Mở đầu - Chƣơng 1. Tổng quan tài liệu - Chƣơng 2. Đối tƣợng, nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu - Chƣơng 3. Kết quả nghiên cứu và bàn luận - Kết luận và kiến nghị - Tài liệu tham khảo 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH THÁI – THỂ LỰC CỦA CON NGƢỜI Hình thái và thể lực là các đặc điểm phản ánh tổng hợp của cơ thể và có liên quan chặt chẽ với sức lao động và thẩm mỹ của con ngƣời. Sự tăng trƣởng về hình thái và thể lực là kết quả của sự sinh trƣởng, phát triển của cơ thể sống [3], [7]. Hình thái và thể lực của con ngƣời thể hiện qua các thông số cơ bản nhƣ chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực và chỉ số BMI.Trong đó chiều cao đứng là một chỉ số phát triển thể lực quan trọng và đƣợc sử dụng trong hầu hết các nghiên cứu nhân trắc học. Chiều cao đứng là một trong các chỉ số quan trọng trong việc đánh giá thể lực con ngƣời.
Chiều cao đứng phản ánh sự phát triển chiều dài của xƣơng, biểu hiện tầm vóc của con ngƣời và nó mang tính chất đặc trƣng cho chủng tộc, giới tính. Sự phát triển chiều caođứng của con ngƣời chịu ảnh hƣởng của nhiều yếu tố nhƣ dinh dƣỡng, môi trƣờng sống [11], [12], [17], [20], [22], [33], [34], [38]. Cân nặng và vòng ngực cũng là một trong các chỉ số để đánh giá thể lực của con ngƣời. Cân nặng phản ánh đƣợc tình trạng dinh dƣỡng, biểu thị các mức độ và tỉ lệ giữa các quá trình hấp thu và tiêu hao năng lƣợng.
Sự phát triển cân nặng và vòng ngực của con ngƣời chịu ảnh hƣởng của nhiều yếu tố nhƣ dinh dƣỡng, môi trƣờng sống [17], [20],[12], [22], [33], [34], [38]. BMI (Body Mass Index) thể hiện mối tƣơng quan giữa chiều cao đứng và cân nặng của cơ thể. Chỉ số này cho phép đánh giá mức độ dinh dƣỡng và khả năng hấp thu của cơ thể, qua đó biết đƣợc mức độ gầy hay béo của một ngƣời [32], [33],[35]. Nghiên cứu các chỉ số về hình thái- thể lực ở thế giới.
Từ thế kỷ XIII Tenon đã coi cân nặng là một chỉ số quan trọng để đánh giá thể lực. Sau này, các nhà giải phẩu học kiêm họa sĩ thời phục hƣng (LeonardeVinci, Mikenlangielo, Raphael) đã tìm hiểu rất kỹ cấu trúc và mối tƣơng quan giữa các bộ phận trong cơ thể ngƣời để đƣa vào tác phẩm hội họa của mình. Mối quan hệ giữa hình thái với môi trƣờng sống cũng đƣợc nghiên cứu tƣơng đối sớm mà đại diện cho nó là các nhà nhân trắc học Ludman, Nold và Volanski [45]. Rudolf Martin là ngƣời đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại qua hai tác phẩm nổi tiếng “Giáo trình về nhân trắc học” và “Kim chỉ nam đo đạc cơ thể và xử lý thống kê”.
Trong các công trình này, ông đã đề xuất một số phƣơng pháp và dụng cụ đo đạc các kích thƣớc của cơ thể, cho đến nay vẫn đƣợc sử dụng. Sau Rudolf Martin đã có nhiều công trình bổ sung và hoàn thiện thêm các đề xuất của ông cho phù hợp với từng nƣớc. Vấn đề nhân trắc học còn đƣợc thể hiện qua các công trình của PN. Baskirov – “Nhân trắc học”.
Evan Dervael - “Nhân trắc học”, công trình của Bunak, A. Song song với sự phát triển bộ môn Di truyền, Sinh lý học, Toán học. việc nghiên cứu nhân trắc học ngày càng hoàn chỉnh và đa dạng hơn. Vấn đề này đƣợc thể hiện qua các công trình của X.
Galferin, Tomiewicz, Tarasov, Tommer, M. Nghiên cứu cắt ngang là một hƣớng đi sâu nghiên cứu sự tăng trƣởng về mặt hình thái, đó là nghiên cứu sự tăng trƣởng của cơ thể và các đại lƣợng có thể đo lƣờng đƣợc bằng kỹ thuật nhân trắc trong cùng một thời điểm [60]. Công trình đầu tiên trên thế giới cho thấy sự tăng trƣởng hoàn chỉnh ở các lớp tuổi từ 1 đến 25 là luận án tiến sĩ của Christian Fridrich Jumpert ngƣời Đức vào năm 1754. Công trình này đƣợc nghiên cứu theo phƣơng pháp cắt 5 ngang (Cross - sectional study) đƣợc dùng phổ biến do có ƣu điểm là rẻ tiền, nhanh và thực hiện trên nhiều đối tƣợng cùng một lúc [45].
Nghiên cứu dọc của Philibert Guáneau deMontbeilard thực hiện trên con trai mình từ năm 1759 đến năm 1777. Đây là phƣơng pháp rất tốt đã đƣợc ứng dụng cho đến ngày nay. Năm 1977 Hiệp hội các nhà tăng trƣởng học đã đƣợc thành lập đánh dấu một bƣớc phát triển mới của việc nghiên cứu vấn đề này trên thế giới [45]. Từ thế kỷ XX, việc nghiên cứu thể lực đã đƣợc nghiên cứu ở nhiều nƣớc trên thế giới nhƣ Liên Xô, Pháp, Đức, Trung Quốc, Mỹ.
Kết quả nghiên cứu của các tác giả cho thấy, tốc độ phát triển thể lực diễn ra mạnh nhất vào tuổi dậy thì do ảnh hƣởng của các tuyến nội tiết trong thời kỳ chín sinh dục. Tốc độ tăng trƣởng và thời gian tăng trƣởng phụ thuộc vào yếu tố xã hội và môi trƣờng sống [10]. Nghiên cứu các chỉ số về hình thái - thể lực ở Việt Nam. Hình thái - thể lực con ngƣời Việt Nam đƣợc nghiên cứu lần đầu tiên vào năm 1875 do Mondiere thực hiện trên trẻ em.
Vào những năm 30 của thế kỷ XX tại Viện Viễn Đông Bác cổ, sau đó là tại trƣờng Đại họcY khoa Đông Dƣơng (1936- 1944) đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu về vấn đề này. Tác phẩm “Những đặc điểm nhân chủng và học sinh của ngƣời Đông Dƣơng” của P.Huard và Đỗ Xuân Hợp đƣợc xem là công trình nghiên cứu đầu tiên về hình thái ngƣời Việt Nam. Tuy nhiên số lƣợng chƣa nhiều nhƣng tác phẩm này đã nêu đƣợc các đặc điểm nhân trắc của ngƣời Việt Nam đƣơng thời [45]. Từ năm 1954 trở về sau, các công trình điều tra về con ngƣời ở Việt Nam đƣợc thực hiện nhiều và tƣơng đối về mọi mặt, trong đó phải kể đến các tác giả điển hình nhƣ Đỗ Xuân Hợp, Nguyễn Quang Quyền, Nguyễn Thị Lê, Chu Văn Tƣờng, Trấn Tích Cảnh.
Các công trình này tập trung nghiên cứu 6 các đặc điểm và sự phát triển qua các giai đoạn của ngƣời Việt Nam. Đến năm 1975, cuốn “Hằng số sinh học của ngƣời Việt Nam” do Nguyễn Tấn Gi Trọng [54] chủ biên đƣợc công bố, đây là một công trình khá hoàn chỉnh các thông số về sinh học, sinh lý, hóa sinh của ngƣời Việt Nam ở mọi lứa tuổi. Năm 1991, Đào Huy Khuê [22] đã nghiên cứu 36 chỉ tiêu kích thƣớc về sự tăng trƣởng và phát triển của cơ thể của 1478 học sinh từ 6 - 17 tuổi ở thị xã Hà Đông cho rằng hầu hết các thông số về hình thái tăng dần theo lứa tuổi nhƣng nhịp tim không đều, tốc độ phát triển tối đa các thông số của nam thƣờng ở lứa tuổi 14 - 16 và nữ là 11 - 15 tuổi, Từ 6 -9 tuổi kích thƣớc của nam và nữ không có sự khác biệt rõ rệt, từ 10 - 15 tuổi kích thƣớc nữ thƣờng vƣợt trội hơn nam và từ 16 - 17 tuổi kích thƣớc của nam lại vƣợt trội hơn nữ. Năm 1992, Thẩm Thị Hoàng Diệp [11] đã nghiên cứu dọc trên 101 học sinh Hà Nội từ 6- 17 tuổi với 31 chỉ tiêu sinh học.
Tác giả đã rút ra đƣợc nhiều kết luận nhƣ chiều cao của học sinh phát triển mạnh nhất lúc 11 -12 tuổi ở nữ và 13 - 15 tuổi ở nam, còn cân nặng phát triển mạnh nhất lúc 12 - 13 tuổi nữ và 14 -15 tuổi ở nam. Năm 1993, Đoàn Yên và các cộng sự [60] đã nghiên cứu trên trẻ em ngƣời Kinh và ngƣời Mƣờng ở tỉnh Hà Tây nhận thấy ở độ tuổi 12 -13 các kích thƣớc cơ thể nhƣ chiều cao, khối lƣợng, chỉ số pignet. của nữ lớn hơn nam. Năm 2001, Đào Mai Luyến [34] khi nghiên cứu chỉ số sinh học của ngƣời Êđê và ngƣời Kinh định cƣ tại ĐăkLăk đã cho rằng thể lực của ngƣời Êđê tốt hơn ngƣời Kinh định cƣ.
Tác giả cho rằng là điểm khác biệt mang tính dân tộc và do môi trƣờng sống có ảnh hƣởng nhất định đến sự tăng trƣởng. Năm 2002, Trần Thị Loan [33] khi nghiên cứu trên đối tƣợng học sinh từ 6 -7 tuổi tại quận Cầu Giấy - Hà Nội đã nhận định về chiều cao, cân nặng,vòng ngực trung bình của học sinh thuộc địa bàn nghiên cứu tăng dần 7 theo tuổi nhƣng tốc độ tăng không đều. So sánh với kết quả nghiên cứu của một số tác giả trƣớc đây, thì các chỉ số hình thái của học sinh quận Cầu Giấy lớn hơn, chứng tỏ điều kiện sống đã ảnh hƣởng đến các chỉ số hình thái của học sinh. Năm 2004, Bộ Y tế xuất bản cuốn “Các giá trịsinh học ngƣời Việt Nam bình thƣờng thập kỷ 90 - thế kỷ XX” [4], đây là một công trình khá hoàn chỉnh cập nhật các thông số về sinh học, sinh lý, hóa sinh của ngƣời Việt Nam ở mọi lứa tuổi thay thế cho cuốn “Hằng số sinh học của ngƣời Việt Nam” năm 1975.
Năm 2009, Nguyễn Ngọc Châu [5] khi nghiên cứu trên đối tƣợng học sinh ở trƣờng THPT Vũ Quang, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh đã kết luận các chỉ số về chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình tăng dần theo lớp tuổi với mức tăng hàng năm không giống nhau. Tốc độ gia tăng chiều cao trung bình của học sinh nam là 0,83 cm/năm cao hơn so với của học sinh nữ là 0,42 cm/năm. Tốc độ gia tăng cân nặng của học sinh nam là 1,30 kg/năm và học sinh nữ là 0,6 kg/năm, còn vòng ngực trung bình của nam tăng 0,86 cm/năm và của học sinh nữ tăng 0,81 cm/năm. Năm 2012, Đỗ Thị Thành [45], khi nghiên cứu trên 593 học sinh ngƣời Kinh và ngƣời Mƣờng tại trƣờng THCS Kỳ Phú xã Kỳ Phú, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình đã khẳng định rằng các chỉ số trung bình về hình thái nhƣ chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trung bình đều tăng dần theo lứa tuổivới tốc độ tăng trƣởng ở học sinh nam thƣờng cao hơn tốc độ tăng trƣởng của học sinh nữ.
Có sự chênh lệch về các chỉ số hình thái, thể lực giữa học sinh nam và học sinh nữ. Các chỉ số về các chỉ số hình thái, thể lực của học sinh dân tộc Mƣờng thƣờng thấp hơn dân tộc kinh ở cùng lứa tuổi. Năm 2014, Nguyễn Thị Ngọc Phú [40] khi nghiên cứu trên 1318 học sinh trƣờng THPT Nguyễn Chí Thanh, TP Pleuiku, tỉnh Gia Lai đã kết luận 8 rằng chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình của học sinh tăng dần theo tuổi.