MỞ ĐẦU Việt Nam thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng với độ ẩm cao, có nguồn tài nguyên sinh quyển phong phú, đặc biệt có nhiều loài thực vật quí hiếm. Theo ước tính từ 2022, của cục thông tin khoa học và công nghệ quốc gia, nước ta có khoảng 10.000 loài thực vật bậc cao có mạch, 600 loài Nấm, 800 loài Rêu, trên 2000 loài Tảo, tổng số loài cây được sử dụng làm thuốc đã biết ở nước ta đã lên tới hơn 5. Nguồn dược liệu Việt Nam có tiềm năng và có giá trị cao trong phòng và chữa trị bệnh. Các cây thuốc đã và đang được sử dụng dưới nhiều hình thức, đơn độc hoặc kết hợp tạo nên nhiều bài thuốc cổ đang tồn tại và phát triển mạnh mẽ.
Xu hướng trở về với thiên nhiên nhằm tìm kiếm các nguồn nguyên liệu từ tự nhiên như là cây thuốc, động vật làm thuốc có các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học cao nhằm tận dụng và phát triển các loại thuốc hiệu quả, kinh tế, an toàn có chất lượng cao nhằm phục vụ cộng đồng và xã hội ngày càng được cả giới khoa học trong nước và quốc tế quan tâm. Đặc biệt các thảo dược luôn là đối tượng nghiên cứu đầy tiềm năng để các nhà khoa học đi sâu tìm hiểu. Với mục tiêu định hướng cho việc ứng dụng để tìm ra các loại dược chất mới để chữa trị nhiều căn bệnh đang thách thức giới y học. Các hợp chất tự nhiên của sinh vật, thực vật thể hiện nhiều hoạt tính sinh học đặc biệt như là: chống viêm, diệt khuẩn, ức chế nấm, chống ung thư, kháng virus, điều hòa miễn dịch, chống sốt rét, chống oxy hóa, … do đó, nghiên cứu các thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của thực vật có ý nghĩa khoa học và thực tế lớn [2], [3].
Cây Râu dê hay còn gọi là Cỏ đuôi chồn [4], có tên khoa học là Aruncus dioicus (Walter) Fernald, thuộc chi Aruncus, phân họ Mơ trân châu (Spiraeoideae), họ Hoa hồng (Rosaceae). Chồi non của loài thực vật này được ghi nhận có công dụng diệt khuẩn, cầm máu, kháng khuẩn ,… và đôi khi được sử dụng như thực phẩm tương tự măng tây. Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về loài Râu dê thuộc chi Aruncus như là về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của nó. Ở Việt Nam, cây Râu dê được dùng trong dân gian để điều trị các căn bệnh như chữa đái vàng, đái mủ trắng, đái đường, viêm gan vàng da, cảm mạo nhiệt độ cao, sốt, viêm gan hoàng đản.
Trong một số nghiên cứu 2 mới đây, một số hợp chất được phân lập từ cặn chiết n-hexan của các phần trên mặt đất của cây Râu dê tại đảo Ulleungdo (Hàn Quốc) có tác dụng ức chế một số tế bào ung thư và có hoạt tính chống oxy hóa rất cao. Cây Râu dê (Aruncus dioicus) từ trong y học cổ truyền phương Tây và tại vùng Đông Bắc Hàn Quốc, Nhật Bản biết đến là một dược liệu quý sử dụng rất nhiều trong các bài thuốc dân gian để điều trị các bệnh viêm nhiễm, sốt nóng, đau bụng, cầm máu trong sinh nở … Các nghiên cứu về cây và quả của nó đã được các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới quan tâm nghiên cứu từ rất lâu, tuy nhiên tại Việt Nam do điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng nên việc trồng và khai thác, sử dụng loài thực vật này vẫn còn hạn chế. Vì vậy, các nghiên cứu ở Việt Nam về cây Râu dê còn hạn chế. Đặc biệt, các công trình khoa học đã đánh giá về hoạt tính sinh học của cây này như khả năng hạ đường huyết, tác dụng ức chế enzyme PTP1B và α-Glucosidase, tuy nhiên số lượng còn hạn chế và đặc biệt là chưa từng được thực hiện ở Việt Nam.
Vì vậy, tôi thực hiện đề tài: “Tìm kiếm các chất có hoạt tính hạ đường huyết từ loài Râu dê (Aruncus dioicus) ở Việt Nam.’’ để làm rõ hơn về thành phần hóa học và có định hướng nghiên cứu sâu hơn tác dụng sinh học của loài này. Từ đó, có thể đưa vào khai thác và sử dụng một cách hợp lý nguồn dược liệu sẵn có trong nước để tạo ra các sản phẩm mang lại giá trị kinh tế cao. Mục tiêu đề tài - Tìm hiểu về cây Râu dê, các phương pháp xử lý mẫu, chiết cao tổng và các cao phân đoạn. - Nghiên cứu thành phần hóa học: sử dụng các kỹ thuật sắc ký khác nhau để phân lập và xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất bằng các phương pháp phổ.
- Đánh giá hoạt tính ức chế enzyme PTP1B và α-Glucosidase của các hợp chất sạch đã phân lập được. 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. GIỚI THIỆU SƠ LƢỢC VỀ HỌ ROSACEAE. Họ Hoa hồng (Rosaceae), thuộc ngành Magnoliophyta, lớp Magnoliopsida, bộ Rosales với khoảng 2000 - 4000 loài trong đó có 90 - 120 chi [5].
Tại Việt Nam công nhận 115 chi, 3000 loài. Hầu hết các loài thuộc họ Hoa hồng đều là cây bụi leo, lá đơn hay lá kép. Hoa đều, lưỡng tính. Quả kép hay quả hạch đơn [6].
Hiện nay, Rosaceae được chia làm 4 phân họ chính là Rosoideae, Spiraeoideae, Maloideae, Amygdaloideae [7], [8]. - Phân họ Rosoideae: gồm các chi có quả nhỏ, là dạng quả tròn cứng hay quả hạch nhỏ và thường có phần cùi thịt quả, cuống mang các lá noãn. - Phân họ Spiraeoideae: gồm các chi với quả không có cùi bao gồm Spiraea và Sorbaria [5]. - Phân họ Maloideae: gồm các chi với quả bao gồm 5 lá noãn, trong dày cùi thịt, bao quanh bằng mô cuống kín [5].
- Phân họ Amygdaloideae: gồm các chi với quả là quả hạch đơn [5]. GIỚI THIỆU PHÂN HỌ SPIRAEOIDEAE. Phân họ Spiraeoideae (Mơ trân châu) là một phân họ tương đối lớn thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae) [9]. Cây thân bụi, một số loài là thân thảo.
Các chi Aruncus và Sorbaria thì có lá kép hình giống lông chim. Chưa có thông tin chính xác về nguồn gốc của phân họ Mơ trân châu. Có một số loài được xác định có nguồn gốc ở Trung Quốc và Nhật Bản. Ở Việt Nam, hoa mơ trân châu không được trồng phổ biến do khí hậu.
Tuy nhiên, ở nước ngoài loại hoa này lại được trồng rất phổ biến vì vẻ đẹp của nó.3 GIỚI THIỆU VỀ CHI ARUNCUS. Aruncus là chi có cây mọc thành cụm, thân thảo lâu năm thuộc họ Rosaceae trong nhóm Thực vật hạt kín [10]. Có khoảng 15 loài được biết đến thuộc chi Aruncus nhưng chỉ có 4 loài được chấp nhận, trong đó chỉ có Aruncus dioicus (Râu dê) được coi là loài duy nhất thuộc chi này còn 3 loài còn lại được biết đến như có sự tương đồng chỉ khác nhau tên gọi. - Aruncus dioicus (Râu dê) xuất hiện ở các vùng có khí hậu mát mẻ của châu Âu, châu Á và Bắc Mỹ.
4 - Aruncus gombalanus (Râu dê Vân Nam) xuất hiện ở vùng núi phía tây bắc Vân Nam và giáp Tây Tạng. - Aruncus sylvester (Râu dê châu Á) gồm các loại phổ biến ở châu Á.4 GIỚI THIỆU VỀ CÂY RÂU DÊ - ARUNCUS DIOICUS. Tên gọi: Râu dê (còn gọi là cỏ đuôi chồn, râu quai nón), có tên khoa học Aruncus dioicus (Walter) Fernald, tên đồng nghĩa Aruncus gombalanus (Hand. Ban đầu tên gọi của loài thực vật này được gọi là Linnaeus Spiraea.
Theo gợi ý của Adanson những cái tên đã được thay đổi như hiện nay [13]. Trong một số văn bản được lưu giữ từ trước vẫn sử dụng các tên cũ của loài thực vật này. Vì vậy, có thể sử dụng đồng thời tên Aruncus dioicus (Walter) Fernald và các tên đồng nghĩa.1: Hình ảnh một cây Râu dê trưởng thành [11]. Mô tả: Râu dê có tập tính mọc thành cụm, có răng, lá hình bầu dục.
Cụm hoa rất lớn và phần cuối có một cuống dài khoảng 30 cm, về cuối là những bông hoa nhỏ màu trắng [14]. Cây râu dê có thể trồng vào mùa xuân hoặc mùa thu, tốc độ sinh trưởng vừa phải [12]. Thời kỳ ra hoa trong khoảng từ tháng 6 đến tháng 7. Cây trưởng thành có thể cao tới 1,8 mét và có các lá kép hình kim tuyến có thể dài đến 50 cm [14].
Đặc điểm hình thái học: Rễ: Rễ được phát triển từ thân rễ. Thân cây: Thân rễ là loại thân gỗ, màu nâu. 5 Lá: Lá dài, cuống lá dày và mọc thành cụm tạo lực nâng đỡ các cụm hoa [15]. Cụm hoa: Cụm hoa lớn và bông đều, cụm rủ thành chùm.
Những bông hoa trắng - kem, nhỏ. Đài hoa đơn giản: các lá đài nhọn (dài 0,5 mm) trong khi các cánh hoa hình trứng và dài 1–2 mm. Quả: Quả là những quả nang nhỏ hình cầu, có rãnh mở và không có lông.2: Quả và hoa cây Râu dê [15]. Môi trƣờng sống và thu hái: Môi trường sống lý tưởng của loài thực vật này là những khu rừng có độ ẩm cao, những hẻm núi ẩm ướt và trên hết là những vùng đất đá vôi và những khu vực ít nắng.
Chồi non của cây có thể ăn được và được sử dụng tương tự măng tây. Đặc biệt là những chồi non mùa xuân có rất nhiều tác dụng như chống oxy hóa, giảm mỡ máu và hỗ trợ giảm lượng đường trong máu đối với bệnh nhân tiểu đường type II. Vào mùa hè, cây tạo ra các chất có độc tính như Glycoside Cyanogenic nên không thể ăn được nữa [16]. Tính vị và công năng: Râu dê có đặc tính khai vị, làm se và đặc biệt là thuốc bổ.
Theo y học dân gian, nó được sử dụng để hạ sốt, thuốc bổ, long đờm và làm se [16]. Trong thực tế, từ thời cổ đại, rễ của nó đã được nghiền nhỏ thành bột, và sau đó được sử dụng để chữa trị cho vết chích ong bắp cày. Nó cũng đã được sử dụng để cầm máu sau khi sinh con và đặc biệt là điều trị đau dạ dày và tiêu chảy [14]. Ngoài ra, loại thảo dược này cũng có giá trị điều trị trong việc điều trị các bệnh thiếu máu cục bộ, thoái hóa não, cũng như chứng nhiễm độc và chống viêm.
Cây này sở hữu nhiều tác dụng như chống oxy hóa, tác dụng chống tiểu đường, và chống AIDS. Mầm khô của loại cây này được dùng làm thực phẩm và các bộ phận trên không để điều trị giải độc và viêm amidan [16]. Chúng còn được phát hiện có tác dụng chống tăng sinh 6 trên ba dòng tế bào ung thư bao gồm: tế bào ung thư vú ở người, tế bào ung thư biểu mô cổ tử cung, tế bào bạch cầu nguyên bào nuôi ở người.5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ VỀ RÂU DÊ.