CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG (5LT-0TH) 1.1 Kĩ năng sống - Khái niệm kĩ năng: Kĩ năng là năng lực hay khả năng chuyên biệt của cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc nào đó phát sinh trong cuộc sống. Cần phân biệt kĩ năng và khả năng. Kĩ năng là khi con người làm một việc nào đó mang tính thành thạo, chuyên nghiệp. Để có kĩ năng phải trải qua rèn luyện mới có.
Còn khả năng là những tố chất thiên bẩm, mang tính có sẵn. Người có khả năng thì rèn luyện thành kĩ năng dễ dàng, đơn giản và nhanh hơn. Người không có khả năng về lĩnh vực nào đó mà muốn trở thành kĩ năng về lĩnh vực đó cần phải trải qua rèn luyện mới có. Người có kĩ năng về một hoạt động nào đó cần phải: + Có tri thức về hoạt động đó.
Ví dụ, muốn có kĩ năng giao tiếp trước hết phải hiểu biết về giao tiếp, nghệ thuật giao tiếp; muốn có kĩ năng ứng phó với stress phải có học cách chấp nhận, đương đầu với thử thách, sống tích cực. + Biết cách tiến hành hoạt động có hiệu quả. Ví dụ, trong giao tiếp thấy đối tượng mệt mỏi, liếc nhìn đồng hồ, trả lời cho qua chuyện thì ta nên kết thúc câu chuyện; s inh viên đi kiến tập không nên hỏi thu nhập của giáo viên; sinh viên đến thăm trẻ em ở Làng SOS không nên tò mò hỏi cha, mẹ em ở đâu, làm gì vì trẻ em ở đó không nơi nương tựa, mồ côi cha, mẹ. + Biết hành động có kết quả trong điều kiện mới.
Ví dụ, sinh viên đến thực tập tại cơ sở mới phải linh động, sáng tạo trong vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống. Như vậy để có kĩ năng con người cần trải qua quá trình rèn luyện lâu dài. Khi đạt được kĩ năng về một lĩnh vực, công việc nào đó sẽ cho ta kết quả khả quan. - Kĩ năng sống: Thuật ngữ kĩ năng sống được người Việt Nam biết đến bắt đầu từ chương trình của UNICEF (1996)- giáo dục kĩ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường.
4 Cho đến nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về kĩ năng sống. Mỗi quan niệm được diễn tả theo cách thức khác nhau. Theo Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO), Kĩ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hằng ngày. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Kĩ năng sống là những kĩ năng thiết thực mà con người cần để có cuộc sống an toàn , khỏe mạnh.
Đó là những kĩ năng mang tính tâm lí xã hội và kĩ năng về giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hằng ngày để tương tác một cách hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hằng ngày. Tuy diễn đạt về kĩ năng sống khác nhau nhưng giống nhau ở nội dung cơ bản đó là kĩ năng sống là những cách thức ứng xử, xử lý các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống một cách linh hoạt, mềm dẻo, có hiệu quả. Từ đó giúp con người xác lập được mối quan hệ tốt đẹp với mọi người xung quanh, hoàn thiện nhân cách của mình. Một cách khác, có thể tiếp cận khái niệm kĩ năng qua 4 trụ cột của giáo dục:Học để biết; Học để khẳng định bản thân; Học để chung sống; học để làm việc.
Kĩ năng sống có hiểu là: Kĩ năng học tập; kĩ năng làm chủ bản thân; kĩ năng thích ứng và hòa nhập với cuộc sống, kĩ năng làm việc. Kĩ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với người khác, xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống. Kĩ năng sống là nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi, thói quen tích cực. Người có kĩ năng sống là người có khả năng kiểm soát được các tình huống rủi ro giải quyết nó một cách hiệu quả.
Là người luôn bình tĩnh, khôn khéo, giải quyết các tình huống nảy sinh trong cuộc sống một linh hoạt có hiệu quả theo hướng tích cực. Người có kĩ năng sống bao giờ cũng có các kĩ năng giao tiếp tốt, kĩ năng đồng cảm, kĩ năng kiềm chế, tự kiểm soát, kĩ năng quyết đoán tự khẳng định. Như vậy, người có kĩ năng sống nó hàm chứa sự thông minh, sắc sảo, năng lực cảm hóa và tâm hồn hướng thiện. Người ta thường dùng hình ảnh cây cầu và dòng sông để diễn tả sự cần thiết của kĩ năng sống đối với con người.
Con người muốn sang được bến bờ thành công phải đi qua con sông đầy 5 thử thách, rủi ro. Khi đó kĩ năng sống như cây cầu giúp con người chuyển từ rủi ro, thách thức có kết quả mĩ mãn. Kĩ năng sống trở thành một trong những yếu tố quan trọng của nhân cách. Theo triết lý của Edgar Morlin thì mục tiêu của giáo dục là cần tạo ra những con người được rèn luyện tốt để chiếm lĩnh và làm chủ thế giới.
Ý nghĩa của cuộc sống không phải ở chỗ nó đem đến cho ta điều gì mà ở chỗ ta có thái độ đối với nó ra sao; không phải ở chỗ điều gì xảy ra với ta mà ở chỗ ta phản ứng với những điều đó như thế nào? Nếu con người có kiến thức, có thái độ tích cực mới đảm bảo 50% của sự thành công, 50% còn lại là những kĩ năng cần cho cuộc sống mà ta thường gọi là kĩ năng sống. Người có kĩ năng sống là người biết làm cho mình và người khác cùng hạnh phúc. Họ luôn yêu đời, làm chủ cuộc sống và thành công trong công việc. Kĩ năng sống góp phần thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội góp phần ngăn ngừa các vấn đề xã hội.
Người có kĩ năng sống sẽ xử lý các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống một cách tích cực, góp phần xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp và do vậy sẽ giảm bớt các tệ nạn xã hội, làm cho xã hội phát triển văn minh hơn, lành mạnh hơn.2 Giáo dục kĩ năng sống Giáo dục kỹ năng sống là một quá trình tác động sư phạm có mục đích, có kế hoạch nhằm hình thành năng lực hành động tích cực, có liên quan tới kiến thức và thái độ, giúp cá nhân có ý thức về bản thân, giao tiếp, quan hệ xã hội, thực hiện công việc, ứng phó hiệu quả với các yêu cầu thách thức của cuộc sống hàng ngày. Thực tế cho thấy, kĩ năng sống được hình thành bằng nhiều cách thức khác nhau tùy vào môi trường sống, môi trường giáo dục. Theo một số nghiên cứu cho thấy, các kỹ năng sống khác nhau theo địa lý, thời gian.ví dụ như trẻ em vùng biển thì có một số kỹ năng sống khác với trẻ em vùng núi, kỹ năng sống của trẻ em thành phố khác với kỹ năng sống trẻ em nông thôn, kỹ năng sống của trẻ em ngày xưa khác với kỹ năng sống trẻ em bây giờ. Tuy nhiên có thể thấy rất rõ ràng là kỹ năng sống luôn gắn bó với các giá trị.
Các giá trị sống đúng đắn là kết tinh được truyền lại như sự tôn trọng, sống trách nhiệm, yêu thương, sự tự tin, sự sáng tạo, lòng ham hiểu biết. Các giá trị này được truyền lại nhằm giáo dục giúp cho con người sống có chuẩn mực và góp phần vào sự tiến bộ của xã hội. 6 Định hướng của giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là giúp cho các em chủ bản thân, ứng xử phù hợp với cộng đồng và xã hội, thích nghi, học tập hiệu quả, nâng cao sức khỏe tinh thần và thể chất, ứng phó tích cực trong các tình huống của cuộc sống. Giáo dục kĩ năng sống là hướng đến thay đổi hành vi theo hướng tích cực.
Kĩ năng sống được xem là biểu hiện của chất lượng giáo dục, là một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực. Do đó, giáo dục kĩ năng sống trở thành mục tiêu, chiến lược giáo dục của các cơ sở đào tạo.2 Đặc điểm của công tác giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT 1.1 Đặc điểm phát triển tâm sinh lý của học sinh THPT Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT: Lứa tuổi học sinh THPT còn gọi là lứa tuổi thanh niên, là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào người lớn. Tuổi thanh niên được tính từ 15 đến 25 tuổi được chia thành hai thời kì: Thời kì 15 đến 18 tuổi gọi là thời kì đầu của thanh niên (THPT) Thời kì từ 18 đến 25 tuổi là thời kì hai của thanh niên (sinh viên). Thể chất: Cơ thể có sự phát triển cân đối hài hòa, có sức khỏe, có thể làm những công việc nặng nhọc của người lớn.
Các em bắt đầu chú ý nhiều hơn tới cơ thể của mình. Về tâm lí, có sự khác biệt giữa năm và nữ. Nam thích cảm giác mạnh, nữ yếu ớt, yểu điệu, nhẹ nhàng, khéo léo. Học sinh ở lứa tuổi này thường phát triển các mối quan hệ xã hội nhất là bạn bè.
Các em bắt đầu tự khẳng định mình trong tập thể, thể hiện cái tôi, bản sắc riêng. Các em hay bắt chước, hay thần tượng về một ai đó mà các em yêu thích. Về sự phát triển trí tuệ: Do cơ thể các em đã được hoàn thiện, đặc biệt là hệ thần kinh phát triển mạnh tạo điều kiện cho sự phát triển các năng lực trí tuệ. Cảm giác và tri giác của các em đã đạt tới mức độ của người lớn.
Trí nhớ của học sinh THPT cũng phát triển rõ rệt. Trí nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ. Các em đã biết sắp xếp lại tài liệu học tập theo một trật tự mới, có biện pháp ghi nhớ một cách khoa học. Có nghĩa là khi học bài các em đã biết rút ra những ý chính, đánh dấu lại những đoạn quan trọng, những ý trọng tâm, lập dàn 7 ý tóm tắt, lập bảng đối chiếu, so sánh.
Các em đã có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập và sáng tạo hơn. Năng lực phân tích, tổng hợ p, so sánh, trừu tượng hóa phát triển cao giúp cho các em có thể lĩnh hội mọi khái niệm phức tạp và trừu tượng.