KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3. KẾT QUẢ ĐIỀU TRA NGUỒN CÂY THUỐC VÀ PHÂN TÍCH TÍNH ĐA DẠNG NGUỒN TÀI NGUYÊN NÀY Ở HUYỆN XÍN MẦN TỈNH HÀ GIANG 3. Kêt quả điều tra nguồn cây thuốc Như đã trình bày ở phần Phương pháp và Địa điểm điều tra, việc điều tra nghiên cứu về nguồn cây thuốc ở huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang được tiến hành trên tổng số 12 xã và thị trấn trong vòng 2 năm (2014 và 2015). Do công tác điều tra thu thập thực hiện vào các xã là cuối mùa xuân và đầu mùa hè, nên hầu hết các loài cây thuốc đang vào mùa sinh trưởng phát triển mạnh, nhiều loài đang có hoa quả nên thuận lợi trong việc nhận dạng các loài.
Sau khi tiến hành kiểm tra, xác định tên khoa học các loài cây thuốc đã thu thập, kết quả cho thấy, đã ghi nhận được ở huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang có 209 loài cây thuốc, thuộc 183 chi, 114 họ của 5 ngành thực vật cụ thể ở bảng sau: Bảng 3. Kết quả điều tra về thành phần loài cây thuốc ở huyện Xín Mần STT Ngành và Lớp Số họ Số chi Số loài 1 Ngành Mộc tặc/Tháp bút (Equisetophyta) 1 1 2 Ngành Thông đất /Thạch tùng 2 1 2 2 (Lycopodiophyta) 3 Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) 5 6 6 Ngành Thông / Hạt trần 4 2 3 4 (Pinophyta/Gymnospermae) Ngành Ngọc lan /Hạt kín (Magnoliophyta/ 5 105 171 195 Angiospermae) 5.1 Lớp Ngọc lan /lớp Hai lá mầm 90 137 147 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com (Magnoliopsida / Dicotyledon) Lớp Hành/lớp Một lá mầm (Liliopsida / 5.2 15 34 48 Monocotyledon) Tổng số 114 183 209 Trong tổng số 209 loài thực vật làm thuốc đã biết thuộc 183 chi, 114 họ, 5 ngành thực vật bậc cao có mạch đều là các cây thuốc mọc tự nhiên. Trong đó ngành Ngọc lan phần lớn các loài thuộc lớp Ngọc lan - Hai lá mầm và một số ít thuộc lớp Hành - Một lá mầm. *Xây dựng danh lục cây thuốc huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang.
Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của công tác điều tra cây thuốc ở địa phương hay trên vùng lãnh thổ của một Quốc gia là phải phát hiện, thống kê được các loài thực vật có công dụng làm thuốc ở phạm vi nghiên cứu đó. Kết quả cuối cùng của nhiệm vụ này là xây dựng được tập Danh lục cây thuốc ở vùng nghiên cứu - ở đây chính là tập Danh lục cây thuốc huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang. Như chúng ta đã biết, để xây dựng được tập Danh lục cây thuốc cần phải đáp ứng được đầy đủ các thông tin về: - Tất cả các cây thuốc cần phải xác định được chính xác tên Khoa học đến loài, thứ (nếu có). Để bảo đảm tính khoa học cho tập Danh lục, nhìn chung các loài đều có tiêu bản thực vật kèm theo (ngoại trừ một số loài cây thuốc phổ thông như: Cỏ gấu, Cỏ màn trầu, Cỏ cứt lợn, Cỏ tranh, Rau má, Đơn kim, … do có sự phân bố gần như ở nhiều nơi tại miền Bắc Việt Nam, nên không nhất thiết phải thu thập tiêu bản kèm theo).
- Từng loài cây thuốc cần có đủ một số thông tin khác, như tên gọi thông dụng, tên theo tiếng địa phương (nếu có), bộ phận dùng, cách sử dụng và công dụng chữa bệnh, phòng bệnh hay để bồi bổ sức khỏe. Sau khi kết thúc các đợt điều tra ngoại nghiệp, việc xác định tên khoa học và hệ thống lại các thông tin của các loài cây thuốc cũng đã hoàn tất. Tất cả những thông tin này là nguồn dẫn liệu ban đầu để xây dựng Danh lục cây thuốc. 24 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như ở kết quả nghiên cứu (3.1) đã đề cập, qua điều tra ở huyện Xín Mân, tỉnh Hà Giang đã phát hiện và ghi nhận được 209 loài cây thuốc thuộc 183 chi của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch.
Tập Danh lục cây thuốc huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang cũng sẽ gồm tổng số 209 loài. Các loài cây thuốc trong danh lục được biên soạn lần lượt theo vần ABC tên phổ thông. Thông tin đối với mỗi loài cây thuốc ở Phụ lục 1 gồm: Tên cây thuốc: + Tên thông dụng, tên theo tiếng địa phương (nếu có), +Tên khoa học (đã điều chỉnh hợp Danh pháp) + Họ thực vật. Công dụng và bộ phận dùng: Về công dụng và bộ phận dùng ghi nhận theo các tài liệu về cây thuốc Việt Nam và kinh nghiệm của nhân dân địa phương đã thu thập được trong quá trình điều tra nghiên cứu ở huyện Xín Mần.
Dạng cây: Ở đây không nghiên cứu Dạng sống mà đơn giản chỉ ghi nhận về Dạng cây: Là cây gỗ, cây bụi, cây thảo cỏ/thân thảo (gồm cả dạng cây 1 năm và nhiều năm), dây leo (dây leo thảo và dây leo gỗ). Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của tập danh lục - Tập Danh lục là kết quả khoa học quan trọng nhất của đề tài điều tra, nghiên cứu, thu thập về cây thuốc ở huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang. Thông qua tập Danh lục, trước hết cho biết về tính đa dạng và phong phú của nguồn tài nguyên cây thuốc của huyện Xín Mần. Đó là sự đa dạng và phong phú về số lượng loài, về thành phần chủng loại (các nhóm cây, sự phong phú về các bậc taxon.), về dạng sống, về các bộ phận dùng và nhất là về giá trị làm thuốc của chúng.
Hầu hết các cây thuốc được sử dụng theo kinh nghiệm, để chữa trị nhiều loại chứng bệnh thông thường mắc phải. Một số loài là nguyên liệu chiết xuất hoạt chất, trong công nghiệp dược (Bình vôi, Cỏ cứt lợn, Hy thiêm. Vài loài khác có giá trị xuất khẩu cao (Bình vôi, Đậu khấu, Thiên niên kiện, Cẩu tích. Tập Danh lục là tài liệu có thể sử dụng để giảng dạy, nghiên cứu và tham khảo về tài nguyên cây thuốc huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang, cũng như ở Việt Nam.
25 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ý nghĩa thực tiễn: Tập Danh lục này khác với loại Danh sách cây thuốc (List of medicinal plants) chỉ liệt kê tên các loài cây thuốc. Mặc dù tập Danh lục được xây dựng dưới dạng bảng, song mỗi loài lại đề cập được các thông tin cơ bản về cây thuốc (Catalogue). Bởi vậy, đây là tài liệu giúp cho các thầy thuốc y học cổ truyền (bao gồm cả các Ông lang Bà mế), nhận biết thêm các cây thuốc sẵn có tại địa phương để sử dụng. Nhiều loài có cách dùng đơn giản, an toàn nên có thể biên soạn lại, để hướng dẫn rộng rãi trong nhân dân.
Tính đa dạng của nguồn tài nguyên cây thuốc ở huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang * Đa dạng về các bậc taxona - Ở bậc Ngành (Phyta) Trong số 209 loài cây thuốc đã ghi nhận được thuộc hầu như tất cả các ngành thực vật bậc cao có mạch đã biết ở Việt Nam. Trong đó có nhiều loài nhất là ở ngành Ngọc lan (Magnoliophyta): 195 loài (≈ 93,30 % so với tổng số loài cây thuốc đã biết), thuộc 171 chi, 105 họ; các ngành còn lại chiếm tỷ lệ rất thấp: ngành Dương xỉ (Polypodiophyta): 6 loài (≈ 2,87 % so với tổng số loài cây thuốc đã biết), thuộc 6 chi, 5 họ; ngành Thông (Pinophyta) 4 loài (1,91%), thuộc 3 chi và 2 họ; ngành Thông đất (Lycopodiophyta): 2 loài (0,96%), thuộc 2 chi, 1 họ. Các ngành Mộc tặc (Equisetophyta) ghi nhận được 2 loài (0,96%) thuộc 1 chi và 1 họ. Trong số 195 loài cây thuốc trong ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) cho thấy, lớp Ngọc lan / lớp Hai lá mầm (Magnoliopsida /Dicotyledon) chiếm ưu thế với 147 loài (≈ 75,39 % so với tổng số loài cây thuốc đã biết), thuộc 137 chi, 90 họ; lớp Hành/lớp Một lá mầm (Liliopsida/Monocotyledon) có 48 loài (24,61% so với tổng số loài cây thuốc đã biết), thuộc 34 chi và 15 họ.
Cây thuốc là thực vật Hai lá mầm ở huyện Xín Mần có số lượng loài nhiều hơn ở lớp Một lá mầm, cũng như đối với tất cả các Ngành có các loài làm thuốc kể trên. 26 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Loài Odontosoria Loài Equisetum diffusum Loài Calocedrus chinensis (L. Don thuộc ngành Cỏ macrolepis Kurz thuộc ngành Dương xỉ - tháp bút - Equisetophyta ngành Thông - Pinophyta Polypodiophyta Loài Loài Fallopia multiflora Loài Curcuma longa L.) Haraldson thuộc lớp Hai thuộc lớp Một lá mầm - Pic. Serm thuộc ngành lá mầm - Magnoliopsida Liliopsida Thông đất – Lycopodiophyta Hình 3.
Một số loài cây thuốc đại diện các ngành thực vật 27 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Ở bậc Họ (Family): Trong số 209 loài thực vật làm thuốc đã ghi nhận được thuộc 183 chi và 114 họ, đã thống kê được 12 họ giàu loài có từ 4 đến 10 loài (Bảng 3. Các họ thực vật có nhiều cây thuốc STT Họ thực vật Số loài 1 Orchidaceae 10 2 Zingiberaceae 9 3 Asteraceae 8 4 Araceae 7 5 Rubiaceae 6 6 Euphorbiaceae 5 7 Araliaceae 5 8 Myrsinaceae 5 9 Lauraceae 4 10 Piperaceae 4 11 Verbenaceae 4 12 Aristolochiaceae 4 Tổng số 72 Trong số 12 họ giàu loài chiếm 34,45% tổng số loài ghi nhận được, Họ Lan (Orchidaceae) có số loài nhiều nhất (10 loài). Các cây thuốc thuộc họ Lan có giá trị kinh tế cao và đa phần nằm trong danh sách cây cần được bảo tồn như: Lan kim tuyến tím (Anoectochilus roxburghii (Wall.), Lan kim tuyến xanh (Anoectochilus setaceus Blume)…. Họ Gừng (Zingiberaceae) đứng thứ hai (9 loài) với đa phần là các loài cây thảo và cây bụi làm thuốc phổ biến như: các loài Thảo đậu khấu nam (Alpinia spp.), Sa nhân (Amomum spp.), Nghệ (Curcuma spp.
28 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Một số họ giàu loài có các cây thuốc vừa có giá trị khai thác, sử dụng lại vừa có giá trị về mặt bảo tồn như họ Nhân sâm với 5 loài thì có 2 loài quý hiếm là Sâm vũ diệp (Panax bipinnatifidum Seem.) và Tam thất hoang (Panax stipuleanatus Tsai & Feng). Họ Ráy với 7 loài trong đó có 1 loài có khả năng khai thác là: Thiên niên kiện (Homalomena occulta (Lour.) Schott) Số còn lại 102 họ, mỗi họ mới chỉ ghi nhận được từ 1 đến 3 loài cây thuốc. Trong số này, một số họ mặc dù chỉ có vài loài, nhưng lại là những cây thuốc được sử dụng phổ biến trong Y học cổ truyền. Ví dụ: họ Cẩu tích (Dicksoniaceae): 1 loài là Cẩu tích (Dicksonia barometz); họ Bách bộ (Stemonaceae): 1 loài là cây Bách bộ (Stemona tuberosa); họ Mã đề (Plantaginaceae): 2 loài Mã đề (Plantago major) và Mã đề á (Plantago asiatica); họ Bầu bí (Cucurbitaceae): có loài Dền toòng / Giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum) … Đây là những cây thuốc có giá trị sử dụng và kinh tế cao ở tỉnh Hà Giang.
- Ở bậc Chi (Genus): Bảng 3.