Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Trách nhiệm hình sự của người phạm tội gây rối trật tự công cộng theo pháp luật hình sự Việt Nam" được thực hiện bởi tác giả Lý Thị Hạnh (Mã sinh viên: 462014), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Mai Bộ tại Trường Đại học Luật Hà Nội (Ngành Pháp luật Kinh tế, Bộ môn Luật Hình sự, năm 2025).

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn: Trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với người phạm tội gây rối trật tự công cộng là hậu quả pháp lý bất lợi mà người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội phải gánh chịu trước Nhà nước, bao gồm việc bị kết án và áp dụng các biện pháp trách nhiệm hình sự. Trật tự công cộng là trạng thái ổn định, có tổ chức, có kỷ luật tại các địa điểm phục vụ chung cho cộng đồng. Hành vi xâm phạm trật tự công cộng không chỉ làm xáo trộn cuộc sống bình thường của người dân mà còn có thể xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của cá nhân, tổ chức. Kể từ năm 1945 đến nay, hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn lập pháp quan trọng với sự ra đời của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1985, BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Nghiên cứu các quy định về TNHS của tội danh này là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao nhận thức, hỗ trợ hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm và hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm hình sự của người phạm tội gây rối trật tự công cộng.
  2. Đánh giá thực trạng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử từ năm 1945 đến nay, trọng tâm là phân tích các quy định của BLHS năm 2015 về tội phạm, hình phạt và biện pháp tư pháp áp dụng đối với tội gây rối trật tự công cộng.
  3. Chỉ ra những tồn tại, bất cập trong quy định hiện hành và đề xuất giải pháp, căn cứ lý luận nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự, bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tập trung vào những vấn đề lý luận về TNHS của người phạm tội gây rối trật tự công cộng và thực trạng quy định của BLHS năm 1985, BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 về trách nhiệm hình sự đối với tội danh này.
  • Phạm vi nghiên cứu: Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay điều chỉnh về trách nhiệm hình sự (bao gồm cấu thành tội phạm, hệ thống hình phạt và biện pháp tư pháp) đối với người phạm tội gây rối trật tự công cộng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý luận và khung pháp lý:

  • Cơ sở phương pháp luận chung là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin.
  • Khung văn bản quy phạm pháp luật được khai thác và phân tích bao gồm:
    • Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
    • Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1959 (Điều 39).
    • Sắc luật số 03 ngày 15/03/1976 của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (Điều 9) và Thông tư số 03-BTP tháng 4/1976 của Bộ Tư pháp.
    • Bộ luật Hình sự năm 1985 (Điều 2, Điều 8, Điều 198).
    • Bộ luật Hình sự năm 1999 (Điều 245) và Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.
    • Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Điều 8, Điều 12, Điều 17, Điều 31, Điều 32, Điều 46, Điều 47, Điều 48, Điều 52, Điều 53, Điều 134, Điều 178, Điều 318, Điều 330.
    • Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.
    • Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024.

Tình hình nghiên cứu kế thừa: Tác giả tổng thuật và phân loại các công trình nghiên cứu đi trước thành hai nhóm:

  • Nhóm giáo trình, sách chuyên khảo: Công trình của GS. Lê Cảm (2005), Đinh Văn Quế (2005, 2006), GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa (2017, 2018, 2021, 2022), PGS.TS. Trịnh Tiến Việt (2022), GS. Đào Trí Úc (1993), Đỗ Ngọc Quang (1997).
  • Nhóm luận án, luận văn chuyên đề: Luận án tiến sĩ của Phạm Mạnh Hùng (2004); luận văn thạc sĩ của Trần Long Nhi (2015 - thực tiễn tại Đồng Tháp), Nguyễn Thu Hương (2019), Nguyễn Thị Phương Anh (2024 - thực tiễn tại Vĩnh Phúc); bài viết tạp chí của TS. Nguyễn Mai Bộ (2025).

Phương pháp nghiên cứu: Tác giả kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội và khoa học pháp lý truyền thống, bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm pháp luật.
  • Phương pháp lịch sử - cụ thể (nghiên cứu tiến trình phát triển của quy phạm qua các thời kỳ).
  • Phương pháp so sánh luật học (đối chiếu quy định giữa các bộ luật hình sự 1985, 1999, 2015 và phân biệt các tội danh tương đồng).
  • Phương pháp hệ thống hóa và phương pháp logic.

Nguồn dữ liệu: Toàn bộ dữ liệu nghiên cứu là nguồn tư liệu thứ cấp trích xuất trực tiếp từ các văn bản quy phạm pháp luật, nghị quyết hướng dẫn áp dụng pháp luật của TANDTC, các ấn phẩm giáo trình đại học, công trình nghiên cứu lý luận và các luận văn, luận án chuyên ngành luật học.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự của người phạm tội gây rối trật tự công cộng

Chương 1 xây dựng nền tảng lý luận về trách nhiệm hình sự nói chung và trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội gây rối trật tự công cộng nói riêng.

  1. Khái niệm, đặc điểm và cơ sở của trách nhiệm hình sự:

    • Khái niệm: Tác giả tổng hợp các quan điểm học thuật của Đào Trí Úc, Đỗ Ngọc Quang, Phạm Mạnh Hùng, Nguyễn Ngọc Hòa và rút ra định nghĩa: TNHS là hậu quả pháp lý bất lợi của việc thực hiện tội phạm, thể hiện bằng việc Nhà nước áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế hình sự do BLHS quy định đối với người phạm tội.
    • 5 đặc điểm của TNHS: (i) Là hậu quả pháp lý bất lợi phát sinh khi có tội phạm thực hiện; (ii) Thể hiện sự lên án, phản ứng gay gắt nhất của Nhà nước đối với người phạm tội; (iii) Là trách nhiệm của người phạm tội đối với Nhà nước; (iv) Chỉ được xác định theo trình tự, thủ tục tố tụng đặc biệt bởi cơ quan có thẩm quyền; (v) Được ghi nhận và thực hiện thông qua bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
    • Cơ sở của TNHS: Căn cứ theo Điều 8 BLHS, cơ sở duy nhất để truy cứu TNHS là hành vi thỏa mãn đầy đủ 4 yếu tố cấu thành tội phạm (Khách thể, Mặt khách quan, Chủ thể, Mặt chủ quan). Về độ tuổi chịu TNHS (Điều 12 BLHS), người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do cố ý. Năng lực TNHS được quy định theo phương pháp loại trừ.
  2. Trách nhiệm hình sự của người phạm tội gây rối trật tự công cộng:

    • Khái niệm: Phân tích thuật ngữ "công cộng" và "trật tự công cộng", tác giả xác định TNHS của người phạm tội gây rối trật tự công cộng là hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước do thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng, bao gồm việc bị kết án và áp dụng các biện pháp trách nhiệm hình sự.
    • Đặc điểm: Mang đầy đủ đặc tính của TNHS nói chung; hành vi vi phạm quy tắc sinh hoạt công cộng thể hiện qua lời nói, cử chỉ, hành động bạo lực hoặc phá phách; do chủ thể có năng lực TNHS thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.
    • Cơ sở truy cứu: Hành vi phải được tội phạm hóa trong BLHS với các yếu tố cấu thành định tội và cấu thành định khung cụ thể.

Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự của người phạm tội gây rối trật tự công cộng

Chương 2 phân tích chi tiết tiến trình lập pháp và đánh giá thực trạng các quy phạm pháp luật hình sự điều chỉnh tội gây rối trật tự công cộng.

  1. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm 2015:
    • Giai đoạn 1945 - trước 1985: Sắc lệnh 47/SL (1945) cho phép tạm thời áp dụng luật lệ cũ nếu không trái nền độc lập. Điều 39 Hiến pháp 1959 lần đầu đặt ra nghĩa vụ tuân theo trật tự công cộng mang tính định hướng chung. Sau năm 1975, Điều 9 Sắc luật số 03/1976 và Thông tư số 03-BTP/1976 quy định nhóm tội xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng và sức khỏe nhân dân với khung hình phạt từ 3 tháng đến 5 năm tù, trường hợp nghiêm trọng lên đến 15 năm tù, phạt tiền đến 1.000 đồng, quản chế hoặc cấm cư trú từ 1 đến 5 năm. Giai đoạn này hành vi gây rối chưa được tách thành tội danh độc lập mà quy định gộp cùng cờ bạc, mại dâm, ma túy.
    • Quy định của BLHS năm 1985 (Điều 198): Lần đầu tiên hành vi gây rối trật tự công cộng được quy định thành tội danh độc lập. Khung 1 (khoản 1) phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm. Khung 2 (khoản 2) phạt tù từ 1 năm đến 7 năm với 3 tình tiết định khung: (a) Có dùng vũ khí hoặc có hành vi phá phách; (b) Lôi kéo, kích động người khác gây rối; (c) Hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng. Hạn chế của BLHS 1985 là thiếu định nghĩa cụ thể về hành vi, chưa lượng hóa hậu quả và chưa bao quát các tình tiết như phạm tội có tổ chức hay tái phạm.
    • Quy định của BLHS năm 1999 (Điều 245): Bỏ hình phạt cảnh cáo, thay bằng hình phạt tiền từ 1 triệu đến 10 triệu đồng tại khoản 1. Đặt ra điều kiện định tội bắt buộc: phải "gây hậu quả nghiêm trọng" hoặc đã bị xử phạt hành chính/kết án chưa xóa án tích. Tiêu chí hậu quả nghiêm trọng được cụ thể hóa tại Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP (cản trở giao thông dưới 2 giờ; thiệt hại tài sản từ 10 triệu đồng trở lên; gây chết người; gây thương tích với tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên hoặc tổng tỷ lệ nhiều người từ 41% trở lên...). Khoản 2 (phạt tù từ 2 đến 7 năm) sửa đổi tình tiết "lôi kéo, kích động" thành "xúi giục" và bổ sung 3 tình tiết tăng nặng định khung mới: "Có tổ chức", "Gây cản trở giao thông nghiêm trọng hoặc gây đình trệ hoạt động công cộng", "Tái phạm nguy hiểm".
Tiêu chí so sánh BLHS năm 1985 (Điều 198) BLHS năm 1999 (Điều 245) BLHS năm 2015 (Điều 318)
Cấu thành cơ bản (Mặt khách quan) Chỉ cần có hành vi gây rối trật tự ở nơi công cộng. Hành vi gây rối phải "gây hậu quả nghiêm trọng" hoặc có tiền án, tiền sự. Hành vi gây rối "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội" hoặc có tiền án, tiền sự.
Chế tài cơ bản (Khung 1) Cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. Phạt tiền từ 1.000.000đ đến 10.000.000đ, cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. Phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Chế tài tăng nặng (Khung 2) Phạt tù từ 01 năm đến 07 năm (3 tình tiết tăng nặng định khung). Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm (6 tình tiết tăng nặng định khung). Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm (6 tình tiết tăng nặng định khung, bổ sung tình tiết dùng "hung khí").
  1. Quy định của BLHS năm 2015 về trách nhiệm hình sự của người phạm tội gây rối trật tự công cộng:
    • Cấu thành tội phạm (Điều 318):
      • Khách thể: Trật tự, an toàn công cộng, nếp sống văn minh và các quy tắc sinh hoạt xã hội; gián tiếp xâm phạm sức khỏe, tài sản của cá nhân, tổ chức.
      • Mặt khách quan: Hành vi gây rối tại nơi công cộng (công sở, chợ, trường học, công viên, nhà ga, đường phố...). Về dấu hiệu hậu quả, điều luật thay đổi căn bản từ "gây hậu quả nghiêm trọng" sang "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội" hoặc có tiền sự/tiền án chưa xóa án tích.
      • Chủ thể: Bất kỳ cá nhân nào từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực TNHS (do tội danh không thuộc loại tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng nên người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi không phải là chủ thể).
      • Mặt chủ quan: Thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.
    • Phân biệt với các tội danh tương đồng:
      • Với Tội cố ý gây thương tích (Điều 134 BLHS): Tội gây rối trật tự công cộng xâm phạm trật tự công cộng tại nơi đông người; nếu có gây thương tích nhưng xác định lỗi vô ý đối với thương tích thì thương tích là tình tiết định tội/tăng nặng. Tội danh theo Điều 134 xâm phạm sức khỏe con người, xảy ra ở bất kỳ địa điểm nào, lỗi cố ý đối với thương tích (tỷ lệ từ 11% trở lên hoặc dưới 11% thuộc các trường hợp luật định).
      • Với Tội chống người thi hành công vụ (Điều 330 BLHS): Điều 330 xâm phạm trật tự quản lý hành chính, nhắm trực tiếp vào người đang thi hành công vụ nhằm cản trở hoặc cưỡng ép họ thực hiện hành vi trái pháp luật; chỉ cần có hành vi dùng vũ lực/đe dọa là cấu thành tội phạm. Điều 318 nhắm vào trật tự chung nơi công cộng và bắt buộc phải có dấu hiệu gây ảnh hưởng xấu hoặc tiền sự, tiền án.
    • Hệ thống chế tài và biện pháp tư pháp:
      • Hình phạt chính: Áp dụng 3 loại hình phạt chính gồm phạt tiền, cải tạo không giam giữ và phạt tù có thời hạn. Khung 1 (phạt tiền từ 5 triệu đến 50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc tù từ 3 tháng đến 2 năm); Khung 2 (phạt tù từ 2 năm đến 7 năm với 6 tình tiết: có tổ chức; dùng vũ khí, hung khí hoặc phá phách; gây cản trở giao thông nghiêm trọng/đình trệ hoạt động công cộng; xúi giục; hành hung người can thiệp; tái phạm nguy hiểm). Không quy định hình phạt bổ sung.
      • Biện pháp tư pháp (Điều 46 BLHS): Áp dụng biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm (Điều 47); trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại, buộc công khai xin lỗi (Điều 48); bắt buộc chữa bệnh.
    • Một số bất cập, hạn chế chỉ ra trong văn bản: Tình tiết dùng "hung khí" tại điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS năm 2015 chưa có văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn cụ thể (trước đây áp dụng Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP cho BLHS 1999), dẫn đến sự phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của cơ quan tiến hành tố tụng, dễ phát sinh bất nhất trong áp dụng. Khái niệm "gây ảnh hưởng xấu" mang tính định tính, chưa có tiêu chí định lượng rõ ràng.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính:

  • Hệ thống hóa toàn diện quá trình tiến triển của pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 qua các thời kỳ lập pháp (Sắc lệnh 47/SL, Sắc luật 03/1976, BLHS 1985, BLHS 1999 và BLHS 2015) đối với chế định trách nhiệm hình sự của người phạm tội gây rối trật tự công cộng.
  • Phân tích sâu sắc 4 yếu tố cấu thành tội phạm và hệ thống chế tài áp dụng theo Điều 318 BLHS năm 2015; làm rõ mối quan hệ giữa hình phạt chính và các biện pháp tư pháp (Điều 47, Điều 48 BLHS).
  • Xác lập các tiêu chí pháp lý phân định ranh giới giữa Tội gây rối trật tự công cộng (Điều 318) với Tội cố ý gây thương tích (Điều 134) và Tội chống người thi hành công vụ (Điều 330).

Giải pháp và kiến nghị của tác giả:

  • Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn áp dụng thống nhất tình tiết định khung "dùng hung khí" theo quy định của BLHS năm 2015, khắc phục khoảng trống pháp lý khi các nghị quyết hướng dẫn cũ (NQ 01/2006, NQ 02/2003) hết hiệu lực thi hành đối với bộ luật mới.
  • Xây dựng hướng dẫn giải thích cụ thể các tiêu chí định lượng và định tính đối với dấu hiệu "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội" nhằm bảo đảm việc truy cứu TNHS chính xác, tránh oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm.

Đóng góp so với nghiên cứu trước: Khóa luận đã khắc phục hạn chế của các công trình đi trước (vốn chỉ xem xét tội gây rối trật tự công cộng như một phần nhỏ trong cụm tội xâm phạm an toàn công cộng, hoặc bó hẹp trong phạm vi thực tiễn xét xử tại địa phương như Đồng Tháp hay Vĩnh Phúc), cung cấp một hệ thống lý luận và đánh giá thực trạng quy định toàn diện, cập nhật khung pháp luật đến năm 2025.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Công trình tập trung chủ yếu vào nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng quy phạm pháp luật (từ năm 1945 đến nay) trên phương diện lập pháp; đề tài chưa mở rộng khảo sát số liệu thống kê thực tiễn xét xử và thực trạng áp dụng án lệ cụ thể trên toàn quốc.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục triển khai các công trình nghiên cứu gắn liền với việc thu thập, phân tích số liệu thống kê thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân các cấp; đánh giá tác động thực tế của việc áp dụng các biện pháp tư pháp kết hợp hình phạt đối với tội gây rối trật tự công cộng.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên ngành Luật, Luật Kinh tế, chuyên ngành Tư pháp hình sự; giảng viên giảng dạy học phần Luật Hình sự Việt Nam; cán bộ nghiên cứu lập pháp và cán bộ công tác tại các cơ quan tiến hành tố tụng (Công an, Viện kiểm sát, Tòa án).
  • Phần nội dung đáng tham khảo:
    1. Bảng so sánh và phân tích sự thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm qua các bộ luật hình sự năm 1985, 1999 và 2015.
    2. Hệ thống luận cứ phân biệt Điều 318 với Điều 134 và Điều 330 BLHS năm 2015.
    3. Phân tích thực trạng áp dụng các biện pháp tư pháp (Điều 47, Điều 48 BLHS 2015) đối với tội gây rối trật tự công cộng.

Câu hỏi thường gặp

1. Dấu hiệu mặt khách quan về hậu quả của Tội gây rối trật tự công cộng đã thay đổi như thế nào từ BLHS năm 1999 sang BLHS năm 2015?
Trong BLHS năm 1999 (khoản 1 Điều 245), điều kiện định tội bắt buộc hành vi phải "gây hậu quả nghiêm trọng" (hướng dẫn cụ thể tại Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP). Sang BLHS năm 2015 (khoản 1 Điều 318), cấu thành định tội chuyển thành hành vi "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội". Sự điều chỉnh này mở rộng phạm vi xử lý hình sự, chỉ cần hành vi gây ảnh hưởng xấu là đã cấu thành tội phạm mà không nhất thiết phải gây ra hậu quả vật chất nghiêm trọng như quy định cũ.

2. Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với Tội gây rối trật tự công cộng theo BLHS năm 2015 được quy định ra sao?
Căn cứ Điều 12 và Điều 318 BLHS năm 2015, chỉ người từ đủ 16 tuổi trở lên mới phải chịu TNHS về Tội gây rối trật tự công cộng. Lý do là mức hình phạt cao nhất của tội danh này tại khoản 2 Điều 318 là 7 năm tù (thuộc nhóm tội phạm nghiêm trọng), không có khung hình phạt thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng để truy cứu người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi.

3. Vướng mắc pháp lý lớn nhất đối với tình tiết định khung tăng nặng tại điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS năm 2015 là gì?
BLHS năm 2015 bổ sung mới tình tiết dùng "hung khí" bên cạnh vũ khí và hành vi phá phách. Tuy nhiên, kể từ khi BLHS năm 2015 có hiệu lực, cơ quan có thẩm quyền vẫn chưa ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể thế nào là "hung khí" (các hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP và Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP áp dụng cho BLHS 1999). Điều này khiến việc xác định hung khí phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của cơ quan tiến hành tố tụng, dễ dẫn đến áp dụng không thống nhất.

4. Khóa luận đưa ra những tiêu chí nào để phân biệt Tội gây rối trật tự công cộng (Điều 318) với Tội chống người thi hành công vụ (Điều 330)?
Khóa luận chỉ ra sự khác biệt qua 3 tiêu chí chính: (i) Khách thể: Điều 318 xâm phạm trật tự công cộng chung; Điều 330 xâm phạm trật tự quản lý hành chính và hoạt động đúng đắn của người thi hành công vụ; (ii) Mặt khách quan: Điều 330 dùng vũ lực/đe dọa trực tiếp nhằm cản trở người thi hành công vụ; Điều 318 là hành vi gây mất trật tự nơi đông người; (iii) Điều kiện truy cứu: Điều 330 chỉ cần thực hiện hành vi khách quan là cấu thành tội phạm; Điều 318 bắt buộc phải có dấu hiệu gây ảnh hưởng xấu hoặc có tiền sự, tiền án.

5. Ngoài các hình phạt chính, những biện pháp tư pháp nào được áp dụng đối với người phạm tội gây rối trật tự công cộng theo BLHS 2015?
Người phạm tội có thể bị áp dụng các biện pháp tư pháp quy định tại Điều 46 BLHS năm 2015, gồm: (i) Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm để tiêu hủy hoặc sung công quỹ Nhà nước (Điều 47); (ii) Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại, buộc công khai xin lỗi bị hại (Điều 48); (iii) Bắt buộc chữa bệnh theo quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lý Thị Hạnh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực trạng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự của người phạm tội gây rối trật tự công cộng từ năm 1945 đến nay. Tác phẩm đã phân tích chi tiết cấu thành tội phạm, hệ thống chế tài và các biện pháp tư pháp theo Điều 318 BLHS năm 2015, đồng thời so sánh đối chiếu và phân định rõ ràng với các tội danh liên quan. Những phát hiện về bất cập trong việc thiếu văn bản hướng dẫn tình tiết "hung khí" và tiêu chí "gây ảnh hưởng xấu" là cơ sở lý luận quan trọng phục vụ công tác hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam.