Chương 1. CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH VIÊM TAI GIỮA,. 5 VIÊM TAI XƯƠNG CHŨM VÀ BIẾN CHỨNG. CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH VIÊM MŨI XOANG,.
CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH VIÊM HỌNG – AMIDAN. CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH VIÊM THANH QUẢN. CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH. 56 DỊ VẬT ĐƯỜNG THỞ VÀ DỊ VẬT THỰC QUẢN.
CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH CHẤN THƯƠNG TAI MŨI HỌNG. 72 Chương 2: RĂNG HÀM MẶT. CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH SÂU RĂNG,. 85 VIÊM TỦY, VIÊM QUANH CUỐNG RĂNG.
CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH VIÊM LỢI - VIÊM QUANH RĂNG. CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH NHỔ RĂNG. CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH CHẤN THƯƠNG VÙNG HÀM MẶT. CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH VIÊM NHIỄM VÙNG HÀM MẶT.
CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH VIÊM KẾT MẠC. CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH VIÊM LOÉT GIÁC MẠC. CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH VIÊM MỐNG MẮT. CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH GLÔCÔM GÓC ĐÓNG CƠN CẤP.
CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH ĐỤC THUỶ TINH THỂ. CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH CHẤN THƯƠNG - BỎNG MẮT. TAI MŨI HỌNG Bài 1. CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH VIÊM TAI GIỮA, VIÊM TAI XƯƠNG CHŨM VÀ BIẾN CHỨNG MỤC TIÊU 1.
Trình bày và phân tích được nguyên nhân, triệu chứng, hướng điều trị và cách phòng bệnh viêm tai giữa, viêm tai xương chũm. Mô tả được các biến chứng nội sọ do tai. Trình bày và phân tích được kế hoạch chăm sóc người bệnh viêm tai giữa, viêm tai xương chũm hoặc có biến chứng nội sọ do tai. Sơ lược giải phẫu, sinh lý tai 1.
Nhắc lại giải phẫu tai Tai gồm có 3 phần: tai ngoài, tai giữa và tai trong. Tai ngoài gồm có vành tai và ống tai ngoài. Tai giữa gồm có hòm nhĩ, vòi nhĩ và xương chũm. Hòm nhĩ giống như một cái hộp có 6 mặt.
Bộ phận chủ yếu trong hòm nhĩ là tiểu cốt (chuỗi xương con) gồm có xương búa, xương đe và xương bàn đạp. Ba xương khớp với nhau thành chuỗi xương con. Các xương này được treo vào thượng nhĩ bằng các dây chằng. Các thành hòm nhĩ: Mặt ngoài: là màng nhĩ ngăn cách tai ngoài và tai giữa.
Màng nhĩ hình bầu dục lõm ở giữa như cái nón, đỉnh nón là rốn nhĩ. Màng nhĩ có 2 phần: phần trên là màng trùng Shrapnell hình tam giác chiếm 1/4, phần dưới là màng căng hình tròn chiếm 3/4. Ranh giới giữa hai phần là dây chằng nhĩ búa trước và sau. Khi chiếu đèn, nón sáng Politzer hình tam giác được tạo thành.
Phân khu: Kẻ 1 đường đi qua cán xương búa, đường 2 vuông góc đi qua rốn nhĩ chia màng nhĩ thành 4 khu: trước trên, trước dưới, sau trên và sau dưới.Khu sau dưới là nơi chích màng nhĩ khi hòm nhĩ ứ mủ. Màng mỏng Shrapnell 2. Nón sáng Politzer Hình 1. Hình soi màng nhĩ Thành dưới: là đáy nhĩ, thấp hơn ống tai ngoài 2-3 mm, liên quan đến vịnh tĩnh mạch cảnh trong và dây IX, X, XI (lỗ rách sau).
Thành trước: ở giữa và dưới có lỗ vòi nhĩ. Thành sau: liên quan với xương chũm. Vòi nhĩ : là một cái ống dài độ 35mm, đi từ thành trước hòm nhĩ đến thành bên của họng mũi. Vòi nhĩ tận cùng ở thành bên họng mũi bằng một cái loa hình dấu mũ gọi là loa vòi.
Xương chũm: trong xương chũm có nhiều hốc rỗng gọi là tế bào. Có một tế bào lớn nhất gọi là sào bào. Sào bào thông với hòm nhĩ bằng một cái ống gọi là sào đạo. Quá trình viêm từ hòm nhĩ có thể lan vào sào bào đến khối xương chũm.Mặt trong sau xương chũm có tĩnh mạch bên (dẫn lưu máu từ nội sọ về tĩnh mạch cảnh trong).
Phía dưới là tường dây VII dầy 2 mm ngăn cách hòm nhĩ và sào bào. Trong tường có cống Falôp và đoạn 3 dây VII. Tai trong gồm mê nhĩ xương và mê nhĩ màng: Mê nhĩ xương là những hốc xương có cấu trúc rất đặc và cứng, khi bị vỡ không liền lại. Nó gồm có ba phần: ốc tai xương, tiền đình xương và các ống bán khuyên xương.
Ốc tai xương 2. Tiền đình xương 3. Ống bán khuyên ngoài 4. Ống bán khuyên sau 5.
Ống bán khuyên trên Hình 1. Mê nhĩ xương Mê nhĩ màng nằm trong mê nhĩ xương như thân ốc sên nằm trong vỏ ốc. Nó cũng gồm có ba phần: ốc tai màng, tiền đình màng và các ống bán khuyên màng. Giữa mê nhĩ xương và mê nhĩ màng có lớp dịch gọi là ngoại dịch.
Trong mê nhĩ màng có chất dịch thứ hai gọi là nội dịch. Trong ống ốc tai có nội dịch, có màng đáy, màng mái và màng nuôi. Trên màng đáy có bộ phận tiếp thu các rung động âm thanh là cơ quan Corti. Cơ quan Corti chứa đựng các tế bào thính giác (tế bào lông) và tế bào đệm, từ tế bào thính giác xuất phát các sợi thần kinh, tập hợp đi vào hạch xoắn, từ hạch xoắn hình thành dây thần kinh ốc tai.
Dây thần kinh: các nhánh dây thần kinh tiền đình và dây thần kinh ốc tai kết hợp thành dây thần kinh số VIII. Sinh lý tai Tai có hai chức năng chính: nghe và thăng bằng. Sinh lý nghe Tai ngoài: Vành tai định hướng và hứng các sóng âm trong không khí. Tai giữa: Màng nhĩ rung động tác động vào cán xương búa, qua chuỗi xương con chuyển âm thanh từ tai ngoài vào tai trong.
Tai trong: Những rung động cơ học đưa vào cửa sổ bầu dục và qua không khí tới cửa sổ tròn. Khi xương bàn đạp ấn vào cửa sổ bầu dục, ngoại dịch di chuyển tác động vào nội dịch qua màng đáy và màng Resne. Màng đáy rung động với các kích thích âm mà nó nhận được làm rung động các tế bào lông (cơ quan Corti). Những rung động cơ học sẽ biến đổi thành các xung thần kinh.
Các xung thần kinh này được dẫn truyền theo đường dây thần kinh đến vỏ não. Ở vỏ não sẽ diễn ra quá trình phân tích tổng hợp để có được cảm giác nghe. Chức năng thăng bằng Nhờ có hệ thống đảm bảo thăng bằng nên chúng ta mới không ngã dù ở tư thế tĩnh (ngồi, đứng) hay vận động (đi, chạy). Tai trong tham gia vào chức năng thăng bằng do các ống bán khuyên và tiền đình.
Các ống bán khuyên đảm bảo sự thăng bằng vận động còn tiền đình đảm bảo thăng bằng tĩnh tại. Đặc điểm tổn thương 1. Đặc điểm tổn thương của viêm tai giữa Bệnh tích chính là viêm niêm mạc hòm nhĩ: niêm mạc trở nên dày đỏ, chứa nhiều bạch cầu và tiết ra dịch rỉ viêm. Đồng thời niêm mạc của vòi Eustachie cũng bị viêm và nề làm cho sự thông thương của loa vòi bị hạn chế.
Niêm mạc của sào bào và các tế bào chũm cũng có thể bị viêm. Trong sào bào cũng có thể có mủ nhưng chỉ tổn thương ở niêm mạc. Khi người bệnh có viêm tai giữa mạn tính: Ở niêm mạc vòi nhĩ bị viêm mạn tính xuất tiết; niêm mạc hòm nhĩ bị thâm nhiễm bạch cầu, phù nề, dày lên nhất là ở thượng nhĩ; màng nhĩ có lỗ thủng ở góc phần tư trước dưới, lỗ thủng bờ nhẵn, không sát xương; niêm mạc ở sào bào và các tế bào chũm cũng có thể bị viêm làm cho sự phát triển của thông bào xương chũm ngừng trệ, thông bào thu hẹp. Đặc điểm tổn thương của viêm tai xương chũm Bệnh tích thường lan rộng khắp tế bào chũm.
Bệnh tích xương chủ yếu là viêm loãng xương, viêm tắc mạch máu xương. Các vách ngăn bị phá vỡ dần, các ổ mủ tập trung lại thành túi mủ. Đôi khi xương chết thành từng khối tạo thành xương mục. Lớp vỏ ngoài xương cũng bị thủng và mủ xuất ngoại dưới cốt mạc hoặc dưới da.
Mủ cũng có thể ăn mòn lớp vỏ trong của xương chũm và đổ vào nội sọ, ít thấy hiện tượng phản ứng xương hình thành một lớp đặc bao quanh ổ mủ Cholesteatome là loại bệnh tích đặc biệt phá hủy xương nhanh mạnh do tiết ra các enzym ly giải protein đặc biệt là acid photphatase, collagenase.Viêm tai giữa Do viêm mũi họng, xoang, V.A, vi khuẩn đi qua vòi nhĩ. Sau các bệnh: cúm, sởi, ho gà, bạch hầu. Các chấn thương ở tai gây rách màng nhĩ hoặc thay đổi áp suất đột ngột như đi máy bay, thợ lặn.Viêm tai xương chũm Do viêm tai giữa điều trị không tốt. Bệnh từ tai giữa vào sào đạo sào bào xương chũm.
Viêm tai giữa sau các bệnh nhiễm trùng nặng: sởi, cúm… Do cấu trúc giải phẫu: xương chũm được cấu tạo gồm nhiều thông bào nên dễ bị viêm. Viêm tai giữa 3. Viêm tai giữa cấp. Viêm tai giữa cấp là một tình trạng viêm cấp tính của tai giữa, tiến triển trong vòng ba tuần.
Triệu chứng thay đổi tuỳ theo nguyên nhân, lứa tuổi, thể trạng. Sau đây là thể điển hình thường gặp do viêm mũi họng ở trẻ nhỏ. Giai đoạn đầu (xung huyết) Trẻ đang bị viêm mũi họng với các triệu chứng: ngạt, chảy mũi, đau họng, ho. Sốt tăng lên (thường tới 400C), có cảm giác căng tức trong tai hay đau nhói.
Khám: màng nhĩ đỏ, mạch máu giãn dọc theo cán búa hoặc ở màng trùng. Giai đoạn ứ mủ Toàn thân: thể trạng nhiễm trùng: sốt cao, mệt mỏi. Trẻ dưới 12 tháng thường kèm theo ỉa chảy, quấy khóc. Cơ năng : Đau sâu trong tai ngày càng tăng, lan ra sau tai, thái dương.
Trẻ nhỏ khóc thét khi chạm vào tai đau;nghe kém tiếng trầm; thường có ù tai. Thực thể: màng nhĩ đục, phồng căng kiểu mặt kính đồng hồ hoặc khu trú ở một phần màng nhĩ như hình vú bò. Giai đoạn vỡ mủ: Mủ ứ nhiều tự vỡ hoặc do chích màng nhĩ. Triệu chứng toàn thân và cơ năng giảm rõ rệt: Giảm sốt, ỉa chảy thường giảm ngay; đau tai giảm dần, nghe khá lên, đỡ ù tai; chảy mủ tai loãng hay đặc không có mùi thối.
Thực thể: màng nhĩ có lỗ thủng tuỳ theo tự vỡ hay do chích. Viêm tai giữa mạn tính mủ Viêm tai giữa mạn tính mủ là một tình trạng chảy mủ tai mạn tính ( > 6 tuần) qua lỗ thủng màng nhĩ. Cơ năng: Người bệnh đau tai ít, thỉnh thoảng thấy nặng tai, nhức nửa đầu bên bệnh, nghe kém ngày càng tăng, ù tai từng lúc, tiếng trầm, chảy mủ tai là triệu chứng quan trọng nhất, chảy mủ tai kéo dài, từng đợt. Có hai loại mủ nhày và mủ thối.
Mủ nhày: mủ chảy ra nhày như mũi, kéo thành sợi, không tan trong nước, không thối, chảy nhiều sau chảy mũi. Mủ thối: mủ chảy ra có mùi thối, màu vàng hay trắng đục, có khi lẫn máu. Thực thể: lỗ thủng màng nhĩ có kích thước, vị trí khác nhau, sát hoặc không sát khung xương, có thể có sùi hay polip. Vị trí lỗ thủng màng nhĩ 3.