CHƯƠNG I ĐẠI CƯƠNG VỀ DƯỢC LIỆU MỤC TIÊU 1. Trình bày được định nghĩa, lịch sử của nền y học thế giới và trong nước, gắn với môn học. Trình bày được vị trí của dược liệu trong nghành Y tế và trong nền kinh tế quốc dân. Phân tích được kỹ thuật thu hái, phơi sấy, chế biến, bảo quản dược liệu 4.
Áp dụng được các phương pháp đánh giá để đánh giá một số dược liệu. Định nghĩa môn học Dược liệu học là môn học nghiên cứu về sinh học và hoá học những nguyên liệu dùng làm thuốc có nguồn gốc thực vật và động vật. Nội dung môn học sẽ cung cấp cho sinh viên những kiến thức bao gồm nguồn gốc, thành phần hoá học, vi phẫu, tác dụng và công dụng của dược liệu; chủ yếu là xác định được, chất lượng và hướng dẫn sử dụng dược liệu. Dược liệu dùng có thể là tất cả các bộ phận của cây, con hoặc chỉ một vài bộ phận.
Những chất chiết ra từ cây con như tinh dầu, dầu mỡ, nhựa, sáp cũng thuộc phạm vi dược liệu; theo quan niệm hiện nay thì môn dược liệu không chỉ nghiên cứu nguyên liệu thô mà nghiên cứu cả những tinh chất chiết ra từ dược liệu. Ví dụ: Hoa hoè và Rutin; Ba gạc và Reserpin. Là một trong những môn học chuyên môn, môn dược liệu có liên quan đến những môn học khác như: thực vật, hoá hữu cơ, hoá phân tích, dược lý, do đó học sinh cần nắm chắc kiến thức của các môn học trên khi học môn dược liệu. Lịch sử môn dược liệu Vào thời kỳ tiền sử, con người phải kiếm cây cỏ và động vật hoang dại để làm thức ăn, qua chọn lọc và thử thách, con người dần dần xác định được thực vật, động vật nào ăn được hoặc không ăn được; tác dụng chữa bệnh của một số thực vật hoặc động vật cũng được tình cờ phát hiện rồi kinh nghiệm được tích luỹ dần.
Theo tài liệu cổ cho biết khoảng 5000 năm trước công nguyên (TCN) người Babilon đã biết tác dụng của nhiều cây, con làm thuốc. Theo tài liệu tìm được trong 3 ngôi mộ cổ ướp xác viết vào năm 1550 TCN thì người Ai cập thời đại xưa đã có trình độ cao về ướp xác và biết dùng nhiều cây và con dùng làm thuốc. Tên tuổi của một số thầy thuốc Hy lạp cổ được lịch sử ghi lại. Hippocrat (460-370 TCN) được coi là tổ sư của nghành y dược, ngoài công trình giải phẫu sinh lý, ông còn biết sử dụng hơn 200 cây thuốc.
Lời tuyên thệ “Hippocrat” ngày nay phản ánh sự quý trọng đối với người thầy thuốc Hy lạp đó. Aristot (384-370 TCN) và học trò của ông là Theophrat (370-287 TCN) đều là các nhà khoa học tự nhiên nổi tiếng những tài liệu này được ứng dụng nhiều trong lĩnh vực nghiên cứu động vật - thực vật. Dioscorid một nhà nghiên cứu về dược liệu sống vào thế kỷ thứ nhất trước công nguyên đã viết tập sách “Dược liệu học” vào năm 78 TCN, ông đã mô tả hàng ngàn cây có tác dụng chữa bệnh, trong đó có nhiều cây còn sử dụng cho y học hiện đại ngày nay. Còn có rất nhiều những người khác sống ở thời đó đến nay vẫn được tôn trọng coi là bậc tiền bối của nghành dược học.
Với nền y học phương Đông, phải kể đến nền y học Trung Quốc, vào thời kỳ Hoàng đế (2637 TCN) đã có sách nói về phương pháp chữa bệnh theo nguyên lý đông phương đó là cuốn “Nội kinh”. Tuy vậy, phải đến năm 1596 cuốn sách mới thực sự được công nhận có giá trị khoa học đó là “Bản thảo cương mục” của Lý Thời Trân biên soạn (1518 – 1593). Dân tộc Việt Nam cũng có lịch sử về y dược học lâu đời, vào khoảng 4000 năm TCN, thần nông * đã dạy cho dân sử dụng các loại ngũ cốc, thực phẩm và biết phân biệt các loại cây cỏ có tác dụng chữa bệnh. (* Thần nông của người Việt cổ dạy dân trồng lúa nước (ông là vị thần của cư dân phương Nam) là tổ tiên của vua Hùng.
Thần nông sinh ra Đế Minh, Đế Minh sinh ra Kinh Dương Vương, Kinh Dương Vương sinh ra Lạc Long Quân, Lạc Long Quân sinh ra Vua Hùng.) Vào thời kỳ Hồng Bàng (2879 TCN), Tổ tiên ta đã biết kết hợp một số dược liệu (vỏ lựu, ngũ bội tử, cánh kiến) để nhuộm răng, đã có tập tục nhai trầu (Trầu, cau, vôi) để bảo vệ răng và da dẻ hồng hào, biết uống chè vối cho dễ tiêu, dùng gừng hành, tỏi để làm gia vị và phòng bệnh. Dưới thời Nam Việt Giao chỉ, nhiều vị thuốc đã được phát hiện: Cau, Ý dĩ, Long nhãn, vải, gừng, quế, trầm hương, sử quân tử, cánh kiến, mật ong, sừng tê giác. Dưới thời Bắc thuộc, (207 TCN đến 905 TCN) người Trung Quốc đô hộ thường bắt cống nạp các loại thuốc quý hiếm đem về nước họ và cũng trong thời kỳ này ta giao lưu với Trung Quốc. 4 Dưới triều Ngô – Đinh – Lê – Lý, ta đã có nhiều thầy thuốc chuyên nghiệp chữa bệnh cho dân và trong triều đình đã có tổ chức Thái y Viện, để chăm lo sức khoẻ cho hoàng gia các vị danh y có tiếng vào đời Lý là Từ Đạo Hạnh - Nguyễn Minh Không.
Đến thế kỷ thứ 14 dưới đời nhà Trần (1225-1399) nền y dược học nước ta mới được phát triển. Có mở khoa thi tuyển lựa lương y, viện Thái y tổ chức đi thu thập cây thuốc và trồng thuốc. Dưới đây là những danh y có nhiều cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ nhân dân và xây dựng nền y dược học Việt nam. Dưới triều Trần Anh Tông (1293-1313) có Phạm Công Bàu ngoài nhiệm vụ ở viện Thái y về nhà còn chữa bệnh cho dân đã cứu sống được cho rất nhiều người, ông đề cao tinh thần trách nhiệm với tính mạng người bệnh, không phân biệt sang hèn; bệnh nguy chữa trước, tận tuỵ phục vụ bệnh nhân, không quản ngại khó khăn ông đã để lại tấm gương sang cho nền y học nước nhà.
Dưới đời Trần Dụ Tông (1391) có Chu Văn An là một danh nho nổi tiếng đồng thời cũng là một vị danh y. Ông biên soạn cuốn “Y học yếu giải tập chú di biên” thâu tóm các nguyên nhân của bệnh, phân tích cơ chế bệnh lý với phương pháp chẩn đoán và biện chứng luận trị, trong đó có ý thức tổ chức, lập bệnh án và phổ biến kinh nghiệm. Sau khi tổng kết chữa khỏi trên 700 bệnh nhân, ông là người nghiên cứu để xây dựng cơ bản cho nền y học của nước ta. Tuệ Tĩnh, tên là Nguyễn Bá Tĩnh, quê ở Huyện Cẩm Giàng, Tỉnh Hải Dương.
Theo DS Trương Xuân Nam thì ông sinh vào năm 1330 mồ côi cha mẹ lúc 6 tuổi được các nhà sư nuôi cho ăn học (ở chùa Hắc Triều) Năm 22 tuổi ông thi đậu Thái học (tiến sĩ) không ra làm quan, ông ở chùa đi tu với mục đích làm từ thiện và chữa bệnh giúp dân. Năm 1385, ông bị bắt đi sang sứ nhà Minh ở Trung Quốc, ông chữa bệnh cho Tống Vương Phi ( vợ vua Minh) khỏi bệnh sản hậu nên được phong là đại y thiền sư. Ông mất ở Trung Quốc không rõ năm nào. Khi còn ở trong nước, Tuệ Tĩnh nghiên cứu cây cỏ Việt nam, sưu tầm những bài thuốc giản dị thường dùng trong dân gian, kết hợp kinh nghiệm trị bệnh của Trung y xây dựng sự nghiệp có tính dân tộc sáng tạo trong thời kỳ thuốc bắc thịnh hành, ông để lại hai tác phẩm có giá trị là “Hồng nghĩa giác tự y thư” và “Nam dược thần hiệu”.
Tư tưởng chỉ đạo của Tuệ Tĩnh về đường hướng y học là “Nam dược trị nam nhân” nghĩa là Dùng thuốc Nam chữa bệnh cho người Nam Việt. Tóm lại, Tuệ Tĩnh là một đại danh y đã mở đường xây dựng nền y dược học dân tộc của nước ta. Dưới thời nhà Minh đô hộ (1400-1427) có chủ trương đồng hoá dân tộc ta nên thời kỳ này không có trước tác y học. Những thế kỷ sau lại có nhiều danh y xuất hiện, 5 Thể kỷ 15 có Phan Phù Tiên, Nguyễn Trực.
Thế kỷ 16 có Hoàng Đơn Hoà Thế kỷ 17 có Lê Đức Vọng, Nguyễn Đạo An, Bùi Công Chính, Lý Công Tuân. Thế kỷ 18 có Nguyễn Quỳnh, Ngô Lâm Đáp, Trịnh Đình Ngạn,, Hải Thượng Lãn Ông trong đó Hải Thượng Lãn Ông là một đại danh y của nước ta. Hải Thượng Lãn Ông (1720-1791) tên thực là Lê Hữu Trác sinh ra tại thôn Vân Xá, lạng Liên Xá, Phủ Thượng Hồng, Tỉnh Hải Dương. Ông là một người nổi tiếng là học giỏi thông minh văn thơ lỗi lạc.
Song sống dưới thời vua Lê chúa Trịnh, ông chán ghét chiến tranh, viện cớ về Hương Sơn nuôi mẹ. Vốn là người thông minh học rộng, đọc sách thuốc ông thấy say mê và thấy làm nghề y là thiết thực lợi cho mình và giúp ích cho đời nên ông quyết chí học nghề thuốc. Sau mấy chục năm đúc kết kinh nghiệm thực tiễn nghiên cứu sâu rộng kinh điển trung y kết hợp với y học cổ truyền dân tộc, ông biên soạn trong 26 năm bộ sách thuốc Việt Nam “Hải Thượng y tôn tâm lĩnh” 28 tập gồm 66 quyển. Trước tác của ông được dùng để dạy y học và còn dùng phục vụ chữa bệnh cho người dân đương thời.
Ông đã phát huy chủ trương “Thuốc Nam chữa bệnh cho người Nam” của Tuệ Tĩnh; sưu tầm nhiều vị thuốc mới phổ biến cho nhân dân để mọi người tự chữa bệnh thông thường với cây nhà lá vườn sẵn có. Hải Thượng Lãn Ông đã trở thành nhà y học nổi tiếng của dân tộc ta. Nêu cao đạo đức của người thầy thuốc soi sáng cho y học nước nhà với quan điểm nhân đạo và thực tế đã được nhân dân coi là “Đại y tôn của Việt Nam”. Dưới thời Tây Sơn (1788-1802) vì chiến tranh liên miên, tình hình y dược học ít được đổi mới, nổi lên có tiến sĩ Nguyễn Gia Phan biên soạn cuốn “ Liệu dịch phương pháp toàn tập”.
Danh y Nguyễn Quang Tuân biên soạn cuốn “La khê phương dược” gồm 13 cuốn và cuốn “Kim ngọc quyển” viết bằng chữ Nôm ghi nhiều phương thuốc gia truyền. Dưới triều Nguyễn, có Trần Nguyệt Phương viết cuốn “Nam Bang thảo mộc”, trong đó viết nhiều cây thuốc sử dụng theo kinh nghiệm. Dưới thời Pháp thuộc (1885-1945) thực dân Pháp tổ chức nền y tế theo lối Tây y thay thế Đông y, tuy vậy thời kỳ này có nhiều tập sách có giá trị. Ngoài tác giả người Việt, các tác giả người Pháp cũng có biên soạn một số sách viết về cây thuốc ở Đông Dương như: A.
petolot biên soạn cuốn “Những cây thuốc của Campuchia, Lào và Việt Nam”.