Chương 1 TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG VIỆT THỰC HÀNH 1. Khái quát về tiếng Việt 1. Khái niệm "Tiếng Việt" Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Theo số liệu thống kê, nước ta có 54 dân tộc, trong đó có dân tộc Việt (còn gọi là dân tộc Kinh).
Mỗi dân tộc ấy có ngôn ngữ riêng. Tiếng Việt là ngôn ngữ của dân tộc Việt và là ngôn ngữ quốc gia của Việt Nam. Nguồn gốc tiếng Việt và mối quan hệ họ hàng của tiếng Việt Thành tựu nghiên cứu khoa học nhiều năm gần đây cho rằng tiếng Việt (cùng với dân tộc Việt) có nguồn gốc bản địa. Tiếng Việt xuất hiện từ rất sớm trên lưu vực sông Hồng và sông Mã, trong một xã hội có nền văn minh nông nghiệp.
Tiếng Việt thuộc họ Nam Á. Đó là một họ ngôn ngữ có từ rất xưa, trên một vùng rộng lớn nằm ở Đông Nam châu Á. Vùng này, thời cổ vốn là một trung tâm văn hóa trên thế giới. Tiếng Việt có quan hệ họ hàng gần gũi với tiếng Mường, có quan hệ họ hàng xa hơn với các ngôn ngữ thuộc nhánh tiếng Môn-Khơme ở vùng núi phía Bắc, ở dọc Trường Sơn, ở miền Tây Nguyên, ở trên đất Cam-pu-chia, Miến Điện.
Ví dụ: từ tay trong tiếng Việt thì từ tương đương trong tiếng Mường là thay, trong tiếng Khơ-mú, tiếng Ba-na, tiếng Mơ-nông, tiếng Stiêng là ti, trong tiếng Khơ-me là đay, trong tiếng Môn là tai. Từ cội nguồn ấy, Tiếng Việt đã có quá trình phát triển đầy sức sống, gắn bó với xã hội người Việt, với sự trưởng thành mạnh mẽ của tinh thần dân tộc tự cường và tự chủ. Sơ lược về quá trình phát triển của tiếng Việt 1. Tiếng Việt trong thời kỳ phong kiến Trong một ngàn năm Bắc thuộc và dưới các triều đại phong kiến Việt Nam cho đến trước thời kỳ thuộc Pháp, ngôn ngữ giữ vai trò chính thống ở Việt Nam là tiếng Hán, tiếng Việt chỉ được dùng làm phương tiện giao tiếp trong sinh hoạt hàng ngày.
Song cha ông ta đã đấu tranh để bảo tồn và từng bước phát triển tiếng Việt, giành lại những vị trí xã hội bị tiếng Hán chiếm giữ. Để phát triển tiếng Việt, cha ông ta đã làm hai việc: -Thứ nhất: Làm phong phú thêm vốn từ bằng cách vay mượn nhiều từ ngữ Hán cổ và Việt hóa chúng để tạo thành từ Hán-Việt; -Thứ hai: Tạo ra chữ viết cho tiếng Việt, đó là chữ Nôm. Nhìn chung, tỷ lệ các yếu tố Hán trong tiếng Việt khá lớn (khoảng trên dưới 70%), nhưng về cơ bản chúng đã được Việt hóa. Việt hoá là phương thức tự bảo tồn và phát triển của tiếng Việt trước sự chèn ép của các ngôn ngữ ngoại lai.
Theo hướng đó, tiếng Việt vừa giữ nguyên được bản sắc dân tộc, vừa ngày càng được hoàn thiện, tiến nhanh theo kịp trình độ các ngôn ngữ đã phát triển hiện nay trên thế giới. Trong giai đoạn này, có hai ngôn ngữ là tiếng Việt và văn ngôn Hán; có ba văn tự là chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ được sử dụng. Tiếng Việt trong thời kỳ thuộc Pháp Trong thời kì thuộc Pháp, ở nước ta tồn tại ba ngôn ngữ: tiếng Pháp, tiếng Việt và văn ngôn Hán; có bốn loại văn tự là: chữ Pháp, chữ Hán, chữ Nôm, chữ quốc ngữ. Thời kì này, sự tranh chấp giữa ba ngôn ngữ diễn ra theo chiều hướng tiếng Pháp vươn lên chiếm vị trí số một, vai trò của văn ngôn Hán ngày càng giảm, vị thế của tiếng Việt ngày càng được đề cao.
Đây là thời kì thay thế dần chữ Hán và chữ Nôm bằng chữ Pháp và chữ quốc ngữ Chính sách của nhà cầm quyền Pháp là đồng hoá về mặt ngôn ngữ và văn hoá. Chúng muốn người Việt chấp nhận sử dụng tiếng Pháp, chữ Pháp và chấp nhận văn hoá, chính trị Pháp. Để truyền bá tiếng Pháp và văn hoá Pháp nhằm củng cố nền thống trị của thực dân Pháp, nhà cầm quyền Pháp buộc phải dùng tiếng Việt làm phương tiện chuyển ngữ. Vì thế, song song với việc dạy tiếng Pháp cho người Việt, thì việc dạy tiếng Việt cho viên chức hành chính Pháp được đặt ra.
Do chữ quốc ngữ gần với chữ Pháp nên người Pháp chọn chữ quốc ngữ làm phương tiện dạy và học tiếng Việt. Điều này làm cho chữ quốc ngữ trở thành một phương tiện giáo dục chung. Dù người Pháp chủ trương sử dụng tiếng Việt và chữ quốc ngữ là chuyển ngữ nhưng với thái độ dè dặt. Tiếng Việt được dạy chủ yếu ở lớp đồng ấu (lớp một); từ lớp sơ đẳng (lớp hai và lớp ba), học sinh học song ngữ Pháp-Việt; từ năm thứ thứ tư đến năm thứ sáu, tiếng Pháp giữ vị trí áp đảo; từ cấp trung học, tiếng Pháp chiếm vị trí độc tôn.
Bối cảnh xã hội Việt Nam thời thuộc Pháp đã tạo điều kiện cho sự phát triển chữ quốc ngữ. Văn xuôi tiếng Việt đã hình thành và phát triển. Báo chí, sách vở tiếng Việt ra đời ngày càng nhiều. Nhiều thuật ngữ, từ ngữ mới đã được sử dụng, tuy chủ yếu vẫn là từ Hán Việt như: lãng mạn, dân chủ, bán kính, ẩn số…hoặc từ gốc Pháp như: Săm, axit, cao su, cà phê… Phong trào thơ mới, tiểu thuyết lãng mạn nở rộ cùng với hoạt động sôi nổi của văn chương báo chí làm cho tiếng Việt thêm phong phú, tinh tế, đa dạng, ngày càng tỏ rõ tính năng động và tiềm năng phát triển dồi dào, đủ sức vươn lên làm tròn trách nhiệm nặng nề trong giai đoạn mới.
Tiếng Việt từ Cách mạng tháng Tám đến nay Với bản Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày 2 tháng 9 năm 1945, tiếng Việt đã giành lại được vị trí xứng đáng của mình trong một nước Việt Nam độc lập, tự do. Tiếng Việt đã thay thế hoàn toàn tiếng Pháp trong các lĩnh vực hoạt động của nhà nước và của toàn dân, kể cả lĩnh vực đối ngoại Trong giai đoạn này, ở nước ta chỉ có một ngôn ngữ là tiếng Việt và một văn tự là chữ quốc ngữ. Tiếng Việt được dùng ở mọi cấp học và ở mọi lĩnh vực nghiên cứu khoa học từ thấp tới cao. Từ đây, tiếng Việt đã đóng một vai trò quan trọng không thể thiếu trong sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Chữ viết tiếng Việt 1. Vai trò của chữ viết đối với ngôn ngữ Chữ viết là những tập hợp, những hệ thống ký hiệu bằng hình, có thể nhìn thấy được, dùng để ghi lại (biểu hiện cho) một mặt nào đó (âm hoặc ý) của những đơn vị, những yếu tố của ngôn ngữ. Trong đời sống nhân loại, chữ viết có vai trò cực kì to lớn. Trước hết, nó bù đắp cho những hạn chế về mặt không gian và thời gian của ngôn ngữ, giúp cho người ở cách xa nhau vẫn có thể nói và nghe được nhau để hiểu nhau; đồng thời, thế hệ của những người hôm nay biết được thế hệ trước, thế hệ sau biết thế hệ hôm nay.
Chữ viết là phương tiện ghi ngôn ngữ, là phương tiện giao tiếp bổ sung dựa trên kênh nhận thức thị giác, nên khi không nói và nghe được nhau, nếu biết sử dụng chữ viết, người ta vẫn trao đổi thông tin được với nhau. Chức năng ghi lại ngôn ngữ đã giúp chữ viết có vai trò và công năng làm giảm thiểu tối đa công sức, nhân lực, tiền của … trong việc truyền bá kiến thức, phát tán thông tin (nếu so với dùng lời nói trực tiếp), nhưng lại làm tăng cường đến mức tối đa hiệu quả và phạm vi mà các thông tin, các kiến thức được truyền bá. Xét về phương diện lịch sử, xã hội và văn hóa, chính chữ viết có vai trò làm công cụ thúc đẩy sự hình thành ngôn ngữ văn hóa, hình thành nên nền văn học viết của các dân tộc, góp phần làm thống nhất và hình thành ngôn ngữ dân tộc, xác định chuẩn ngôn ngữ của ngôn ngữ các dân tộc. Đối với dân tộc nào cũng vậy, sự xuất hiện của chữ viết được coi như là một cái mốc quan trọng, có tác dụng quyết định bước tiến mới của nền văn minh, tạo điều kiện cần thiết cho tiếng nói dân tộc trở thành một ngôn ngữ phát triển tới trình độ cao.
Chữ Nôm và chữ quốc ngữ đã phát huy vai trò như vậy đối với tiếng Việt và văn hóa Việt Nam. Chữ Nôm Sách Tiền Hán thư thời Đông Hán có ghi: “Thời Đào Đường, có người Việt ở phương Nam cử sứ giả qua nhiều tầng thông dịch vào triều biếu con rùa thần có lẽ đã sống hàng nghìn năm, trên lưng có khắc chữ như con nòng nọc, ghi chép việc trời đất mở mang. Vua Nghiêu sai chép lại, gọi là Quy dịch”. Với những thông tin trên, ta thấy từ xa xưa, người Việt cổ đã có chữ viết, đã am tường thiên văn lịch pháp, có tri thức tối thiểu cho việc tổ chức xã hội và phát triển sản xuất nông nghiệp.
Ngôn ngữ của người Việt và người Hán chắc chắn là rất khác nhau, vì vậy phải qua nhiều tầng thông dịch mới hiểu được nhau. Cũng có nghĩa là tiếng Hán và tiếng Việt khác nhau về cội nguồn và thuộc hai ngữ hệ. Điều đó khẳng định trên địa bàn nước Văn Lang cổ đại có một ngôn ngữ bản địa và cũng đã có chữ viết. Trong thời kỳ nước ta bị phong kiến phương Bắc thống trị, chữ Hán giữ vị trí độc tôn.
Khi ý thức độc lập, tự chủ và tự cường của dân tộc lên cao, khi yêu cầu phát triển về văn hóa và kinh tế của đất nước trở lên bức thiết, cha ông ta đã sáng chế ra một lối chữ ghi âm tiếng Việt, đó là chữ Nôm. Theo các nhà nghiên cứu, chữ Nôm có thể hình thành từ khoảng cuối thế kỷ VIII, đầu thế kỷ IX, bước đầu được sử dụng từ thế kỷ X đến thế kỷ XII, khi nước nhà đã bước sang kỷ nguyên độc lập, với các triều đại Ngô, Đinh, tiền Lê, Lý, Trần lừng lẫy chiến công và rạng ngời văn hóa. Với sự ra đời của chữ Nôm, nền văn học viết bằng tiếng nói của dân tộc đã hình thành và phát triển để lại nhiều thành tựu lớn. Tuy nhiên, một mặt do giai cấp phong kiến thống trị sùng bái chữ Hán, khinh rẻ và kìm hãm tiếng nói và chữ viết của dân tộc, mặt khác do chữ Nôm có những nhược điểm nhất định (như ghi âm thiếu chính xác, cách viết không được được quy định thống nhất) cho nên tác dụng của nó không được phát huy đầy đủ.
Khoảng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi chữ quốc ngữ bắt đầu được thông dụng, chữ Hán không còn được dùng nữa thì chữ Nôm cũng kết thúc dần vai trò lịch sử của nó.