Phần mở đầu bao gồm các nghi lễ, thủ tục, khởi động hay giới thiệu về chương trình nhằm mục đích thu hút sự chú ý của người tham dự, phát huy tính tích cực, nhiệt tình của học sinh. Phần diễn biến bao gồm các hoạt động được sắp xếp theo trình tự hợp lý nhằm đạt được mục đích giáo dục đề ra. Phần kết thúc bao gồm tổng kết lại toàn bộ các hoạt động đã đạt được, những nội dung cần ghi nhớ và giới thiệu chủ điểm giáo dục tiếp theo. Dựa trên cấu trúc của hoạt động giáo dục, sinh viên cần sắp xếp những nội dung và hình thức đã lựa chọn thành một chương trình hoạt động hợp lí.
Cần chú ý đan xen giữa các hoạt động nhận thức, hoạt động trí tuệ với các hoạt động mang tính chất vui chơi, văn nghệ… Đan xen giữa hoạt động tĩnh với các hoạt động vận động, đan xen giữa hoạt động có tính chất thi đua với hoạt động có tính chất giải trí, nhẹ nhàng… Chú ý thiết kế các hoạt động nối tiếp nhau đẩy lên thành một cao trào tạo điểm nhấn đáng chú ý, gây ấn tượng mạnh trong một chương trình hoạt động. + Phân chia thời gian thích hợp cho mỗi hoạt động cụ thể: Việc phân phối thời gian dành cho mỗi hoạt động cũng có ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ tiến trình hoạt động. Thông thường mỗi hoạt động giáo dục có thời gian tương đương với 1 tiết học. Tuy nhiên do tính chất linh hoạt của chương trình hoạt động giáo dục cho phép giáo viên có thể ghép 2 tiết sinh hoạt thực hiện một lần hoặc có những chương trình hoạt động giáo dục kéo dài cả một buổi, một ngày hay hai ngày.
Như vậy tùy theo điều kiện thời gian cho phép, sinh viên cần có sự phân chia thời gian hợp lý. Tránh tình trạng phần đầu thì kéo dài, phải chờ đợi, đến cuối chương trình lại quá vội vàng hoặc ngược lại. + Thể hiện toàn bộ chương trình hoạt động giáo dục dưới dạng văn bản hoặc giáo án điện tử PowerPoint: Sinh viên cần có kỹ năng chuyển thể toàn bộ chương trình dưới dạng văn bản (kỹ năng soạn giáo án). Thông thường sinh viên cần thể hiện chương trình dưới dạng giáo án giấy theo mẫu (xem thêm phụ lục số 4) hoặc soạn thảo văn bản Word.
Hiệu quả quá trình tổ chức hoạt động giáo dục sẽ còn được nâng cao hơn rất nhiều khi sinh viên có kỹ năng thiết kế chương trình hoạt động giáo dục bằng giáo án điện tử 14 PowerPoint. Giáo án điện tử cho phép thể hiện những nội dung kiến thức một cách rõ ràng, chính xác. Có thể sử dụng các sơ đồ, biểu bảng, ô chữ… đã được thiết kế, được lượng hóa. Có thể sử dụng các hiệu ứng về hình ảnh và âm thanh sinh động nhằm gây ấn tượng, thu hút sự chú ý của học sinh THCS.
Có thể lồng ghép những hình ảnh kĩ thuật số, những đoạn phim tư liệu, âm thanh…có chất lượng cao tạo nên sự hấp dẫn, lôi cuốn đối với học sinh. Đặc biệt sử dụng phần mềm soạn thảo trên PowerPoint cho phép tạo nên những đường liên kết để hỗ trợ mở rộng, minh họa cho một nội dung hay một hình thức hoạt động cụ thể. Giáo án điện tử này tạo nên sự khác biệt về chất so với giáo án viết tay hay soạn thảo dưới dạng văn bản. Vì vậy để rèn luyện kỹ năng thiết kế chương trình hoạt động giáo dục, giảng viên nên khuyến khích sinh viên thiết kế chương trình trên PowerPoint.
Kỹ năng xây dựng tiến trình hoạt động giáo dục yêu cầu sinh viên phải soạn được giáo án hoạt động giáo dục bằng văn bản Word hoặc giáo án PowerPoint theo đúng qui định. Cần đối chiếu mục đích, yêu cầu, nội dung hoạt động cùng với điều kiện thực tiễn để từ đó đề ra chương trình, cách tổ chức. Khi xây dựng tiến trình hoạt động phải nêu rõ mục tiêu hoạt động, thời gian thực hiện, cơ cấu tổ chức, nội dung hoạt động và các hình thức tổ chức, hình thức thi đua. Nhóm kỹ năng tổ chức 2.
Kỹ năng hướng dẫn học sinh thực hiện Đây là một kỹ năng phức hợp gồm các kỹ năng sau: + Kỹ năng thuyết trình: Là kỹ năng diễn đạt ngắn gọn, rõ ràng các vấn đề cần trình bày trước học sinh. Ngôn ngữ diễn đạt cần chuẩn mực, âm lượng vừa đủ, nhấn mạnh vào những từ ngữ quan trọng, thay đổi nhịp điệu của lời nói để biểu thị rõ sắc thái tình cảm. Khi thuyết trình nên kết hợp ngôn ngữ hình thể như nét mặt, ánh mắt, nụ cười, động tác tay, tư thế và di chuyển hợp lí. Luôn thể hiện sự tự tin, nhiệt tình và yêu thích những công việc đang hướng dẫn học sinh.
+ Kỹ năng làm mẫu (kỹ năng thị phạm): Trong nhiều trường hợp khi đã hướng dẫn bằng ngôn ngữ nói nhưng học sinh vẫn không hiểu, sinh viên cần làm mẫu một phần hoặc toàn bộ công việc đó một cách chính xác, rõ ràng để học sinh có thể quan sát được. Tuy nhiên làm mẫu không có nghĩa áp đặt hay bắt buộc học sinh phải thực hiện đúng mẫu mà cần khuyến khích sự sáng tạo của học sinh. + Kỹ năng đặt câu hỏi: Trong quá trình hướng dẫn học sinh, sinh viên nên nêu ra các câu hỏi ngắn để thu thập thông tin phản hồi từ phía học sinh và thu hút sự chú ý tham gia của các em. Cần biết lắng nghe học sinh trả lời với thái độ thiện chí, giải thích ngắn gọn các ý kiến của học sinh.
Thuyết phục, sửa chữa những sai sót học sinh có thể mắc phải. + Kỹ năng động viên, khuyến khích học sinh thực hiện hoạt động giáo dục: Sinh viên cần biết cách đưa ra những lời nhận xét mang tính chất động viên, khuyến khích học sinh trong quá trình thực hiện hoạt động giáo dục nhằm ghi nhận những kết quả học sinh đạt được, kích thích tính tích cực, sáng tạo của học sinh. Tuy nhiên những nhận xét này cần thể hiện đúng lúc, đúng chỗ mới có tác dụng giáo dục, 15 Ngoài ra để hướng dẫn học sinh thực hiện hoạt động giáo dục còn cần các kỹ năng khác như kỹ năng thuyết phục học sinh,kỹ năng lắng nghe, kỹ năng chia sẻ cảm xúc, kỹ năng hoạt náo… Các kỹ năng này có tác động qua lại với nhau sẽ giúp sinh viên hướng dẫn được hoạt động giáo dục một cách hiệu quả. Kỹ năng quản lý, điều khiển Quản lý, điều khiển các hoạt động trong dạy học cũng như trong tổ chức hoạt động giáo dục không chỉ là một kỹ năng mà phải được rèn luyện để trở thành một thói quen cần thiết đối với người giáo viên.
Quản lý, điều khiển quá trình tổ chức hoạt động giáo dục nhằm duy trì kỉ luật lớp học, lắng nghe học sinh, kịp thời động viên, khuyến khích học sinh tham gia vào hoạt động giáo dục. Kỹ năng quản lý, điều khiển hoạt động giáo dục bao gồm nhiều kỹ năng nhưng trong đó kỹ năng quản lý học sinh thực hiện hoạt động giáo dục và kỹ năng quản lý thời gian là quan trọng hơn cả. Kỹ năng quản lý học sinh thực hiện hoạt động giáo dục cần được thực hiện một cách khéo léo và sư phạm. Sinh viên nên quan sát học sinh từ phía sau hoặc từ xa, không nên quan sát học sinh trực diện.
Trong quá trình học sinh thực hiện hoạt động, cần di chuyển một cách tự nhiên để thay đổi vị trí quan sát và phân phối đều sự chú ý của mình cho mọi đối tượng học sinh. Cần chú ý lắng nghe các thông tin phản hồi chính thức và không chính thức từ học sinh để đưa ra các tác động phù hợp. Sinh viên cần rèn thói quen không làm việc với một nhóm hay một cá nhân học sinh quá lâu hoặc chỉ tập trung vào các đối tượng ở các vị trí gần, dễ quan sát. Kỹ năng quản lý về mặt thời gian để đảm bảo hoạt động giáo dục luôn được thực hiện theo đúng kế hoạch.
Vì vậy việc lượng hóa thời gian cụ thể cho mỗi hoạt động là hết sức cần thiết. Đồng thời sinh viên còn cần chủ động tạo nên những khoảng thời gian dừng lại, kiểm soát tiến trình tổ chức hoạt động. Không nên để bị cuốn vào các hoạt động của học sinh mà đánh mất vai trò chủ đạo của mình. Kỹ năng này còn đòi hỏi sự nhanh nhạy, khéo léo và quyết đoán của người sinh viên để kéo dài thêm hay cắt bỏ bớt một số phần nhằm đảm bảo đúng thời gian qui định.
Kỹ năng giải quyết các tình huống sư phạm nảy sinh Trong quá trình tổ chức hoạt động giáo dục, chương trình diễn ra sẽ không thể trùng khớp hoàn toàn với bản thiết kế, thậm chí có thể sẽ khác rất xa. Đó là do sự xuất hiện hàng loạt các vấn đề mang tính khách quan và chủ quan đòi hỏi sinh viên phải kịp thời giải quyết để hoạt động giáo dục diễn ra đúng kế hoạch. Để có kỹ năng giải quyết vấn đề, trước hết cần xác định đúng vấn đề nảy sinh. Kỹ năng này có quan hệ mật thiết với kỹ năng quản lý điều hành lớp ở trên vì khi sinh viên quan sát, bao quát lớp tốt sẽ dễ dàng nhận ra vấn đề cần giải quyết ngay khi nó mới phát sinh.
Sinh viên cần tìm hiểu nguyên nhân phát sinh vấn đề và đánh giá mức độ cần thiết của vấn đề. Đây là thao tác quan trọng trong kỹ năng giải quyết vấn đề vì nếu vấn đề không mang tính cấp thiết, không làm ảnh hưởng nhiều lắm đến chương trình thì nên chấp nhận và bỏ qua, tránh lãng phí công sức, thời gian và dễ bị sa đà vào những tình tiết đơn lẻ, vụn vặt. Còn nếu vấn đề là cần thiết, có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả chương trình thì cần tập trung ngay vào việc suy nghĩ để đề xuất các giải pháp giải quyết vấn đề. 16 Trong kỹ năng đề xuất giải pháp, sinh viên phải đề xuất được một số giải pháp theo những hướng khác nhau và đánh giá các giải pháp đó.
Yếu tố tư duy sáng tạo ở đây cần được huy động tối đa vì khi đánh giá từng giải pháp lại là gợi ý để tìm được giải pháp tốt hơn hay phối hợp được các giải pháp khác nhau để trở thành giải pháp tối ưu. Khi đánh giá từng giải pháp phải chú ý trả lời được các câu hỏi: Giải pháp này có khả thi hay không? Có phù hợp với điều kiện hiện tại hay không? Giải pháp này có hiệu quả như thế nào? Có đảm bảo tính giáo dục hay không?