MỞ ĐẦU Tên đề tài Một số giải pháp tăng cường giáo dục kĩ năng sống ở Trung tâm học tập cộng đồng 1. Thời gian thực hiện: - Từ tháng 4 năm 2005 đến tháng 12 năm 2006 2. Ly do chon dé tài và lịch sử vấn đề nghiên cứu Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay đem đến những cơ hội, vận hội mới nhưng cũng đặt ra không ít những thách thức, những cạnh tranh quyết liệt, những đòi hỏi, yêu cầu mới cho từng cộng đồng, quốc gia, dân tộc. Để đáp ứng những đòi hỏi, yêu cầu mới của thời đại, của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, giáo dục Việt Nam phải đào tạo tạo được một đội ngũ lao động mới, chất lượng cao.
Đó là những người lao động năng động, sáng tạo, có năng lực hành động có hiệu quả, có năng lực thích ứng cao với những thay đổi nhanh chóng trong cuộc sống, trong xã hội và trong sản xuất, có năng lực hợp tác, có năng lực tự học, học thường xuyên, học suốt đời và đặc biệt là có năng lực giải quyết vấn đề như NQTƯ 4 (khóa VI), NQTƯ 2 (khóa VI, NQTƯ 6 (khóa IX) đã nêu. Do đó, giáo dục cho người lao động hiện nay phải bao gồm một quá trình học để không những xóa mù chữ mà còn phát triển những kĩ năng cần thiết cho lao động, sản xuất, cho cuộc sống, phát triển khả năng suy luận, thể hiện hành vi tích cực, phát triển sáng tạo, khả năng linh hoạt và thích ứng. Vì vậy, GDKNS cho người lao động đã ngày càng trở nên quan trọng trong thời đại ngày nay. Nhận thức được tâm quan trọng của GDKNS, Đảng và Nhà nước chủ trương tăng cơ hội/mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng tất cả các chương trình giáo dục GDKCQ, trong đó có chương trình GDKNS.
Mục tiêu 2 của GDKCQ trong Kế hoạch GDCMN từ 2003-2015 được Thủ tướng chính phủ phê duyệt tháng 7/2003 đã khẳng định “Bảo đảm rằng tất cả người lớn, đặc biệt phụ nữ và các nhóm thiệt thời, được tiếp cận với các chương trình GDKNS có chất lượng. Chiến lược phát triển giáo dục 2001 — 2010 đặt mục tiêu cho GDKCQ từ nay đến 2010 là : “Phát triển GDKCQ như là một hình thức huy động tiềm năng của cộng đồng để xây dựng XHHT, tạo cơ hội cho mọi người, ở mọi trình độ, mọi lứa tuổi, mọi nơi có thể học tập suốt đời phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của mỗi cá nhân, góp phần nâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân lực. Tạo cơ hội cho đông đảo người lao động được tiếp tục học tập, được đào tạo lại, 10 được bôi dưỡng ngắn hạn, định kì và thường xuyên theo các chương trình giáo dục, các chương trình kỹ năng nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập hoặc chuyển đổi nghề nghiệp”. GDKNS ngày càng được quan tâm ở các nước trên thế giới và trong khu vực.
Mục tiêu 3 của Chương trình Hành động Daka về GDCMN đã kêu gọi các nước cam kết: “Đảm bảo cho tất cả trẻ em, các vị thành niên và người lớn Äược tiếp cận với chương trình kĩ năng sống phù hợp thông qua giáo dục chính quy và giáo dục không chính quy”. Mạng lưới TTHTCĐ xã, phường được thành lập với mục đích chủ yếu là cung cấp GDKNS cho mọi người dân ở cộng đồng. Tính đến nay, đã có trên 7000 TTHTCĐ được thành lập ở hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước. GDKNS là một trong những mục tiêu, nội dung quan trọng của các TTHTCĐ.
Các TTHTCĐ chỉ có thể tồn tại và phát triển bên vững khi GDKNS được coi trọng và tổ chức thực hiện có hiệu quả. GDKNS có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển bên vững của cộng đồng. Phát triển bền vững là sự cân đối, hài hòa giữa phát triển kinh tế, phát triển văn hóa xã hội và bảo vệ môi trường. Một cộng đồng chỉ phát triển kinh tế mà môi trường bị ô nhiễm, nhiều người bị bệnh tật suy dinh dưỡng, nhiều tệ nạn xã hội.thì không thể phát triển bền vững được.
GDKNS còn có vai trò quan trọng đối với từng người dân ở cộng đồng. Bởi hiện nay, người dân không chỉ có nhu cầu học chữ, học văn hóa hay học nghề. Người dân không chỉ có nhu cầu xóa đói, giảm nghèo mà còn muốn nâng cao chất lượng cuộc sống, muốn làm giàu. Người dân không thể nâng cao chất lượng cuộc sống và làm giàu nếu thiếu các kĩ năng cẩn thiết.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân việc triển khai GDKNS ở TTHTCĐ hiện nay còn nhiều hạn chế về quy mô và chất lượng. Những năm gân đây, Việt Nam đã bắt đầu nghiên cứu và triển khai thực hiện GDKNS trong GDCQ và GDKCOQ như: Chương trình “Giáo dục KNS trong giáo dục sức khỏe cho học sinh” (Vụ Thể chất, Bộ GD-ĐT, năm 1998); chương trình thực nghiệm “Giáo dục sống khỏe mạnh và KNS cho học sinh THCS” (Bộ GD-ĐT và UNICEE, năm 2003); chương trình “Giáo dục dân số và sức khỏe sinh sản vị thành niên thông qua hoạt động ngoại khóa trong nhà trường” (Bộ GD-ĐT và UNFPA, năm 2005);. Qua các chương trình trên cho thấy, hiện nay việc thực hiện GDKNS ở Việt Nam chủ yếu theo cách tiếp cận đơn lẻ, riêng rẽ các kĩ năng chung, kĩ năng cụ thể, kĩ năng biết chữ chứ chưa tích hợp cả ba loại kĩ năng vào một chương trình GDKNS. 11 Mặt khác, các chương trình này mới chỉ khái quát thực trạng và định hướng chung về phát triển GDKNS trong GDCQ và GDKCQ, chưa có những nghiên cứu cụ thể về thực trạng và hiệu quả triển khai GDKNS ở các TTHTCĐ.
Vì vậy, việc xác định thực trạng GDKNS ở TTHTCĐ để tìm ra các giải pháp tăng cường GDKNS ở TTHTCD là hết sức cần thiết và cấp bách. Mục tiêu nghiên cứu Đề xuất một số giải pháp tăng cường GDKNS ở TTHTCĐ 4. Đối tượng nghiên cứu Giải pháp tăng cường giáo dục kĩ năng sống ở TTHTCĐ 5. Phạm vi, giới hạn nghiên cứu của đề tài TTHTCPĐ là cơ sở giáo dục đa chức năng, thực hiện nhiều hoạt động giáo dục khác nhau như: Xoá mù chữ, Sau xoá mù chữ, Bổ túc văn hoá, GDKNS, thông tin tư vấn, phát triển cộng đồng.Tuy nhiên, trong giới hạn, phạm vi của mình, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số giải pháp tăng cường GDKNS ở TTHTCĐ.
Nội dung nghiên cứu 6. Nghiên cứu cơ sở lý luận: - Một số khái niệm liên quan (KNS, GDKNS, TTHTCĐ, GDTX, GDKCQ) - Xu thé phát triển GDKNS trong GDKCQ ở một số nước trong khu vực. -_ Chủ trương của Đảng và Nhà nước về GDKNS nói chung và GDKNS trong GDKCCQ nói riêng.Thực trạng GDKNS ở TTHTCĐ hiện nay - _ Một số kết quả của GDKNS 6 TTHTCD hiện nay. - _ Những thuận lợi khi tổ chức thực hiện GDKNS ở TTHTCĐ hiện nay.
- - Những khó khăn, hạn chế khi tổ chức thực hiện GDKNS ở TTHTCĐ và một số nguyên nhân. - _ Những biện pháp chủ yếu các tỉnh đã thực hiện để đẩy mạnh GDKNS ở TTHTCĐ 6. Một số giải pháp tăng cường GDKNS ở TTHTCĐ - Những căn cứ đề xuất giải pháp ~__ Một số giải pháp tăng cường GDKNS ở TTHTCĐ - Kết quả trưng cầu ý kiến CBQLGD và GV vẻ giải pháp tăng cường GDKNS ở TTHTCĐ 12 7. Phương pháp nghiên cứu Trong qua trình nghiên cứu, nhóm để tài đã sử dụng các phương pháp chủ yếu sau: 7.
Phương pháp nghiên cứu tư liệu/ hồi cứu tư liệu. Phương pháp điều tra 7. Phương pháp chuyên gia 3. Quá trình triển khai nghiên cứu Quá trình nghiên cứu được chia thành các giai đoạn sau: 8.
Từ tháng 4/2005 đến tháng 6/2005: nghiên cứu cơ sở lý luận Mục đích của việc nghiên cứu này giúp để tài có thêm cơ sở lý luận để nghiên cứu những giải pháp nhằm tăng cường GDKNS ở TTHTCĐ. Để đạt được mục đích trên, từ tháng 4/2005 đến tháng 6/2005 đề tài đã: e Nghiên cứu một số khái niệm liên quan đến đề tài như KNS, GDKNS, TTHTCĐ, GDTX, GDKCQ,. e© Nghiên cứu xu thế phát triển giáo dục kĩ năng sống trong Giáo dục không chính quy của một số nước trong khu vực e Nghiên cứu những chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về Giáo dục kĩ năng sống nói chủng và Giáo duc ki nang sống trong giáo dục không chính quy nói riêng. Từ tháng 7/2005 đến tháng 12/2005: Điều tra thực trạng giáo dục kĩ năng sống ở Trung tâm học tập cộng đồng hiện nay và viết báo cáo Mục đích điều tra, khảo sát: nhằm tìm hiểu thực trạng giáo dục kĩ năng sống ở TTHTCĐ hiện nay.
Nội dung điều tra, khảo sát: e Thực trạng GDKNS ở TTHTCPĐ hiện nay. e Những thuận lợi khi tổ chức thực hiện GDKNS ở TTHTCĐ e Những khó khăn, hạn chế khi tổ chức thực hiện GDKNS ở TTHTCĐ hiện nay và một số nguyên nhân se Những biện pháp chủ yếu các tỉnh đã thực hiện để đẩy mạnh GDKNS ở TTHTCPĐ và bài học kinh nghiệm. Để đạt được mục đích trên, từ tháng 7/ 2005 đến tháng 11/ 2005 đề tài đã tiến hành điều tra, khảo sát thực trạng GDKNS tại Tỉnh Lào Cai, Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Thái Bình, Sóc Trăng, Quãng Ngãi, Hà Nội và 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Đồng thời tiến hành nghiên cứu thực trạng GDKNS của một số tỉnh thông qua hồi cứu báo cáo, tư liệu.
13 Đối tượng điều tra, khảo sát: e_ Cán bộ lãnh đạo của một số sở GD- ĐT e_ Cán bộ quản lý giáo dục của các phòng GD- ĐT, TTGDTX tỉnh, huyện. e Lãnh đạo đảng, chính quyền cơ sở, đại diện các ban ngành của xã, Ban giám đốc TTHTCĐ. e GV, HDV ởcác TIHTCĐ - e HV hién đang theo học các lớp ở TTHTCĐ Phương pháp điều tra, khảo sát: e Diéu tra bằng “phiếu trưng cầu ý kiến" e Toa dam e_ Quan sát, dự giờ thăm lớp e_ Nghiên cứu văn bản (các kế hoạch hoạt động, báo cáo tổng kết của một số TTHTCPĐ và các bài soạn giảng của các GV/ HDV cộng đồng.) Kết quả điều tra: e Đã điều tra, khảo sát tại các tỉnh Hà Nội, Lào Cai, Vĩnh Phúc, Ninh Bình,Thái Bình, Sóc Trang, Quang Ngai. e_ Đã tiến hành toạ đàm với Cán bộ lãnh đạo của một số sở GD- DT, cán bộ quản lý giáo dục của các phòng GD- ĐT, TTGDTX tỉnh, huyện, lãnh đạo dang, chính quyền cơ sở, đại diện các ban ngành của xã, Ban giám đốc TTHTCĐ và một số GV, HDV ở các TIHTCĐ « Điều tra bằng phiếu được 210 người (bao gồm cán bộ quản lý và chỉ đạo GDTX, ban quản lý TTHTCĐ và các giáo viên, hướng dẫn viên) e Điều tra bằng phiếu được 180 học viên tham gia lớp học chuyên đề ở TTHTCD 8.