CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề về phát triển năng lực giao tiếp trong dạy học 1. Khái niệm năng lực Theo Từ điển tiếng Việt “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó. Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”.661] Trong các giáo trình tâm lý học, các nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra khá nhiều quan niệm về năng lực.
Đa số các tác giả cho rằng năng lực là tập hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo mang lại hiệu quả tốt cho hoạt động. Năng lực vừa là tiền đề, vừa là điều kiện giúp hoạt động có hiệu quả, đồng thời năng lực cũng phát triển ngay trong hoạt động đó. Trong Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 của Việt Nam, năng lực được xác định là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển do tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động các kiến thức, kỹ năng, thuộc tính cá nhân như hứng thú, niềm tin, ý chí,. để hình thành nên một hoạt động nhất định và đạt được kết quả mong đợi trong điều kiện cụ thể.
[dẫn theo 22, tr.12] Như vậy, năng lực có thể hiểu là khả năng thực hiện hoạt động thành công trong một bối cảnh nhất định nhờ sự trợ giúp của các kiến thức, kỹ năng, hứng thú, niềm tin, ý chí. Năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức, khả năng hoạt động của chính cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Năng lực giao tiếp Năng lực giao tiếp là khả năng giao tiếp có liên quan đến những người khác với độ chính xác rõ ràng, dễ hiểu, chặt chẽ, chuyên môn, hiệu quả, phù hợp. Đây được coi là thước đo để xác định mức độ các mục tiêu nào có sự tương tác đang đạt được.
Tuy nhiên, năng lực giao tiếp sẽ phụ thuộc vào các tình huống, ngữ cảnh cụ thể. Giao tiếp thành công trong tình huống này nhưng sẽ không thành công trong tình huống khác. Trong dạy học tiếng Việt, năng lực giao tiếp vừa là năng lực đặc thù của môn Tiếng Việt vừa là một năng lực chung mà trường học phải hình thành và phát triển. Nó bao gồm năng lực ngôn ngữ (khả năng hiểu, nắm bắt khái niệm, đặc trưng, tác dụng của các phương tiện ngôn ngữ) và năng lực sử dụng ngôn ngữ (khả năng sắp xếp, tổ chức từ ngữ; khả năng sử dụng từ ngữ đúng ngữ cảnh, đảm bảo chuẩn mực văn hóa, xã hội).
Phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh Tiểu học là quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục nhằm giúp người học hình thành và rèn luyện các thao tác, hành động để trao đổi, tiếp nhận, xử lí thông tin bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong các mối quan hệ của học sinh ở gia đình, nhà trường, xã hội. Giáo dục giúp phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh bởi đây là cách giúp các em hình thành nhân cách. Khi vận dụng kỹ năng giao tiếp vào cuộc sống, các em sẽ vận dụng các tri thức về giao tiếp, từ đó giúp các em có chỗ đứng ổn định trong xã hội. Nếu có kỹ năng giao tiếp tốt, các em sẽ xây dựng được hình ảnh tốt và các mối quan hệ hợp tác trong xã hội cũng thành công hơn.
Với học sinh, đây là giai đoạn hình thành và phát triển nhân cách nên năng lực giao tiếp đóng vai trò quan trọng khi giúp các em học tập hiệu quả, tự tin hơn khi tham gia vào các hoạt động giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội, trải nghiệm bản thân… 1. Dạy học phát triển năng lực giao tiếp Bộ Giáo dục và Đào tạo đang khẩn trương triển khai đổi mới toàn diện, đồng bộ và nhất quán nền giáo dục từ mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy 11 học đến kiểm tra đánh giá, chương trình được cấu trúc lại theo định hướng phát triển năng lực người học. Trong đó, năng lực giao tiếp được coi là một năng lực chính không thể thiếu trong việc đào tạo con người. Vì vậy, việc dạy học phát triển năng lực giao tiếp đóng vai trò quan trọng trong giáo dục hiện nay.
Khái quát chung về phép so sánh 1. Khái niệm về phép so sánh a) So sánh logic So sánh logic là một hoạt động nhận thức phổ biến của tư duy con người nhằm nhận dạng, chiếm lĩnh bản chất các sự kiện hiện tượng được so sánh. Nói cách khác, so sánh logic là việc đặt hai hay nhiều sự vật, hiện tượng cạnh nhau để tìm ra các nét giống và khác nhau. Ví dụ: - Trâm cũng cao như Nam.
- Con gái cũng xinh như mẹ. Người ta gọi các cách so sánh này là so sánh logic. Phép so sánh logic được thực hiện dựa trên tính đồng chất, đồng loại của các sự vật, hiện tượng nhằm xác lập sự tương đương giữa hai đối tượng. b) So sánh tu từ Tác giả Lê A trong cuốn “Phương pháp dạy học tiếng Việt” đã khẳng định so sánh tu từ hay so sánh hình ảnh là một biện pháp tu từ trong đó các sự vật có nét tương đồng được mang ra đối chiếu để gợi ra hình ảnh cụ thể, cảm xúc thẩm mỹ trong tâm trí người đọc, người nghe.
Ví dụ: Quê hương là con diều biếc Tuổi thơ con thả trên đồng (TV3, t.79) 12 Ở ví dụ trên, “quê hương” được ví như con diều biếc, một trò chơi dân gian đã gắn bó với tuổi thơ của tác giả. Nhà thơ nhớ về quê hương cũng chính là nhớ về những buổi chiều rủ nhau đi chăn trâu, thả diều trên những cánh đồng lúa chín vàng. Đó sẽ là những kỉ niệm tươi đẹp về quê hương yêu dấu mà tác giả không bao giờ quên. Như vậy, so sánh tu từ khác so sánh logic ở tính hình tượng, biểu cảm và dị loại của sự vật.
Nếu so sánh logic là đặt hai sự vật tương đồng cạnh nhau để so sánh thì so sánh tu từ là sự liên tưởng, tưởng tượng, phát hiện các hình ảnh lạ, độc đáo nhằm khơi gợi cảm xúc thẩm mỹ ở người đọc, người nghe. Cấu trúc của phép so sánh Hình thức đầy đủ nhất của phép so sánh gồm 4 yếu tố: 1 2 3 4 Bầu trời xanh thăm như nước biển đại thẳm dương dạt dào. Trong đó: - Yếu tố (1) là cái so sánh, đây là yếu tố được hoặc bị so sánh tùy theo việc so sánh là tích cực hay tiêu cực. - Yếu tố (2) là yếu tố chỉ tính chất sự vật hay trạng thái của hành động được nhìn nhận theo một cách nào đó có vai trò nêu rõ phương diện so sánh.
- Yếu tố (3) là mức độ so sánh thường được diễn ra ở mức độ ngang bằng như nhau hoặc hơn kém nhau. Ngoài từ “như” còn có các từ: “tựa như”, “giống như”, “là”, “như là”, “như thể”, “hơn”, “kém”, “chẳng bằng”, “không bằng”. - Yếu tố (4) là cái được đưa ra làm chuẩn để so sánh. Trong khi sử dụng so sánh, các yếu tố có thể linh hoạt thay đổi trật tự hoặc để ẩn một yếu tố nào đó cho phù hợp với văn cảnh và ý đồ của người viết.
Khi phân tích phép so sánh, có thể dựa vào cấu trúc hoặc ngữ nghĩa. 13 Dựa vào cấu trúc, so sánh gồm các dạng sau: Dạng 1: Phép so sánh đầy đủ 4 yếu tố: Dạng này là dạng chuẩn gồm 4 yếu tố: cái được so sánh, phương diện so sánh, mức độ so sánh và cái dùng để so sánh. Ví dụ: Tiếng nói trong như suối ngàn. 1 2 3 4 Dạng 2: So sánh vắng yếu tố (1): Đây là dạng so sánh khuyết yếu tố 1, tức là không có cái so sánh.
Cái so sánh là gì, điều đó phụ thuộc vào khả năng liên tưởng của người đọc, người nghe. Ví dụ: Chắc như đinh đóng cột. 2 3 4 Dạng so sánh này có rất nhiều trong thành ngữ so sánh: bạc như vôi, câm như hến, chạy như bay, cao như núi, cứng như đá, đỏ như son, đắt như tôm tươi. Dạng 3: So sánh vắng yếu tố (2): Dạng 3 này còn được gọi là so sánh chìm, nghĩa là so sánh không có cơ sở.
Thông thường, khi không có phần thuyết minh mô tả, cái được so sánh sẽ rõ ràng hơn. Hơn nữa, người đọc, người nghe sẽ liên tưởng rộng hơn, trí tưởng tượng phong phú hơn. Dạng so sánh này kích thích trí tuệ làm việc và giàu cảm xúc hơn để xác định được nét giống nhau giữa 2 đối tượng ở 2 vế để từ đó nhận ra đặc điểm của đối tượng được miêu tả. Ví dụ: Anh em như thể tay chân.
1 3 4 Trong ví dụ trên, “anh em” được so sánh như “tay chân”. Chắc hẳn, ai trong chúng ta cũng biết tay và chân là hai bộ phận trên cơ thể con người có mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời nhau. Ông cha ta đã lấy hình ảnh 14 so sánh này để nói lên tình cảm thân thiết, gắn bó giữa anh em trong gia đình và qua đó người đọc có thể suy nghĩ, liên tưởng tới nhiều hình ảnh khác nhau. Chẳng hạn: Anh em thân thiết như thể tay chân.
Anh em gắn bó như thể tay chân. Dạng 4: So sánh vắng yếu tố (2) và yếu tố (3) Đây là một dạng so sánh không đầy đủ, chỉ có cái so sánh và cái được so sánh. Yếu tố (2) và (3) được thay thế bằng chỗ ngắt giọng, dấu gạch ngang hoặc là hình thức đối chọi. Ví dụ: Thân dừa bạc phếch tháng năm Quả dừa - đàn lợn con nằm trên cao Đêm hè hoa nở cùng sao Tàu dừa - chiếc lược chải vào mây xanh (TV3, t.43) Nhà thơ đã tạo nên một hình thức so sánh có âm điệu nhịp nhàng bằng cách dùng dấu gạch ngang thay thế cho yếu tố (2) và (3).
Cách so sánh thứ nhất vừa đúng vừa lạ: những quả dừa có khác gì đàn lợn con mà đàn lợn con này lại nằm trên cao. Cách so sánh thứ hai vừa đẹp vừa lạ: tàu dừa mà thành chiếc lược, mây xanh mà thành suối tóc thì thật kì diệu và thơ mộng. Cách so sánh này làm cho cảnh vật trở nên sống động, có sức gợi tả, gợi cảm cao, mang đến cho người đọc, người nghe cảm giác đầy bất ngờ và thú vị. Ngoài ra, còn có trường hợp yếu tố (1) và yếu tố (4) đổi chỗ cho nhau, còn gọi là so sánh đổi chỗ.