Mở đầu cho việc nghiên cứu thành phần hóa học của cây thuốc và Friederich Serturner là người đầu tiên chiết xuất được Morphin từ nhựa thuốc phiện. - Năm 1942 lần đầu tổng hợp được Diethyl ether là một chất gây mê, từ đó ngành Hóa dược được tách dần ra khỏi ngành dược liệu. - Năm 1857 Schleiden phân biệt được các loại rễ Sarsaparilla khác nhau bằng cách quan sát và so sánh sự khác nhau về cấu tạo các tế bào nội bì của chúng dưới kính hiển vi mở đường cho việc kiểm nghiệm dược liệu bằng kỹ thuật kính hiển vi. - Năm 1929 Alexander Fleming chiết xau61t được Penicilin một chất kháng sinh từ nấm Penicillium notatum từ đó ngành vi sinh học được hình thành.
Những tiến bộ của khoa học ở nữa cuối thế kỷ 20, đã làm cho dược liệu học phát triển mạnh mẽ đạc biệt là những khám phá về thành phần hóa học và những tác dụng của cây thuốc, vị thuốc. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DƯỢC LIỆU HỌC PHƯƠNG ĐÔNG Y học Trung Hoa có lịch sử phát triển lâu đời, trên cơ sở lý luận của triết học và tôn giáo, tồn tại và phát triển bền vững đến tận ngày nay. Trong quá trình phát triển Y học Trung Hoa còn chịu ảnh hưởng của sự giao thoa văn hóa và y học với các nước láng giềng như: Triều Tiên, Việt Nam, Tây Tạng v.v… và các nước lớn khác như: Ấn Độ, Ai Cập, Ả Rập và Y học phương Tây. Người Trung Hoa đã tiếp thu những kinh nghiệm chữa bệnh và những dược liệu đó ngày nay đã trở thành một bô phận của Y học Trung Hoa.
6 - Thời hoàng Đế (2637 TCN), “Nội Kinh” là cuốn sách đã tập hợp các phương pháp chữa bệnh theo y lý Đông phương. - Lý Thời Trân (1518 – 1593) biên soạn “Bản thảo cương mục” vào năm 1596 phổ biến 12.000 bài thuốc và phương thuốc trong đó có 1892 vị thuốc (1094 dược liệu, 444 động vật và 354 khoáng vật), đây là cuốn sách có giá trị khoa học và thực sự bổ ích. Y học Ấn Độ cũng sớm phát triển, khoảng 4000 – 100 năm TCN trong Kinh Vệ đà (Ayurveda) các kiến thức về y học sử dụng cây thuốc đã được đề cập đến. Ấn Độ đã sử dụng nhiều dược liệu như: Ba gạc, tỏi, tiêu, gừng, thầu dầu, mè, đậu khấu, phụ tử, ngưu hoàng, rắn lục v.v… SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM Nền Y Dược học nước ta cũng có lịch sử phát triển lâu đời.
- Vào khoảng 4000 năm TCN, Thần Nông2 đã dạy cho dân sử dụng các loại ngũ cốc, rau quả làm thực phẩm và biết phân biệt, ghi nhận một số cây cỏ có tác dụng chữa bệnh. - Vào thời Hồng Bàng (2879 – 257 TCN) tổ tiên ta đã biết nhuộm răng, nhai trầu để bảo vệ răng và làm cho da dẻ hồng hào, uống chè vối giúp tiêu hóa dễ dàng, dùng gừng, hành, tỏi để làm gia vị và để phòng và chữa bệnh. Cuối thế kỷ thứ III TCN, ở Việt Nam Giao Chỉ, nhiều vị thuốc đã được ghi nhận như: Gừng, riềng, quế, trầm hương, hương bài, cánh kiến trắng, mật ong, sừng tê giác, cau, sử quân tử, ý dĩ, sắn dây, long nhãn, vải… - Từ 179 TCN đến 938 SCN thời ký Bắc thuộc, người Trung Hoa lấy nhiều cây thuốc của Việt Nam về trồng như: Ý dĩ, vải, nhãn, sử quân tử, nhục đậu khấu và thu các cống vật là dược liệu như: trầm hương, cánh kiến trắng, sừng tê giác v.v… trong thời ký này Y học cổ truyền Việt Nam đạ chịu nhiều ảnh hưởng của y học cổ truyền Trung Hoa, nhưng những kiến thức của y học cổ truyền Việt Nam cũng đã xâm nhập vào nền y học cổ truyền Trung Hoa. 2 Chú thích: Thần nông là Tổ tiên của vua Hùng.
Thần Nông sinh ra Đế Minh, Đế Minh sinh ra Kinh Dương Vương, Kinh Dương Vương sinh ra Lạc Long Quân, Lạc Long Quân sinh ra vua Hùng. 7 Từ 938 – 1884 Nhà nước phong kiến Việt Nam được độc lập trải qua các triều đại: Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Hồ, Tây Sơn, Nguyễn. Các danh y có những đóng góp to lớn cho nền y dược học cổ truyền nước ta như: Minh Không thiền sư đã chữa khỏi bệnh điên cuồng, mình mọc đầy lông, miệng la hét cho vua Lý Thần Tông (1136), bằng cách tắm nước cây bồ hòn. Chu Văn An biên soạn cuốn “Y học yếu giải tập chú di biên” (1391), đã tổng kết trên 700 phương thuốc chữa bệnh.
Tuệ Tĩnh đã chữa khỏi bệnh hậu sản cho hoàng hậu Tống Vương Phi nhà Minh và được phong là “Đại y thiền sư” rồi bị giữ lại và đã quy y ở Trung Quốc không rõ năm nào. Tuệ Tĩnh đã để lại 2 tác phẩm có giá trị là: “Hồng Nghĩa giác tư y thư” và “Nam Dược thần hiệu”. Tư tưởng chỉ đạo của Tuệ Tĩnh về đường hướng Y học cổ truyền nước ta là “Nam dược trị Nam nhân”. Ông là người mở đường xây dựng nền Y dược học cổ truyền Việt Nam.
Hải Thượng Lãn Ông (1720 – 1791), tên thật là Lê Hữu Trác quê ở Hưng Yên, với bộ “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” 28 tập, 66 quyển. Ông đã để lại một pho kinh nghiệm quý báu, đúc rút qua nhiều thế hệ thầy thuốc cổ truyền nước ta và Trung Hoa lưu truyền cho hậu thế. Ông đã phát huy chủ trương “Nam dược trị nam nhân” của Tuệ Tĩnh, đã sưu tầm được nhiều vị thuốc mới và phổ biến cho nhân dân sử dụng. Hải Thượng Lãn Ông đã được coi là một “Đại y tôn” của Việt Nam.
- Thời kỳ Pháp thuộc (1885 – 1945), người Pháp tổ chức y tế theo phương Tây, hạn chế Đông y. Tuy thế thời kỳ này cũng để lại một số tập sách có giá trị như: Ch.Pétélot “Danh mục các sản phẩm Đông Dương – các dược phẩm” (Catalogue des produits de I’Indochine – Produist me1dicinuaux) Pétélot “Những cây thuốc của Campuchia, Lào và Việt Nam” (Les Plantes me1dicinales du Cambodge, du Laos et du VietNam). 8 - Từ năm 1945 cho đến nay, sau khi giành được chính quyền Đảng và nhà nước ta rất chú trọng đến việc kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại. Tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về đường lối kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại thể hiện trong thư gửi cán bộ y tế ngày 27/02/1955 Bác viết: “Y học phải dựa trên nguyên tắc khoa học, dân tộc, đại chúng.
Ông cha ta ngày trước có nhiều kinh nghiệm quý báu về cách chữa bệnh bằng thuốc Ta, thuốc Bắc. Để mở rộng phạm vi học các cô, các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc Đông và thuốc Tây”. Từ đó tới nay nhiều chỉ thị nghị quyết của Đảng và Nhà nước chỉ đạo đường lối kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại, để xây dựng nền y học Việt Nam. Điều 49 chương III, hiến pháp nước CHXHCNVN có ghi: Phát triển và hoàn thiện hệ thống bảo vệ sức khỏa nhân dân trên cơ sở kết hợp y học, dược học hiện đại với y học cổ truyền”.
Nhiều tổ chức dược liệu và y dược học cổ truyền dược thành lập như: Viện Dược liệu Việt Nam. Viện y học cổ truyền Việt Nam. Hội Dược liệu Việt Nam. Hội Đông y Việt Nam.
Nhiều tài liệu về cây thuốc đã được biên soạn như: - “Dược liệu Việt Nam”. Bộ Y tế - “Dược điển Việt Nam”. Bộ Y tế - “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”.TS Đỗ Tất Lợi, - “Cây Cỏ Việt Nam” GS.Phạm Hoàng Hộ - “Từ điển cây thuốc”. Võ Văn Chi - “Tài nguyên cây thuốc Việt Nam”.
Viện Dược liệu. Để kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại, ngành dược liệu nước ta đang tập trung vào 5 lĩnh vực sau: 1. Tạo nguồn nguyên liệu làm thuốc 2. Chiết xuất các hoạt chất từ dược 3.
Kiểm nghiệm – tiêu chuẩn hóa dược liệu liệu 5. Hiện đại hóa các dạng bào chế thuốc y học cổ 4. Nghiên cứu các hoạt chất mới 9 truyền. VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA DƯỢC LIỆU Thuốc sử dụng trong phòng và cữa bệnh có hai nguồn gốc: Thuốc có nguồn gốc tự nhiên (Dược liệu) và thuốc tổng hợp (Hóa học).
Xu hướng chung của thế giới hiện nay là trở về sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên, vì nhận thấy rằng các thuốc có nguồn gốc tự nhiên an toàn hơn thuốc tổng hợp. Hơn nữa có một vài loại ung thư, một số bệnh mãn tính có thể chữa khỏi bằng thuốc Y học cổ truyền, nhưng tới nay chưa có thuốc tổng hợp đặc trị. Theo thống kê của Tổ chức Y Tế Thế Giới có tới 20.000 loài dược thảo đã được sử dụng. 80% dân số thế giới dựa vào nguồn thuốc có gốc dược liệu.
Trên 25% thuốc sử dụng trên lâm sàng có nguồn gốc thực vật. Doanh thu từ nguồn gốc dẫn xuất từ các nước phát triển đang ngày càng tăng. Thị trường thuốc có nguồn gốc thực vật trên thế giới hiện nay khoảng 30 tỉ USD. Nhiều biệt dược Đông dược của châu Á được tiêu thụ mạnh ở châu Âu.
Nước ta có hệ động, thực vật rất phong phú và đa dạng từ núi cao đến đồng bằng và bờ biển, cả nước ước tính có khoảng 12.000 loài trong đó có khoảng 4.000 loài cây đang được sử dụng làm thuốc. Nhiều dược liệu là mặt hàng xuất khẩu có giá trị như: Quế, hồi, sa nhân, hoa chè, dừa cạn… Nhà nước ta đã xếp cây thuốc vào loại cây được ưu tiên bảo tồn và phát triển. Đồng thời có chiến lược phát triển YHCT từ 2005 – 2010. Phấn đấu tới năm 2010 thuốc sản xuất trong nước đáp ứng khoảng 60% nhu cầu của Bệnh viện, trong đó có 30% số thuốc được sản xuất trong nước là thuốc có nguồn gốc từ dược liệu và thuốc YHCT.
Để đảm bảo được những nhu cầu đó nhà nước đã ưu tiên xây dựng các vùng nuôi trồng và chế biến dược liệu nhằm đảm bảo đủ nguyên liệu cho sản xuất thuốc và tăng cường xuất khẩu dược liệu. Như vậy dược liệu có một vai trò quan trọng trong ngành Y tế và trong nền kinh tế nước ta. 10 CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ. Chọn một câu trả lời đúng nhất: 1.
Dược liệu là môn học nghiên cứu : a. Nguồn nguyên liệu dùng làm thuốc b. Nguồn gốc sinh học c. Nguồn gốc thực vật d.
Tất cả đều đúng 2. Danh y không thuộc nền Y học Việt Nam a. Từ Đạo Hạnh b. Lê Hữu Trác d.
Người đề xuất ra ý tưởng dùng thuốc Nam để trị cho người Việt Nam a. Từ Đạo Hạnh c. Hải Thượng Lãn Ông 4. NgưỜi đưa ra hệ thống phân loại danh pháp động vật và thực vật a.
Dioscorides một nhà dược liệu học đã viết tập sách a.