Chương 1. Cơ sở lý luận nhận thức của giáo viên tiểu học về xây dựnglớp học hạnh phúc Chương 2. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 3. Kết quả nghiên cứu thực trạng nhận thức của giáo viên tiểu học thành phố Biên Hòa về xây dựng lớp học hạnh phúc.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC CỦA GIÁO VIÊN TIỂU HỌC VỀ XÂY DỰNG LỚP HỌC HẠNH PHÚC 1. Lý luận về nhận thức 1. Khái niệm nhận thức Tác giả Nguyễn Khắc Viện (1995) trong cuốn “Từ điển tâm lý học” đã định nghĩa: “Nhận thức là một quá trình tiếp cận, tiến gần đến chân lý nhưng không bao giờ nhận thức hết hiệu lực, phải thấy dần đến cái sai, tức không ăn khớp với hiện thực để đi hết bước này đến bước khác” [4]. Nguyễn Quang Uẩn (2000) định nghĩa: “Nhận thức là một quá trình tâm lý.
Ở con người quá trình này thường gắn với mục đích nhất định nên nhận thức của con người là một hoạt động. Đặc trưng nổi bật nhất của hoạt động nhận thức là phản ảnh hiện thực khách quan. Hoạt động này bao gồm nhiều quá trình khác nhau, thể hiện những mức độ phản ánh hiện thực khác nhau (cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng…) và mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan (hình ảnh, hình tượng, biểu tượng, khái niệm. Theo định nghĩa này, nhận thức không chỉ đơn thuần là hiện tượng mà còn là hoạt động thực tiễn của con người có những mục đích nhất định, đồng thời tạo ra những sản phẩm mang tính thực tiễn về hình ảnh, hình tượng,khái niệm [3].
Tác giả Bùi Minh Hiền (2001) trong cuốn “Từ điển Giáo dục học” cho rằng: “Nhận thức là quá trình hay là kết quả phản ánh và tái tạo hiện thực vào trong tư duy của con người”. Như vậy, Nhận thức được hiểu là một quá trình, là kết quả phản ánh. Nhận thức là quá trình con người nhận biết về thế giới, hay là kết quả của quá trình nhận thức đó (Nhận biết là mức độ thấp, hiểu biết là mức độ cao hơn, hiểu được các thuộc tính bản chất)” [2]. Tác giả Vũ Dũng (2012) trong cuốn “Từ điển Thuật ngữ Tâm lý học” cho rằng: “Nhận thức là toàn bộ những quy trình mà nhờ đó những đầu vào cảm xúc được chuyển hoá, được mã hoá, được lưu giữ và sử dụng.
Hiểu nhận thức là một 8 quy trình, nghĩa là nhờ có quy trình đó mà cảm xúc của con người không mất đi, nó được chuyển hoá vào đầu óc con người, được con người lưugiữ và mã hoá” [1]. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đưa ra định nghĩa như sau: “Nhận thức là hành động hay quá trình tiếp thu kiến thức và những am hiểu nhất định thông qua suy nghĩ, kinh nghiệm và giác quan, bao gồm các quy trình của : tri thức, sự chú ý, trí nhớ, năng lực đánh giá và giải quyết vấn đề, việc đưa ra quyết định , lĩnh hội và sử dụng ngôn ngữ. Nhờ những quá trình này mà bộ não con người được kết nối chặt chẽ để có thể nhận thức đúng đắn trước mọi sự việc”. Các mức độ nhận thức Sơ đồ 1.
Mô hình nhận thức Miller Hiệu suất được tích hợp vào thực tiễn Ví dụ như thông qua quan sát trực tiếp, dựa trên Thực cơ sở làm việc. hành Trình diễn của học tập Chỉ dẫn Ví dụ: thông qua mô phỏng, OSCEs Giải thích/ ứng dụng thông qua các vài thuyết trình tình huống, bài luận, loại đối sánh mở rộng Mức độ biết theo MCQ Thu thập thông tin thực tế Theo cách truyển thống Biết đúng/ sai theo MCQ Theo mô hình Miller, nhận thức phải trải qua 4 mức độ [26]: - Mức độ 1: thấp nhất, là biết. - Mức độ 2: mức độ biết. - Mức độ 3: chỉ dẫn - Mức độ 4: thực hành Theo Robert M.
Gagne, cũng là một nhà tâm lý giáo dục của Mỹ, ông đưa ra 8 9 mức độ nhận thức, đi từ thấp lên cao bao gồm [14]: - Mức 1: Học qua tín hiệu: làm thế nào để phản ứng lại với tín hiệu giống như thí nghiệm điều kiện hóa cổ điển của Pavlov. - Mức 2: Phản ứng - Kích thích: học cách phản ứng chính xác với những kích thích/ tín hiệu chính xác. Nó khác với học qua tín hiệu ở chỗ học tập qua tín hiệu dẫn đến những phản ứng không tự chủ, trong khi phản ứng kích thích ở mức 2 là phản ứng có kiểm soát, có tự chủ hay còn gọi là điều kiện hóa thao tác. - Mức 3: Hình thành chuỗi: hình thành một chuỗi bao gồm nhiều cặp kích thích và phản ứng đã được học từ trước.
Đây là quá trình hình thành nên những kĩ năng tâm vận động phức tạp như đạp xe, chơi đàn. Mức 4: Liên kết với ngôn ngữ: Các chuỗi là những liên kết được hình thành bằng ngôn ngữ, đây là quá trình tiên quyết để phát triển kĩ năng ngôn ngữ. Mức 5: Phân biệt: Biết cách phân biệt giữa các kích thích tương tự nhau, từ đó có các phản ứng khác nhau với các kích thích tương tự đó. Mức 6: Khái niệm hóa: Khả năng đưa ra những phản ứng thống nhất vớinhững kích thích khác nhau nhưng cùng trong nhóm chung.
Đây là khả năng khái quát hóa, phân loại. Mức 7: Học nguyên tắc: Đây là quá trình nhận thức cấp cao, là khả năng hiểu được mối quan hệ giữa các khái niệm và áp dụng mối tương quan này trong các tình huống khác nhau, bao gồm cả tình huống mới, giúp hình thành nên nguyên tắc, quy trình. Mức 8: Giải quyết vấn đề: Mức nhận thức cao nhất đòi hỏi khả năng phải tìm ra quy luật phức tạp để giải quyết vấn đề nào đó, và sau đó sử dụng phương pháp đó để giải quyết các vấn đề tương tự. Như vậy theo Miller ta có các mức độ nhận thức từ thấp đến cao gồm: thấp nhất là biết đến các cấp độ của biết, đạt đến mức độ có thể chỉ dẫn lại và thành thạo khi được thực hành.
Với Miler thì ông cho rằng có 4 mức độ của nhận thức nhưng theo như Robert M. Gagne thì ông đã cho rằng có 8 mức độ của nhận thức đã nêu trên. Dù nhận thức dưới góc nhìn của các nhà tâm lý có khác nhau nhưng xét 10 về mặt tổng thể thì các ý đều khẳng định sự nhận thức của con người vừa ý thức vừa vô thức vừa cụ thể vừa trừu tượng và mang tính trực giác. Trong quá trình nhận thức sử dụng tri thức có sẳnvà tạo ra tri thức mới.
Khái niệm xây dựng lớp học hạnh phúc 1. Khái niệm hạnh phúc Có rất nhiều khía cạnh khác nhau định nghĩa về hạnh phúc, tuy nhiên có thể hiểu hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc của con người khi được thoả mãn một nhu cầu nào đó mang tính trừu tượng. Hạnh phúc là một loại cảm xúc bậc cao mà ta luôn mưu cầu đến, giữa cuộc sống muôn màu, chúng ta không thể trãi qua mỗi ngày đều là buồn bả, ảm đạm, mà cần có niềm vui và hạnh phúc để lắp đầy tâm hồn. Platon là một trong những người đầu tiên phân loại hạnh phúc, bao gồm: hạnh phúc về xác thịt, hạnh phúc đến từ bên ngoài và hạnh phúc về mặt tâm hồn.
Còn tác giả Veenhoven (2009) thì cho rằng hạnh phúc là mức độ mà một cá nhân cảm nhận cuộc sống của mình là tích cực. Bốn yếu tố chính được nhấn mạnh trong định nghĩa này là: cá nhân, chủ quan, nhận thức và mức độ. Hạnh phúc là một khái niệm dùng để chỉ tình trạng hiện tại của bất kỳ cá nhân nào. Đó là một phân tích chủ quan về cuộc sống của một cá nhân; là một hoạt động trí tuệ được hình thành bằng cách đánh giá những kinh nghiệm trong quá khứ và ước tính những gì tương lai có thể mang lại.
Một cá nhân có thể nhận ra hạnh phúc của mình bằng cách so sánh với những lần họ không hạnh phúc [34]. Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng các khái niệm của hạnh phúc đều nhấn mạnh đến cảm xúc của một cá nhân, khi các cảm xúc cá nhân tồn tại trong một tập thể tạo thành cảm xúc nhóm tập hợp các cảm xúc của mỗi cá nhân. Đây là cảm xúc cần có và cần được duy trì thường xuyên, khi một cá nhân không còn cảm 11 thấy hạnh phúc hay không còn xuất hiện những cảm xúc mang lại niềm vui nữa là lúc cá nhân cần điều chỉnh lại ngay lập tức để cơ thể không cảm thấy mệt mỏi hay rơi vào trạng thái bế tắc. Nó có thể được biểu hiện thông qua sự thành công trong công việc, trong tình yêu,trong cuộc sống.
Khái niệm lớp học hạnh phúc Snyder và Lopez (2009) cho rằng lớp học hạnh phúc là sự kết hợp hai khái niệm đã được nghiên cứu rộng rãi trong tâm lý học tích cực đó là chánh niệm (mindfulness) và sự phát triển tự do nhân cách học sinh [23]. Quan niệm về chánh niệm có nguồn gốc từ Phật giáo và sau này được phát triển rộng rãi trong tâm lý học nói chung và thực hành tâm lý tích cực nói riêng. Một trong những định nghĩa được trích dẫn phổ biến nhất về chánh niệm là định nghĩa của Kabat-Zinn (199): “Chánh niệm là loại nhận thức nảy sinh thông qua sự chú ý theo một cách cụ thể: có chủ đích, trong giây phút hiện tại và không phán xét [20]. Tuy nhiên, định nghĩa chánh niệm phổ biến nhất là của Bishop (2004): “chánh niệm bao gồm hai thành phần là điều chỉnh chú ý hướng về hiện tại và chấp nhận những trải nghiệm của một chủ thể” [7].
Từ khái niệm của Snyder và Lopez, chúng ta nhận ra rằng chánh niệm là nhận thức của bản thân về một vấn đề cụ thể trong đời sống, nó có chủ đích cụ thể không mang mục đích phán xét về thế giới quan với những sự vật hiện tượng đang diễn ra trong đời sống. Khi có vấn đề xãy ra, không phán xét, hay đánh giá, tích cực hoá hay cố gắng xua đuổi. Chiều kích thứ hai của các lớp học hạnh phúc là sự phát triển về mặt nhân cách. Sự phát triển (trưởng thành nhân cách) là sự gia tăng về năng lực nhận thức, tự ý thức, hành vi, thể hiện lòng tính nhân văn và khả năng hoạt động các thuộc tính tâm lý (tưởng tượng, giải quyết vấn đề, ghi nhớ) với hiệu suất cao [28].