CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG THỦY SẢN SANG MỸ 1. Hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam 1. Vị trí của ngành thuỷ sản trong hệ thống các ngành của nền kinh tế quốc dân Thủy sản đóng vai trò to lớn trong thương mại nước ta. Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến vấn đề phát triển ngành thuỷ sản, coi ngành thuỷ sản là 1 ngành trọng điểm phát triển, coi công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông thôn là bước đi ban đầu quan trọng nhất, coi chuyển một bộ phận diện tích đất đai đang canh tác nông nghiệp và muối kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản là hướng đi chủ yếu của chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn (Nghị định 09 NQ-CP ngày 15-06-2000 của Chính phủ ) và có những chương trình, chính sách hỗ trợ rất lớn cho công việc chuyển đổi và phát triển ngành thuỷ sản trên toàn quốc.
Ngành thuỷ sản đã có một thời gian khá dài chuyển sang cơ chế kinh tế mới (khoảng 20 năm) của nền kinh tế hướng theo thị trường có sự quản lý của nhà nước, đã tạo được một nguồn nhân lực khá dồi dào trong tất cả mọi lĩnh vực từ khai thác chế biến, nuôi trồng đến thương mại. Trình độ nghiên cứu và áp dụng thực tiễn cũng đã tăng đáng kể. Hàng thuỷ sản liên tục giữ thế gia tăng và ổn định trên thị trường thực phẩm thế giới. Trong dự thảo Luật Thủy sản lần thứ 12 đã được Quốc hội thông qua ngày 11/11/2003 và sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2004, Đảng và Nhà nước ta đã xác định ngành Thuỷ sản là một ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân.
Cho thấy vị trí lớn và tầm quan trọng của ngành thủy sản trong phát triển nền kinh tế, nâng cao đời sống cho nhân dân. SV: Nguyễn Tiến Lữ Lớp: Kinh tế quốc tế 48A Chuyên đề thực tập 5 1. Lợi thế phát triển ngành thuỷ sản *Điều kiện tự nhiên Nước ta trải dài trên 13 độ vĩ bắc kề sát biển đông, bờ biển dài từ Móng Cái ( Quảng Ninh) tới Hà Tiên ( Kiên Giang) dài 3260 Km, với 112 cửa sông lạch, 12 cửa sông thềm lục địa có diện tích 2 triệu km 2, trong đó diện tích khai thác có hiệu quả 553. Biển nước ta gồm nội hải, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, cả quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa và hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ.
Riêng vùng đặc quyền kinh tế đã rộng gần 1 triệu Km2, gấp 3 lần diện tích đất liền. Bên cạnh đó, Biển Đông của ta là một vùng biển mở, thông với Đại Tây Dương (ở Nam Thái Bình Dương) và Ấn Độ Dương. Phần thềm lục địa phía Tây và Tây Nam nối liền đất liền của nước ta. Bờ biển Việt nam có trên 2000 loài cá trong đó có khoảng trên 100 loài là có giá trị kinh tế cao.
Trữ lượng cá biển trong vùng thềm lục địa khoảng trên 5 triệu tấn. Khả năng khai thác hàng năm khoảng 2,04 triệu tấn. * Điều kiện về lao động Lao động nghề cá của Việt nam có số lượng đông đảo (trên 4 triệu lao động nghề cá và 25 triệu cư dân ven biển trên cả nước). Đó là những lao động khéo tay, chăm chỉ, có thể tiếp thu nhanh chóng và áp dụng sáng tạo công nghệ tiên tiến.
Giá cả sức lao động của Việt Nam trong lĩnh vực thuỷ sản tương đối thấp so với khu vực và trên thế giới. Đây là một lợi thế cạnh tranh lớn của thủy sản Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, lao động thuỷ sản chủ yếu là lao động giản đơn, trình độ văn hoá thấp và phần lớn chưa được đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu phát triển mới. Do đó, để nâng cao sản lượng khai thác thuỷ sản thì việc nâng cao trình độ của ngư dân là thiết yếu.
SV: Nguyễn Tiến Lữ Lớp: Kinh tế quốc tế 48A Chuyên đề thực tập 6 * Các dịch vụ của ngành thủy sản Dịch vụ nuôi trồng thuỷ sản Bao gồm Hệ thống sản xuất giống thuỷ sản nước ngọt, Hệ thống sản xuất thức ăn… Nuôi trồng thủy sản có vai trò hết sức quan trọng đối với đời sống của một bộ phận nông dân nông thôn đặc biệt là những hộ sống ở vùng nông thôn nghèo, vùng sâu vùng xa. Nuôi trồng thủy sản đã góp phần tạo thêm nhiều việc làm, giúp các hộ dân sống ở nông thôn nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống. Dịch vụ hậu cần khai thác thuỷ sản + Cơ khí đóng sửa tàu thuyền: hiện có gần 1000 cơ sở với năng lực đóng mới 5000 chiếc/năm các loại tàu vỏ gỗ từ 400 CV trở xuống và các loại tàu vỏ sắt từ 250 CV trở xuống; năng lực sửa chữa 10000 chiếc/ năm. + Cơ sở bến cảng cá: có 98 bến cảng cá, trong đó 78 cảng thuộc vùng ven biển, 20 cảng trên tuyến đảo.
Tổng chiều dài bến cảng là 4878m. Số bến cảng cá đã đưa vào sử dụng là 56 cảng. Ngày 15/3/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 346/QĐ-TTg về việc phê duyệt quy hoạch hệ thống cảng cá, bến cá đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Phạm vi của quy hoạch này gồm 28 tỉnh, thành phố ven biển có cảng cá, bến cá dọc ven biển và tại các đảo.
Theo quy hoạch thì đến năm 2020 nước ta sẽ có 211 cảng cá và bến cá với tổng lượng thủy sản qua cảng và bến là 2. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện ưu đãi cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cảng cá, bến cá và các công trình phục vụ sản xuất, kinh doanh của cảng cá, bến cá; đẩy mạnh công tác xã hội hóa trong việc đầu tư và quản lý các bến cá, cảng cá. Trước mắt, đối với các bến cảng cá mới được đầu tư xây dựng từ ngân sách nhà nước, SV: Nguyễn Tiến Lữ Lớp: Kinh tế quốc tế 48A Chuyên đề thực tập 7 Nhà nước có chính sách cụ thể để thu hút doanh nghiệp tham gia quản lý, đầu tư xây dựng hoặc thuê lại cơ sở hạ tầng trên cảng cá để sản xuất kinh doanh, gắn với quản lý các bến cảng cá. Tổng nhu cầu vốn đầu tư cho các dự án cảng cá, bến cá đến năm 2020 là 8.000 tỷ đồng, được huy động từ nhiều nguồn như: ngân sách trung ương hỗ trợ, ngân sách địa phương, vốn của các thành phần kinh tế trong nước, vốn đầu tư, tài trợ từ nước ngoài.
Đây là những điều kiện hết sức thuận lợi giúp cho phát triển hệ thống cơ sở các bến cảng cá của Việt Nam, qua đó nâng cao năng suất và chất lượng các loại cá đánh bắt được. Đóng góp của ngành thuỷ sản đối với sự phát triển của nền kinh tế Thủy sản là một trong những thế mạnh của Việt Nam, có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nhanh nhất thế giới đạt 18%/năm giai đoạn 1998-2008. Theo số liệu thông kê của Tổng cục Thông kê và Bộ thuỷ sản, sản lượng thuỷ sản Việt nam trong giai đoạn 1998-2002 liên tục tăng với tốc độ gia tăng trung bình hàng năm là 7,8%/ năm. Trong tổng sản lượng thủy sản của nước ta trong giai đoạn này thì sản lượng thủy sản khai thác thường cao xấp xỉ gấp 2 lần sản lượng thủy sản nuôi trồng.
Tuy nhiên thì nuôi trồng thủy sản đang từng bước phát triển và giảm khoảng cách so với khai thác (nếu như năm 1998, sản lượng nuôi trồng còn kém hơn 2 lần so với sản lượng khai thác thì vào năm 2002 chỉ còn kém gần 2 lần). Điều này được thể hiện qua bảng 1.1 “Sản lượng ngành thủy sản Việt Nam giai đoạn 1998-2002”. SV: Nguyễn Tiến Lữ Lớp: Kinh tế quốc tế 48A Chuyên đề thực tập 8 Bảng 1.1: Sản lượng ngành thủy sản Việt Nam giai đoạn 1998-2002 Trong đó Diện tích Số lao Tổng sản Tổng tàu nuôi động lượng thuỷ Khai thác Nuôi trồng thuyền Năm trồng (nghìn sản (tấn) (tấn) (chiếc) (tấn) (ha) người ) 1998 1668530 1130660 537870 71799 626330 3560 1999 1827310 1212800 614510 73397 630000 3570 2000 2773585 1787200 986358 73976 810420 3623 2001 3320754 2187700 1133054 74253 879640 3790 2002 3816981 2342540 1474441 74824 896253 3980 (Nguồn : Tổng cục thống kê) Tính đến năm 2006, tổng sản lượng thuỷ sản đã đạt hơn 3,7 triệu tấn, tăng gần 5 lần so với năm 1986, trong đó khai thác đạt gần 2 triệu tấn, sản lượng nuôi trồng đạt hơn 1,4 triệu tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu vượt qua mốc 3 tỷ USD, đạt hơn 3,35 tỷ USD, tăng hơn 300 lần so với năm 1986, tăng gần 600 triệu USD so với năm 2005. Giá trị làm ra của Ngành Thuỷ sản ngày càng có tỷ trọng cao hơn trong khối nông nghiệp và trong nền kinh tế quốc dân.2 : Sản lượng ngành thủy sản Việt Nam giai đoạn 2003-2008 Năm Tổng số (tấn) Khai thác (tấn) Nuôi trồng (tấn) 2003 2859200 1856100 1003100 2004 3142500 1940000 1202500 2005 3465900 1987900 1478000 2006 3720500 2026600 1693900 2007 4197800 2074500 2123300 2008 4602000 2136400 2465600 (Nguồn : Tổng cục thống kê) SV: Nguyễn Tiến Lữ Lớp: Kinh tế quốc tế 48A Chuyên đề thực tập 9 Năm 2008, tổng sản lượng thủy sản của Việt Nam đạt 4,6 triệu tấn, trong đó nuôi trồng đạt gần 2,5 triệu tấn và khai thác đạt trên 2,1 triệu tấn, đưa Việt Nam lên vị trí thứ 3 về sản lượng nuôi trồng thủy sản và đứng thứ 13 về sản lượng khai thác thủy sản trên thế giới.1 : Sản lượng thủy sản Việt Nam giai đoạn 1998-2008 Ngành thuỷ sản còn giữ vai trò an ninh lương thực quốc gia, tạo việc làm và góp phần xoá đói giảm nghèo.
Thuỷ sản được đánh giá là nguồn cung cấp chính đạm động vật cho người dân Việt Nam. Năm 2001, mức tiêu thụ trung bình mặt hàng thuỷ sản của mỗi người dân Việt Nam là 19,4 kg, cao hơn mức tiêu thụ trung bình sản phẩm thịt lợn (17,1 kg/người) và thịt gia cầm (3,9 kg/người). Số lao động của ngành thuỷ sản tăng liên tục từ 3,12 triệu người (năm 1996) lên khoảng 3,8 triệu người năm 2001 (kể cả lao động thời vụ), như vậy, mỗi năm tăng trung bình thêm hơn 100 nghìn người. SV: Nguyễn Tiến Lữ Lớp: Kinh tế quốc tế 48A Chuyên đề thực tập 10 Đặc biệt do sản xuất của nhiều lĩnh vực như khai thác, nuôi trồng thủy sản chủ yếu là ở qui mô hộ gia đình nên đã trở thành nguồn thu hút lực lượng lao động, tạo nên nguồn thu nhập quan trọng góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo.