lOMoARcPSD|16991370 Chƣơng 3 CƠ SỞ TÂM LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MỤC TIÊU Về năng lực - Trình bày một số luận điểm cơ bản của các học thuyết Tâm lý học về hoạt động dạy học và các mô hình dạy học tƣơng ứng. - Phân biệt “dạy” và “học” với “hoạt động dạy”, “hoạt động học” theo phƣơng thức nhà trƣờng. - Hiểu mối quan hệ gắn bó, thống nhất giữa hoạt động dạy và hoạt động học, ý nghĩa của cấu trúc hoạt động học tập, vai trò và mối liên hệ giữa động cơ học tập, mục đích học tập, hành động học tập. - Hiểu bản chất và logic tiến hànhquá trình hình thành khái niệm, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh trong quá trình dạy học -Hiểu bản chất của học tập tích cực và dạy học tích cực.
- Hiểu khái niệm trí tuệ, chỉ ra mối liên hệ giữa dạy học và sự phát triển của các loại hình trí tuệ. - Vận dụng kiến thức để ứng dụng trong nghề nghiệp sau này. Về phẩm chất - Tin tƣởng và quan tâm đến những cơ sở tâm lý vào trong công tác dạy học. Một số lý thuyết Tâm lý học làm cơ sở cho hoạt động dạy học 1.
Thuyết liên tƣởng và mô hình dạy học thông báo Thuyết liên tưởng có nguồn gốc từ quan điểm triết học của Aristotle, đặc biệt phát triển mạnh mẽ từ thế kỷ XVII, với những ảnh hưởng nhất định của triết học duy cảm Anh. Có thể kể đến một số đại diện tiêu biểu như: T. Locke,… Một số luận điểm chính của thuyết liên tưởng Các nhà tâm lý học theo thuyết liên tưởng cho rằng sự lĩnh hội kinh nghiệm xã hội thực chất là sự lĩnh hội các liên tưởng. Cụ thể: - Tâm lý được cấu thành từ các cảm giác.
Các cấu thành cao hơn như biểu tượng, ý nghĩ, xúc cảm tình cảm,… xuất hiện dựa trên sự liên tưởng của các cảm giác. Hay nói khác đi, con đường hình thành tâm lý người là sự liên kết các cảm giác và ý tưởng. - Điều kiện để hình thành liên tưởng là sự gần gũi của các quá trình tâm lý. - Sự liên kết các cảm giác và ý tưởng để hình thành ý tưởng mới không đơn thuần là 59 Downloaded by nguyenphuong Phuong nguyen (Kimphuongrio@gmail.com) lOMoARcPSD|16991370 sự kết hợp giản đơn mà phải tuân theo những mối liên hệ nhất định.
- Liên tưởng được quy định bởi sự linh hoạt của các cảm giác và ý tưởng thành phần, cũng như tần số nhắc lại của chúng trong kinh nghiệm cá nhân. - Các quy luật hình thành liên tưởng: quy luật tương tự, quy luật tương cận, quy luật nhân quả. Trong đó quy luật nhân quả có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển nhận thức và trí tuệ của cá nhân. Sự phát triển nhận thức là quá trình tích lũy các liên tưởng.
Sau này, thuyết liên tưởng dựa vào cơ chế phản xạ có điều kiện do P. Pavlov phát hiện, các liên tưởng được giải thích về phương diện sinh lý thần kinh là do sự hình thành và khôi phục các đường liên hệ tạm thời nhờ vào các kích thích. Mô hình dạy học thông báo Mô hình dạy học thông báo là mô hình dạy học cổ điển nhất, được xây dựng dựa trên nền tảng của thuyết liên tưởng, với những đặc trưng sau: - Mục tiêu và nội dung dạy học: cung cấp cho người học những tri thức có sẵn, được cấu trúc theo luật liên kết nhất định. - Cơ chế học tập: sự hình thành, củng cố, lưu giữ và khôi phục các mối liên tưởng.
Người học sử dụng các giác quan để thu nhận các hình ảnh cảm tính: sàng lọc, liên kết các hình ảnh mới và cũ để tạo ra ý tưởng; sử dụng các cơ chế của trí nhớ để lưu giữ hình ảnh được tri giác và các kinh nghiệm đã có nhờ liên tưởng, khôi phục các kinh nghiệm đó trong tình huống cần thiết. - Tính chất: Dạy học theo mô hình này là sự tác động vào các giác quan và trí nhớ của người học, cung cấp các sự kiện, các hình ảnh, tri thức để người học có các cảm giác, hình thành các hình ảnh, tạo ra các kích thích để học viên xác lập các mối liên tưởng, giúp người học ôn luyện, củng cố và khôi phục các mối liên tưởng. - Mối quan hệ người dạy – người học: quan hệ chủ thể - đối tượng. Người dạy chủ động sử dụng các phương pháp tác động trực tiếp vào giác quan và trí nhớ của người học; chủ động cung cấp cho người học các sự kiện có sẵn, được liên kết với nhau theo luật cho trước.
Người học thụ động tiếp nhận các thông tin từ người dạy và thiết lập các mối liên tưởng theo yêu cầu của người dạy, qua đó, hình thành kinh nghiệm, phát triển giác quan, trí nhớ và tư duy tái tạo. Ngày nay, do sự phát triển của công nghệ thông tin, dạy học thông báo được phát triển theo hướng mô hình của lý thuyết thông tin. Trong đó, mối quan tâm của nhà sư phạm là chất lượng thông tin đầu vào (các tri thức cần dạy cho người học), quá trình xử lý, liên kết các thông tin, lưu giữ và khôi phục thông tin, các phản ứng của người học ở đầu ra. Quá trình xử lý, liên kết, lưu trữ và khôi phục thông tin liên quan trực tiếp đến cơ chế làm việc của trí nhớ và tư duy của người học.
Vì vậy, mối quan 60 Downloaded by nguyenphuong Phuong nguyen (Kimphuongrio@gmail.com) lOMoARcPSD|16991370 tâm hàng đầu của các nhà sư phạm theo hướng thông tin là các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động trí nhớ và tư duy của người học trong dạy học (Phan Trọng Ngọ, 2005). Thuyết hành vi và một số mô hình dạy học điều khiển hành vi Tâm lý học hành vi là trường phái tâm lý học xuất hiện ở Mỹ vào đầu thế kỷ XX và phổ biến trong suốt thế kỷ cho đến nay, với một số luận điểm cơ bản như sau: Đối tượng nghiên cứu, hình thành, kiểm soát và điều chỉnh là hành vi của cá thể. Đó là các phản ứng có thể được quan sát và lượng hóa từ bên ngoài, chứ không phải là các hiện tượng ý thức bên trong. Mối quan hệ giữa kích thích từ môi trường và sự hình thành các phản ứng của cá thể là quan hệ nhân quả.
Nguyên lý chung là các kích thích nhất định sẽ tạo ra ở cá thể các phản ứng tương ứng. Công thức tổng quát ở đây là: kích thích phản ứng (S R). Vì vậy, nguyên tắc nghiên cứu và hình thành các hành vi của cá thể được bắt đầu từ nghiên cứu và hình thành các kích thích từ môi trường bên ngoài. Sự hình thành, điều chỉnh, dập tắt hành vi bị chi phối bởi một số yếu tố và quy luật.
Nội dung các yếu tố, quy luật này được phát biểu và khai thác theo nhiều góc độ, bởi các lý thuyết khác nhau. Mô hình dạy học điều kiện hóa cổ điển Cơ sở lý luận của mô hình dạy học này là thuyết hành vi cổ điển của J. Watson (Phan Trọng Ngọ, 2001, 2005; Lê Văn Hồng và cộng sự, 2007): - Cơ sở sinh lý của việc hình thành hành vi là các phản ứng trong phản xạ có điều kiện cổ điển do I. Pavlov phát hiện.
- Nguyên lý chung của dạy học theo điều kiện hóa cổ điển là phản ứng R chỉ xuất hiện khi có tác động của một kích thích S nhằm đáp lại kích thích đó. Nói cách khác, một kích thích bất kỳ sẽ mang lại một hành vi tương ứng. - Việc hình thành và củng cố các hành vi được điều khiển trực tiếp bởi các kích thích. Việc duy trì hoặc dập tắt hành vi đã có bằng cách củng cố hoặc làm mất các điều kiện tạo ra kích thích.
Trong mô hình dạy học này, không tính đến yếu tố chủ thể của người học như các kinh nghiệm đã có, yếu tố bẩm sinh, tư chất ở người,… - Các loại điều kiện hóa cổ điển thường được vận dụng trong dạy học bao gồm khái quát hóa (hành vi được hình thành bởi kích thích tương tự với kích thích có điều kiện ban đầu); phân biệt (hình thành các phản ứng khác nhau với những kích thích gần nhau) và sự dập tắt phản xạ (làm mất phản ứng đã được hình thành bằng cách giảm hoặc làm mất kích thích không điều kiện). - Mô hình dạy học theo điều kiện hóa cổ điển rất hữu hiệu để giúp người học học được phản xạ đơn giản nhằm thích ứng trong cuộc sống. Tuy nhiên, hạn chế của 61 Downloaded by nguyenphuong Phuong nguyen (Kimphuongrio@gmail.com) lOMoARcPSD|16991370 mô hình này là quá nhấn mạnh tác động trực tiếp từ phía người điều khiển nên yếu tố chủ thể của người học đã bị bỏ qua, người học chỉ là các cá thể thụ động đối trước áp lực của môi trường. Mô hình dạy học tạo tác Trong sự nỗ lực khắc phục tính rập khuôn, máy móc của mô hình dạy học theo lý thuyết hành vi cổ điển, nhiều mô hình điều khiển hành vi có tính mềm dẻo hơn đã xuất hiện, trong số đó đáng chú ý là mô hình của B.
Skinner cho rằng, cả động vật và con người có 3 dạng hành vi: hành vi không điều kiện (có cơ sở là phản xạ bẩm sinh), hành vi có điều kiện cổ điển và hành vi tạo tác. Trong đó, hành vi tạo tác là chủ yếu. Hành vi tạo tác được hình thành từ một hành vi trước đó của chủ thể, do tác động vào môi trường và được củng cố, đóng vai trò là tác nhân kích thích. Cơ sở sinh lý của hành vi tạo tác là phản xạ tạo tác.
Phản xạ tạo tác cũng là phản xạ có điều kiện tuy nhiên, nó đáp ứng nhu cầu của chủ thể và thể hiện tính tích cực, chủ động của hành vi đối với kích thích từ môi trường. Đồng thời, hành vi tạo tác tác động đến môi trường bao quanh cơ thể, trong khi hành vi có điều kiện cổ điển không có đặc trưng này. Ngoài ra, trong phản xạ tạo tác, yếu tố nhu cầu của chủ thể được xem là yếu tố quyết định việc nảy sinh phản ứng. Điều này cũng lý giải vì sao nhiều nhà nghiên cứu cho rằng sơ đồ hành vi có điều kiện cổ điển là cơ sở của khuynh hướng dạy học truyền thống, hướng vào người dạy, còn sơ đồ hành vi tạo tác là cơ sở định hướng cho dạy học tích cực, hướng vào người học.
Một số đặc trưng của mô hình dạy học tạo tác - Đặc trưng nổi bật trong dạy học hành vi tạo tác là việc cá thể tự tạo ra hành vi cho mình. Học tập nhằm đáp ứng nhu cầu của người học.