Chương 1: Môi trường pháp tý ch o hoạt động kinh doanh thưởng Nobel cũng cho rằng, công việc kinh doanh chỉ có một trách nhiệm duy nhất là sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp một cách tốt nhất cho các hoạt động nhằm gia tăng lợi nhuận. Ngày nay, rất ít người cho rằng tìm kiếm lợi nhuận là phi đạo đức nhưng ngày càng có nhiều quan điểm cho rằng việc tìm kiếm lợi nhuận cao nhât cho doanh nghiệp có thế gây thiệt hại đến lợi ích chung của xã hội, có thể là cho người lao động, người tiêu dùng hay cộng đồng xã hội nói chung. Vì vậy, khi tiến hành hoạt động kinh doanh, đạo đức kinh doanh là điều mà doanh nghiệp phải tính đến bên cạnh mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận cao nhất. So với các lĩnh vực hoạt động khác, việc tuân theo các chuẩn mực đạo đức trong kinh doanh phức tạp hơn vì những điểm đặc thù của hoạt động này.
T hứ n h ấ t, trong nhiều trường hợp việc bảo đảm tuân thủ các quy tắc đạo đức làm tăng chi phí dẫn đến giảm lợi nhuận và đây là một sự lựa chọn khó khăn đối với người kinh doanh. Thứ hai, thực hiện quy tắc đạo đức đòi hỏi sự đồng tâm, tự nguyện của cả tập thể những người quản lý doanh nghiệp, trong khi đó một người quản lý điều hành cụ thể hiếm khi có toàn quyền ra quyết định. Hội đồng quản trị công ty cổ phần làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa sô còn giám đốc công ty phải ra các quyết định trên cơ sỏ Nghị quyết của Hội đồng quản trị. Thứ ha, việc ra các quyết định trong kinh doanh phải đảm bảo sự cân bằng giữa các mục tiêu.
Với các nhà kinh doanh đó là lợi nhuận cho các cổ đông hay thành viên công ty trong khi vẫn phải đảm bảo các chuẩn mực đạo đức. Một doanh nghiệp tung một sản phẩm mới ra thị trường được khách hàng ưa chuộng nhưng không đem lại lợi ích thiết thực cho họ. Sẽ là không đạo đức nếu bán sản phẩm mối đó trên thị trường nhìn trên phương diện khách hàng nhưng trên phương diện chủ sở hữu của doanh nghiệp thì việc không tung sản phẩm đó ra thị trường cũng được coi là không đạo đức. Quỵ tắc đa o đ ứ c (C ode o f cond uctỉethics) Để khẳng định uy tín của doanh nghiệp trên thương trường và bảo vệ người tiêu dùng, nhiều doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề đã Trưòng Đại học Kinh tế Quốc dân 21 GIÁO TRÌNH PHÁP LUẬT KINH T Ể xây dựng Quy tắc đạo đức áp dụng trong nội bộ doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề hoặc khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
Quy tắc đạo đức thường đề ra những chuẩn mực cao hơn so vối yêu cầu của pháp luật. Những doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp chuyên cung cấp dịch vụ như luật sư, kiểm toán viên, kiên trúc sư. là những doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp ban hành Quy tắc đạo đức nhiều nhất. Những chuẩn mực đạo đức mà Quy tắc đạo đức thường đưa ra là: T hứ nhất, bảo mật thông tin.
Bí mật kinh doanh là một tài sản của doanh nghiệp. Khi một doanh nghiệp cung cấp một dịch vụ hay ký hợp đồng với một doanh nghiệp khác thường được khách hàng cung cấp những thông tin nhất định mà khách hàng không muốn những thông tin này lộ ra ngoài. Vì vậy, khi tiếp nhận các thông tin thuộc bí mật kinh doanh của khách hàng thì doanh nghiệp (thực chất là nhân viên của họ) phải tuyệt đối giữ bí mật thông tin của khách hàng, không được dù c ố ý hay vô ý để thông tin đó lộ ra ngoài. T hứ hai, tránh xung đột lợi ích.
Một doanh nghiệp có thể tiếp nhận khách hàng và quyền lợi của họ có thể xung đột vối nhau. Ví dụ, một công ty thương hiệu có thể có hai khách hàng cùng muôn khuếch, trương thương hiệu về cùng một sản phẩm trên cùng một thị trường. Pháp luật có thể không cấm doanh nghiệp cung cấp dịch vụ phát triển thương hiệu cho hai khách hàng cùng một thời điểm nhưng Quy tắc đạo đức cửa doanh nghiệp có thể quy định để tránh xung đột lợi ích giữa các khách hàng. T hứ ha, năng lực chuyên môn.
Theo chuẩn mực này, người kinh doanh phải từ chối giao kết hợp đồng nếu như nhận thấy rằng mình không đủ năng lực chuyên môn hay kinh nghiệm để thực hiện công việc được giao. Thực tế ỏ nưốc ta cho thấy, rất nhiều doanh nghiệp vẫn nhận những hợp đồng mà họ là người biết hơn ai hết là không thể thực hiện được nhưng vẫn nhận để thực hiện bằng cách thuê lại doanh nghiệp khác hay thậm chí là làm kém chất lượng(1). n> Nhiều doanh nghiệp bỏ thầu thấp để thắng thầu nhưng sau đó thay đổi thiết kế. Nhiều công ty tư vấn đã nhận những hợp đồng, sau đó bán lại lòng vòng.
22 ' * ’ ĩầ u ồ n g Đ ạ i h ọ c K in h tế Q u ố c d â n Chương I: M ôi trường pháp tý ch o hoạt động kỉnh doanh c. Môi q u a n h ê g iữ a p h á p lu ăt và đao đ ứ c tro n g k in h do anh Pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh luôn phản ánh, trực tiếp hoặc gián tiếp, những giá trị đạo đức mà người kinh doanh cần phải hành động khi quan hệ với người khác. Pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh buộc người kinh doanh phải trung thực và hợp tác khi giao kết hợp đồng, người quản lý công ty phải thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao một cách trung thực, mẫn cán vì lợi ích của công ty và cổ đông của công ty. Pháp luật cũng yêu cầu người sử dụng lao động phải đối xử công bằng và không phân biệt giữa những người lao động trong doanh nghiệp.
Đây cũng là những yêu cầu của đạo đức trong kinh doanh đối với chủ thể hợp đồng, người quản lý doanh nghiệp hay người sử dụng lao động. Pháp luật phản ánh và thể chế hoá các chuẩn mực đạo đức nhưng pháp luật không thể thể chế hoá tất cả các chuẩn mức đạo đức thành pháp luật. Do đó, tuân thủ đầy đủ pháp luật không có nghĩa là đã tuân thủ đầy đủ các chuẩn mực đạo đức. Ví dụ, một công ty A xuất khẩu một lô hàng thuỷ sản sang châu Âu bị trả về vì vượt quá hàm lượng kháng sinh cho phép theo tiêu chuẩn của EƯ, sau đó đã xuất lô hàng đó sang một nước đang phát triển B có tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm thấp hơn được xem là hợp pháp nhưng có thể coi là trái đạo đức.
Một đồ chơi trẻ em bị cho là nguy hiểm đối với trẻ'em sử dụng nó nên bị cấm lưu thông ở nước A nhưng lại được xuất sang nưổc B, nơi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng kém chặt chẽ hơn. Hành vi này rõ ràng là trái đạo đức nhưng vẫn hợp pháp vì pháp luật nước B không cấm sản phẩm đó lưu thông. Một trong các điểm khác nhau cơ bản giữa đạo đức và pháp luật là vi phạm pháp luật thường phải gánh chịu những hậu quả pháp lý nhất định như bị phạt tiền, bị tưốc quyền kinh doanh, thậm ehí bị xử lý hình sự trong khi vi phạm quy tắc đạo đức thì bị dư luận xã hội lên án. Dư luận xã hội, công luận cũng tạo ra áp lực to lớn mà các chủ thể kinh doanh cũng phải tính đến trong hoạt động của mình.
Ở một s ố nước, các hiệp hội người tiêu dùng hoặc các tổ chức bảo trợ xã hội có thể kêu gọi người tiêu dùng tẩy chay sản phẩm của một công ty Trưòrtg Đại Học Kinh tế Quốc dân 23 GIÁO TRÌNH PHÁP LUẬT KINH T Ế nếu công ty này vi phạm các chuẩn mực xã hội như làm ô nhiễm môi trường, sử dụng lao động trẻ em. Đối với các doanh nghiệp, tuân theo nghĩa vụ đạo đức là một yếu tố tạo nên uy tín của doanh nghiệp trên thương trường, bảo đảm cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển ổn định, bền vững. T r á c h n h iệ m x ã h ộ i củ a d o an h n g h iệ p Doanh nghiệp là một chủ thể kinh doanh, đồng thời cũng là một chủ thể xã hội, là một địa bàn nơi diễn ra nhiều quan hệ xã hội có thể coi như một xã hội thu nhỏ. Vì vậy, vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cần phải được xem xét đế sự tồn tại của doanh nghiệp đem lại lợi ích cho các thành viên của nó và xã hội nói chung.
Phần lớn trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là nghĩa vụ kinh tế, nghĩa vụ tuân theo pháp luật được quy định thành nghĩa vụ pháp lý trong các văn bản pháp luật, trong vãn bản nội bộ doanh nghiệp. Một phần trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp lại được quy định thành nghĩa vụ đạo lý trong Quy tắc đạo đức nghề nghiệp, trong việc doanh nghiệp tự nguyện thực hiện các hoạt động từ thiện. Có thể mô tả qua tháp nghĩa vụ của doanh nghiệp. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm trách nhiệm đối với các thành viên doanh nghiệp (chủ sỏ hữu doanh nghiệp), trách nhiệm đôi với người lao động, trách nhiệm đối với người tiêu dùng và trách nhiệm đối với xã hội nói chung.
T rá c h n h iêm đối với th à n h viên củ a d o a n h n g h iệp Vì doanh nghiệp thuộc sở hữu của các thành viên nên trong việc điều hành hoạt động của doanh nghiệp, những người quản lý, điều hành phải hành động vì lợi ích của các thành viên là chủ sở hữu hoặc người góp vốn tạo thành doanh nghiệp. Nội dung loại trách nhiệm này đươc thể hiện thành nghĩa vụ pháp lý của những người quản lý doanh nghiệp. Tháp nghĩa vụ của doanh nghiệp: ^ / ặ ệ n o Đợi học Kinh tế Quốc dân Chương ỉ: Môi truồng pháp tý ch o hoạt động kinh doanh b. T rá c h n h iê m đôi với n gư ờ i lao đ ô n g Đối với người sử dụng lao động, vấn đề quan tâm nhất là kiểm soát được lực lượng lao động, xây dựng đội ngũ nhân viên có trình độ, lành nghề và trung thành.
Ngược lại đối vối người lao động, họ mong muốn được trả lương tương xứng với những gì họ đóng góp, được làm việc tròng một môi trường an toàn, được thăng tiến và được đôi xử bình đẳng vối những người lao động khác.