cạnh đó, việc dạy học nhằm phát triển năng lực giao tiếp còn xây dựng và tạo nên nét văn hóa trong nhà trường. Đó là văn hóa ứng xử và văn hóa giao tiếp. Phát triển năng lực giao tiếp cho HS, giúp các em tạo lập các mối quan hệ tốt đẹp trong cuộc sống. Năng lực giao tiếp ảnh hưởng trực tiếp tới việc thiết lập các mối quan hệ, đến công việc ở mọi lứa tuổi.
Năng lực giao tiếp tốt là một thế mạnh đối với bất cứ ai trong công việc nói chung và đối với HS Tiểu học trong học tập, rèn luyện nói riêng. Đối với lứa tuổi học trò, giao tiếp là phương tiện cho phép HS xây dựng cầu nối với bạn bè, với các nền văn hóa của nhân loại, với thầy cô giáo và với người khác, với chính bản thân mình, thuyết phục người khác chấp nhận ý kiến của các em để giải quyết các vấn đề học tập, rèn luyện và bày tỏ được nhu cầu của bản thân.