Giáo trình Điều dưỡng Ngoại khoa Cao đẳng Y tế Ninh Bình - Phòng mổ và các vấn đề liên quan

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình
225
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo trình điều dưỡng ngoại khoa

Giáo trình điều dưỡng ngoại khoa là tài liệu giảng dạy chính quy được biên soạn dựa trên chương trình khung đào tạo điều dưỡng của Bộ Y tế. Giáo trình cung cấp kiến thức cơ bản và hệ thống về chăm sóc người bệnh ngoại khoa, từ chuẩn bị trước mổ đến theo dõi sau phẫu thuật. Nội dung được xây dựng theo phương châm chính xác, khoa học, cập nhật các tiến bộ kỹ thuật hiện đại phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Giáo trình đã được Hội đồng chuyên môn thẩm định và Bộ Y tế ban hành làm tài liệu dạy học đạt chuẩn chuyên môn. Tại Trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình, giáo trình này đóng vai trò then chốt trong đào tạo điều dưỡng viên có đủ năng lực thực hành chăm sóc ngoại khoa. Tài liệu được chỉnh lý, bổ sung định kỳ 3 đến 5 năm một lần để đảm bảo tính thời sự và chất lượng đào tạo.

1.1. Mục tiêu đào tạo của giáo trình

Giáo trình điều dưỡng ngoại khoa hướng đến ba mục tiêu đào tạo cốt lõi. Thứ nhất, người học phải trình bày được khái niệm tiệt khuẩn, vô khuẩn và các yêu cầu của phòng mổ. Thứ hai, sinh viên nắm vững nguyên tắc vô khuẩn ngoại khoa, nguyên tắc về sức khỏe và quần áo nhân viên y tế trong phòng mổ. Thứ ba, giáo trình trang bị kiến thức về chức năng, nhiệm vụ cụ thể của điều dưỡng phòng mổ. Các mục tiêu này đảm bảo sinh viên sau tốt nghiệp có khả năng thực hành chăm sóc ngoại khoa an toàn và hiệu quả.

1.2. Cấu trúc nội dung giáo trình

Giáo trình được biên soạn theo cấu trúc bài học rõ ràng, logic. Phần đầu giới thiệu về phòng mổ và những vấn đề liên quan đến điều dưỡng, bao gồm khái niệm tiệt khuẩn, vô khuẩn và nguyên tắc chống nhiễm trùng. Các bài tiếp theo trình bày quy trình chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật, kỹ thuật chăm sóc trong và sau mổ. Mỗi bài đều có phần mục tiêu cụ thể, nội dung kiến thức và hướng dẫn thực hành. Cấu trúc này giúp sinh viên tiếp cận kiến thức từ tổng quan đến chi tiết, từ lý thuyết đến ứng dụng thực tế.

II. Các vấn đề cốt lõi trong điều dưỡng ngoại khoa

Điều dưỡng ngoại khoa đối mặt với nhiều vấn đề quan trọng đòi hỏi kiến thức chuyên môn vững chắc. Nhiễm trùng sau phẫu thuật là thách thức lớn nhất, khi trước đây tỷ lệ nhiễm trùng lên đến 30-40% và hiện nay đã giảm xuống còn 1-5% nhờ áp dụng nguyên tắc vô khuẩn nghiêm ngặt. Việc chuẩn bị người bệnh phẫu thuật bao gồm nhiều bước phức tạp như thụt tháo, thông đái, kiểm tra dấu hiệu sinh tồn và đảm bảo hồ sơ bệnh án đầy đủ. Đối với phẫu thuật cấp cứu, công tác chuẩn bị phải tranh thủ từng phút trong điều kiện người bệnh thường trong tình trạng nặng. Nhận định tình trạng người bệnh trước và sau mổ đòi hỏi điều dưỡng viên có khả năng đánh giá toàn diện về tinh thần, dấu hiệu sinh tồn, tình trạng đau bụng, nôn và các triệu chứng khác.

2.1. Vấn đề nhiễm trùng trong phẫu thuật

Nhiễm trùng sau mổ là vấn đề nghiêm trọng nhất trong ngoại khoa. Trước khi phát minh ra nguyên tắc vô khuẩn của Lister và kháng sinh, tỷ lệ nhiễm trùng rất cao. Hiện nay việc áp dụng tiệt khuẩn bằng biện pháp vật lý như nhiệt độ, áp suất, tia phóng xạ và các chất hóa học đã giảm đáng kể nguy cơ này. Vô khuẩn được định nghĩa là tình trạng trên bất kỳ điểm nào của vật đều không có vi khuẩn. Cần phòng ngừa nhiễm trùng bằng cách không cho vi khuẩn xâm nhập vào vùng mổ thông qua dụng cụ, vật liệu và môi trường không khí.

2.2. Thách thức trong chuẩn bị phẫu thuật cấp cứu

Phẫu thuật cấp cứu đặt ra thách thức lớn cho công tác chuẩn bị vì phải tranh thủ từng phút, từng giờ. Người bệnh thường trong tình trạng nặng, công tác chuẩn bị không thể đạt yêu cầu hoàn chỉnh. Tuy nhiên vẫn phải đảm bảo tối thiểu các yêu cầu cần thiết. Hồi sức ngay bằng truyền máu, truyền dịch, thở oxy, hút dạ dày và chống sốc. Theo dõi mạch, huyết áp, nhiệt độ, nhịp thở và ghi đầy đủ vào hồ sơ. Các xét nghiệm cơ bản cần được thực hiện nhanh chóng. Làm các xét nghiệm cơ bản: số lượng hồng cầu, bạch cầu.

III. Phương pháp đào tạo điều dưỡng ngoại khoa hiệu quả

Phương pháp đào tạo điều dưỡng ngoại khoa tại các trường cao đẳng y tế cần kết hợp giữa lý thuyết và thực hành. Giáo trình cung cấp nền tảng kiến thức về nguyên tắc vô khuẩn, cấu trúc phòng mổ và quy trình chăm sóc người bệnh. Phương pháp giảng dạy nên sử dụng tình huống lâm sàng thực tế để sinh viên rèn luyện kỹ năng nhận định tình trạng người bệnh. Việc thực hành tại phòng mổ mô phỏng giúp sinh viên làm quen với môi trường làm việc thực tế. Đánh giá kết quả học tập cần dựa trên cả kiến thức lý thuyết và kỹ năng thực hành. Phương châm đào tạo phải hướng đến việc xây dựng đội ngũ điều dưỡng viên có kiến thức cơ bản hệ thống, nội dung chính xác khoa học và khả năng cập nhật tiến bộ kỹ thuật hiện đại.

3.1. Phương pháp giảng dạy lý thuyết

Giảng dạy lý thuyết điều dưỡng ngoại khoa cần bám sát nội dung giáo trình đã được Bộ Y tế thẩm định. Phương pháp giảng bài kết hợp với thảo luận nhóm giúp sinh viên hiểu sâu các khái niệm tiệt khuẩn, vô khuẩn và nguyên tắc phòng mổ. Sử dụng hình ảnh, video minh họa về cấu trúc phòng mổ và quy trình phẫu thuật tăng hiệu quả tiếp thu. Bài tập tình huống về nhận định người bệnh trước và sau mổ rèn luyện tư duy lâm sàng. Giáo viên cần cập nhật thường xuyên các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới trong giảng dạy.

3.2. Phương pháp thực hành lâm sàng

Thực hành lâm sàng là phần quan trọng không thể thiếu trong đào tạo điều dưỡng ngoại khoa. Sinh viên cần được thực tập tại phòng mổ để nắm vững quy trình vô khuẩn, cách chuẩn bị dụng cụ và hỗ trợ phẫu thuật viên. Kỹ năng kiểm tra dấu hiệu sinh tồn, ghi chép hồ sơ bệnh án và theo dõi người bệnh sau mổ được rèn luyện qua thực tế. Thực hành chuẩn bị người bệnh phẫu thuật bao gồm thụt tháo, thông đái và chuyển người bệnh lên phòng mổ. Sinh viên cũng cần học cách nhận định tình trạng người bệnh cấp cứu như viêm phúc mạc, hoại tử ruột.

IV. Ứng dụng giáo trình trong đào tạo tại Ninh Bình

Tại Trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình, giáo trình điều dưỡng ngoại khoa được ứng dụng rộng rãi trong chương trình đào tạo điều dưỡng viên. Giáo trình giúp sinh viên nắm vững kiến thức về phòng mổ, nguyên tắc vô khuẩn và quy trình chăm sóc người bệnh phẫu thuật. Ứng dụng thực tế bao gồm chuẩn bị người bệnh trước mổ như thụt bằng dung dịch mặn đẳng trương khi phẫu thuật 3-4 giờ, thông đái vô khuẩn trước mổ 1 giờ và cho uống thuốc an thần trước khi ngủ. Sau phẫu thuật, điều dưỡng viên phải theo dõi sát tình trạng người bệnh, nhận định vết mổ, lưu thông tiêu hóa và số lượng nước tiểu. Giáo trình cũng hướng dẫn cách chăm sóc người bệnh có nguy cơ sốc, đau bụng dữ dội, sốt cao và suy hô hấp. Việc áp dụng giáo trình đạt chuẩn giúp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực y tế cho tỉnh Ninh Bình.

4.1. Chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật

Chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật là quy trình quan trọng được giáo trình hướng dẫn chi tiết. Điều dưỡng phải kiểm tra lại dấu hiệu sinh tồn gồm huyết áp, mạch, nhiệt độ, nhịp thở và ghi vào hồ sơ bệnh án. Người bệnh được đeo bảng tên, thay quần áo theo quy định. Thụt bằng dung dịch mặn đẳng trương khi phẫu thuật kéo dài 3-4 giờ. Thông đái vô khuẩn trước mổ 1 giờ. Trước khi ngủ cho người bệnh uống thuốc an thần. Khi chuyển lên phòng mổ phải dùng cáng, giữ ấm trong vận chuyển và bàn giao cho điều dưỡng phòng mổ.

4.2. Theo dõi và chăm sóc sau phẫu thuật

Theo dõi sau phẫu thuật đòi hỏi điều dưỡng viên có kỹ năng nhận định toàn diện. Cần kiểm tra người bệnh đã tỉnh chưa, có dấu hiệu mất nước hoặc nhiễm trùng nhiễm độc không. Nhận định vết mổ xem có chảy máu hoặc nhiễm khuẩn. Theo dõi lưu thông tiêu hóa qua việc người bệnh đã trung tiện, đại tiện chưa. Quan sát bụng trướng hay xẹp và số lượng nước tiểu. Các vấn đề cần chăm sóc bao gồm người bệnh có sốc, đau bụng dữ dội liên tục, sốt cao, nguy cơ trướng bụng và suy hô hấp. Lập kế hoạch chăm sóc trước và sau mổ là nhiệm vụ cốt lõi.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

LỜI GIỚI THIỆU Thực hiện một số điều của Luật Giáo dục, Bộ Y tế đã ban hành chương trình khung đào tạo điều dưỡng trung cấp. Bộ Y tế tổ chức biên soạn tài liệu dạy – học các môn cơ sở và chuyên môn theo chương trình trên nhằm từng bước xây dựng bộ sách đạt chuẩn chuyên môn trong công tác đào tạo nhân lực y tế. Sách Điều dưỡng ngoại khoa được biên soạn dựa trên chương trình giáo dục Điều dưỡng trung cấp của Bộ Y tế và chương trình khung đã được phê duyệt. Sách được nhóm tác giả biên soạn theo phương châm: kiến thức cơ bản, hệ thống; nội dung chính xác, khoa học; cập nhật các tiến bộ khoa học, kỹ thuật hiện đại và thực tiễn Việt Nam. Sách Điều dưỡng ngoại khoa đã được Hội đồng chuyên môn thẩm định sách và tài liệu dạy – học trung cấp và dạy nghề của Bộ Y tế thẩm định vào năm 2008. Bộ Y tế quyết định ban hành tài liệu dạy – học đạt chuẩn chuyên môn của ngành trong giai đoạn hiện nay. Trong thời gian từ 3 đến 5 năm, sách phải được chỉnh lý, bổ sung và cập nhật. Chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp của đồng nghiệp, các bạn sinh viên và độc giả để lần xuất bản sau sách được hoàn thiện hơn. 1 Bài 1 PHÒNG MỔ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN NGƯỜI ĐIỀU DƯỠNG MỤC TIÊU 1. Trình bày được khái niệm tiệt khuẩn, vô khuẩn và yêu cầu của phòng mổ. Nêu được nguyên tắc vô khuẩn ngoại khoa, nguyên tắc về sức khỏe, quần áo của nhân viên y tế trong phòng mổ và cách bảo đảm vô khuẩn phòng mổ. Trình bày được chức năng, nhiệm vụ của điều dưỡng phòng mổ. PHÒNG MỔ 1.1 Mở đầu Phòng mổ là phương tiện chính của quá trình điều trị ngoại khoa, người điều dưỡng khi tiếp xúc với phòng mổ cần biết cấu trúc phòng mổ. Tổ chức và xây dựng phòng mổ, khâu then chốt phải chú ý là vấn đề chống nhiễm trùng và tạo điều kiện phát huy kỹ thuật phẫu thuật được tốt nhất. Phòng mổ 1. Khái niệm tiệt khuẩn và vô khuẩn 1. Tình trạng nhiễm khuẩn - Trước khi có phát minh của Pasteur tìm ra vi khuẩn và nguyên tắc vô khuẩn, tiệt khuẩn của Lister trong phòng mổ và nhất là phát minh ra kháng sinh, tỷ lệ nhiễm trùng sau mổ là 30- 40%. - Trong thời gian gần đây tỷ lệ nhiễm trùng nói chung giảm xuống còn 1-5%. Tiệt khuẩn Là tiêu diệt vi khuẩn bằng các biện pháp vật lý (nhiệt độ, áp suất, tia phóng xạ…) và các chất hoá học để biến một dụng cụ hoặc vật liệu có nhiễm khuẩn thành vô khuẩn. Vô khuẩn - Một vật được gọi là vô khuẩn khi trên bất kỳ điểm nào của vật đó cho dù vật đó ở thể đặc, thể lỏng hay thể khí đều không có vi khuẩn. - Cần phòng ngừa nhiễm trùng bằng cách không để cho các dụng cụ, vật liệu, môi trường không khí xung quanh có vi khuẩn xâm nhập vào vùng mổ. - Hai khái niệm vô khuẩn và tiệt khuẩn gắn bó chặt chẽ với nhau, muốn có vô khuẩn thì cần phải làm tốt công tác tiệt khuẩn. Một số nguyên tắc chung của phòng mổ - Hiện nay chưa có mô hình chuẩn về phòng mổ cho tất cả các nước, bởi vì xây và tổ chức một khu mổ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như yêu cầu của việc điều trị, trình độ kỹ thuật trang thiết bị được cung cấp…, đặc biệt là vấn đề tài chính. Trong y tế, việc đầu tư cho ngoại khoa là một trong những đầu tư rất tốn kém. 2 - Tuy nhiên, người ta đã thống nhất được một số nguyên tắc chung cho dù khu mổ xây dựng to hay nhỏ, hiện đại hay thô sơ. Các nguyên tắc chung đó là: + Phòng mổ phải xa nơi nhiễm khuẩn. + Phòng mổ phải được thông gió một cách thuận lợi, dễ dàng và đầy đủ, đồng thời thuận lợi cho việc cọ rửa trần và sàn nhà. + Phòng mổ phải có hệ thống thông gió, nhiệt độ, độ ẩm tốt và thích hợp. + Phòng mổ phải được cung cấp đầy đủ ánh sáng tự nhiên và ánh sáng nhân tạo tốt. Các yêu cầu cụ thể 1.Vị trí - Phòng mổ xây ở nơi cao ráo, thoáng khí, có ánh sáng tự nhiên, xa các buồng bệnh và nguồn ô nhiễm khác. Nếu do quy mô nhỏ phải xây dựng cùng một khối nhà thì cửa phòng mổ không hướng về phía buồng điều trị để tránh các luồng khí từ phía buồng điều trị tràn vào. - Thể tích buồng mổ là 100m3 (dài 6m, rộng 5m, cao 3,5m), tường và sàn nhà lát bằng gạch men, góc tường cần xây tròn hoặc tù để tiện cho vệ sinh. Cần có hai lần cửa để ngăn luồng khí từ ngoài tràn vào phòng mổ, việc khép mở tự động là tốt nhất để ngăn bụi. - Đường ra vào phòng mổ tốt nhất là một chiều. - Khu nhà mổ phải cách biệt với khu điều trị, đảm bảo yên lặng, tránh các lối đi lại nhiều, đem bụi và vi khuẩn vào phòng mổ. - Khu nhà mổ nên ở trung tâm của bệnh viện (nếu là bệnh viện ngoại khoa), hoặc ở trung tâm của khoa ngoại (nếu là bệnh viện đa khoa) và được nối với các khoa phòng bằng các hành lang để tiện việc di chuyển người bệnh. Số lượng buồng mổ - Tuỳ thuộc vào quy mô của khu mổ: khu mổ phục vụ cho một bệnh viện chuyên khoa ngoại, hoặc chỉ là một khoa ngoại của một bệnh viện đa khoa hoặc chỉ là các chuyên khoa hẹp. + Một khu mổ nhỏ nhất cũng cần phải xây dựng 2 phòng mổ là phòng mổ vô trùng và phòng mổ hữu trùng. + Phòng mổ cho các bệnh viện ngoại khoa cần có các phòng mổ chuyên biệt theo từng chuyên khoa như phòng mổ tim, phòng mổ gan mật… + Phòng để học sinh thực tập và người xem mổ qua vô tuyến hoặc xem qua lồng kính ở phía trên bàn mổ để hạn chế số người vào xem mổ trực tiếp. - Các phòng khác của khu mổ gồm có: phòng rửa tay trước khi mổ, phòng lau chùi các dụng cụ sau mổ, phòng tiệt khuẩn các dụng cụ kim loại hoặc đồ vải, phòng chuẩn bị cho gây mê (phòng tiền mê), phòng thường trực cho cấp cứu, phòng riêng cho điều dưỡng nam và nữ, phòng bác sĩ, kho để dự trữ các vật liệu tiêu hao hằng ngày hoặc bảo quản các dụng cụ kim loại dự trữ chưa dùng hoặc bị hỏng chuẩn bị trả lại cho bệnh viện. 3 Ngoài ra còn có phòng hồi sức tập trung sau mổ để hồi sức những trường hợp người bệnh nặng hoặc để hồi sức người bệnh trong 24 giờ đầu. Phòng hồi sức có từ 6 đến 12 giường. Thông khí - Việc thay đổi không khí trong phòng mổ là rất quan trọng vì không khí bẩn là nguồn ô nhiễm nhất. Nếu đặt một đĩa có môi trường nuôi vi khuẩn thì sau 45 phút có 14 khuẩn lạc mọc trên đĩa là không khí buồng mổ không được lọc nếu không khí buồng mổ được lọc thì sau 63 phút chỉ có 7 khuẩn lạc mọc trên đĩa. - Qua nghiên cứu cho thấy, muốn giải quyết tốt vô khuẩn không khí trong buồng mổ phải tạo một áp lực mạnh đi từ trần nhà xuống sàn nhà để ngăn không cho không khí bẩn từ sàn nhà bay ngược lên bàn mổ. - Muốn cho không khí phòng mổ được vô khuẩn thì ngoài các biện pháp thông khí cần phải hạn chế tới mức tối đa người ra vào và hạn chế tới mức tối thiểu việc mở cửa phòng mổ, vì việc ra vào và mở cửa có tác dụng lay động làm cho luồng khí từ ngoài tràn vào phòng mổ. - Sau buổi mổ, khi làm vệ sinh xong còn phải bật đèn cực tím di khắp phòng, để lâu đèn cực tím ở nơi nghi nhiễm khuẩn nhiều như bàn mổ, nền nhà quanh bàn mổ… 1. Nguồn ánh sáng - Cần cung cấp đủ nguồn sáng cho kíp mổ làm việc, ngoài ánh sáng tự nhiên qua các cửa kính, buồng mổ cần ánh sáng nhân tạo. Ánh sáng nhân tạo gồm: + Ánh sáng khuếch tán qua các bóng đèn có vỏ quả cầu mờ hoặc các đèn neon. + Tập trung đèn trần hoặc đèn chiếu lưu động chiếu vào chính giữa vùng mổ. Các đèn được cấu trúc để ánh sáng tụ lại và không tạo thành bóng mờ, cần nắm chắc các nút để điều chỉnh cho thích hợp. Tốt nhất là dùng các đèn treo trên trần nhà, các phẫu thuật viên có thể tự điều chỉnh theo yêu cầu của phẫu thuật qua các tay nắm đã được khử khuẩn. Nhiệt độ và độ ẩm Nhiệt độ và độ ẩm trong buồng mổ có ảnh hưởng nhiều đến không những người bệnh mà cả kíp mổ. Buồng mổ cần nhiệt độ từ 18 - 200, và độ ẩm 60 - 65%, tốt nhất là trang bị máy điều hoà nhiệt độ cho cả mùa nóng cũng như mùa lạnh để giữ nhiệt độ hằng định như trên. Nước rửa tay trước khi mổ Dùng nước đun sôi để nguội, hoặc dùng nước máy qua màng lọc 0,2 micro được tiệt trùng là giải pháp tốt nhất. Khi lọc tiệt trùng thì phải thường xuyên bảo dưỡng các hệ thống lọc, nếu không sẽ mất tác dụng lọc tiệt trùng. Trang bị trong phòng mổ - Hạn chế tối thiểu các đồ dùng để trong phòng mổ, vật gì cần thiết mới đặt trong phòng mổ; phòng mổ càng trống rỗng càng vô khuẩn tốt. - Những đồ đặt trong phòng mổ là: 4 + Bàn mổ vạn năng, dùng dễ dàng cho tất cả các phẫu thuật ngoại khoa. + Bàn con để dụng cụ mổ: 2 – 3 chiếc. + Tủ thuốc cấp cứu thiết yếu dùng gây mê hồi sức. + Bàn con để dụng cụ gây mê hồi sức. + Giá để các hộp hấp dụng cụ vô khuẩn. + Ghế tròn có xoáy ốc. + Cột treo chai dung dịch để truyền. + Đèn chiếu di động có bánh xe. + Có thể có hệ thống oxy trung tâm, máy hút gắn ngầm trong tường. + Toàn bộ hệ thống điện nằm ngầm trong tường. - Một số dụng cụ để ngoài phòng mổ, khi cần mới mang vào như bình oxy, tủ thuốc, máy hút dịch, dao điện, máy đốt điện. Những nguyên tắc về sức khỏe và quần áo trong buồng mổ đối với nhân viên y tế - Sức khỏe là vấn đề cốt yếu đối với mọi người trong phòng mổ. Cảm lạnh, đau họng và nhiễm khuẩn ngón tay là những nguồn vi sinh vật lây bệnh. Một loạt nhiễm khuẩn vết thương ở người bệnh sau mổ được phát hiện là do một trường hợp viêm họng nhẹ của y tá phòng mổ, do vậy khi ốm nhẹ cần phải được báo cáo ngay.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ