Chương 1 của luận văn phân tích về thực trạng xuất khẩu hàng thủy sản Việt Nam sang EU, dựa trên cơ sở đó tại chương 2, những dự báo về ảnh hưởng của Hiệp định EVFTA đến xuất khẩu hàng thủy sản Việt Nam sang EU và đề xuất, kiến nghị những giải pháp để tận dụng cơ hội và khắc phục những hạn chế được được ra ở chương 3. CHƢƠNG 1: Thực trạng xuất khẩu hàng thủy sản Việt Nam sang EU Đặc điểm thị trƣờng thủy sản EU Theo Báo cáo ngành thủy sản của Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), EU là một trong những thị trường tiêu thụ thủy sản lớn nhất thế giới với số lượng tiêu thụ trung bình hàng năm khoảng hơn 13,8 triệu tấn, tương đương 54 tỷ EUR và mức tiêu thụ thủy sản bình quân đầu người của thị trường EU là 25,5kg/người năm 2016, trong khi mức trung bình của thế giới là 19,5 kg/người, trong đó, Bồ Đào Nha, Lithnuania, Tây Ban Nha, Phần Lan, Pháp là top 5 thị trường tiêu thụ thủy sản lớn nhất của EU với các sản phẩm tiêu thụ chính là: cá ngừ (đóng hộp), cá tuyết, cá hồi, mực, tôm… Nguồn cung cho thị trường thủy sản EU chủ yếu đến từ nguồn tự cung và nguồn nhập khẩu. Tuy nhiên, nguồn tự cung (đánh bắt và nuôi trồng) hàng năm của EU chỉ đạt xấp xỉ 6 triệu tấn, hay nói cách khác tỷ lệ tự cung tự cấp thủy sản của EU chỉ đạt xấp xỉ 45% đến 55%,do đó EU đáp ứng nhu cầu thủy sản nội khối chủ yếu nhờ nguồn cung từ nhập khẩu. EUlà thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất thế iii giới, chiếm 24% tổng giá trị giao dịch thủy sản toàn thế giới và là một nước nhập khẩu ròng các sản phẩm thủy sản với các sản phẩm chính là: cá tầng đáy, cá hồi, cá ngừ và động vật giáp xác (tôm).
EU nhập khẩu thủy sản từ hơn 180 quốc gia, trong đó Na Uy và Trung Quốc là hai thị trường cung cấp thủy sản chính (cả về số lượng và giá trị), chiếm đến hơn 30% tổng số lượng và giá trị thủy sản nhập khẩu của EU. Về tập quán và thị hiếu tiêu dùng, người tiêu dùng EU có xu hướng tiêu thụ ngày một nhiều thuỷ sản, coi thuỷ sản là thực phẩm thay thế cho thịt gia súc. Tuy nhiên, EU được biết đến là một thị trường vô cùng “khó tính” và rất bảo vệ người tiêu dùng. Đối với hàng thủy sản, người tiêu dùng EU nói không với các mặt hàng nhập khẩu không rõ nguồn gốc xuất xứ, có chất lượng kém.
Với các sản phẩm đã qua chế biến, người EU chỉ dùng những sản phẩm đóng gói có ghi rõ tên sản phẩm, nơi sản xuất, các điều kiện bảo quản và sử dụng, mã số và mã vạch. Trong tương lai, người dân EU có xu hướng tiêu thụ các sản phẩm thủy sản bền vững, có truy nguyên nguồn gốc rõ ràng, các mặt hàng được dự báo sẽ tăng nhu cầu tiêu thụ tại EU là cá hồi, cá trích, và cá tra. Các sản phẩm thủy sản hữu cơ hay các sản phẩm sinh thái cũng sẽ được chú ý trong thời gian tới. Hiện nay, một số thị trường có nhu cầu tiêu thụ thủy sản hữu cơ nhiều nhất là: Đức, Pháp, Anh, Tây Ban Nha và Ý.
Về kênh phân phối thị trường, Châu Âu có hệ thống kênh phân phối hàng thủy sản phức tạp nhất trên thế giới, hầu hết tập trung vào các nhà phân phối, các công ty chế biến và nhà cung cấp nhỏ và trung bình. Những rào cản thương mại của EU đối với hàng thủy sản xuất khẩu hiện nay bao gồm các rào cản về thuế quan và rào cản phi thuế quan, trong đó xu hướng là chuyển từ các biện pháp rào cản thuế quan sang các biện pháp rào cản phi thuế quan như: Rào cản kỹ thuật (TBT), rào cản về an toàn thực phẩm và an toàn bệnh dịch động thực vật (SPS), rào cản chống bán phá giá, các quy định về xuất xứ, nhãn hiệu,môi trường, lao động. Các rào cản phi thuế quan của EU bao gồm (1) các yêu cầu bắt buộc là các yêu cầu mà các DN muốn xuất khẩu thủy sản vào EU bắt buộc phải tuân theo như: các quy định chung về ATTP, các quy tắc truy xuất nguồn gốc iv & ghi nhãn thực phẩm, chứng nhận khai thác thủy sản- chống đánh bắt trái phép (IUU), Vi sinh vật gây ô nhiễm, chứng thư cho các sản phẩm thủy sản xuất khẩu sang EU, quy định về các mức dư lượng tối đa cho phép (MRL) và (2) các yêu cầu của thị trường là những yêu cầu không bắt buộc đối với sản phẩm thâm nhập vào thị trường EU nhưng mà hầu hết các đối thủ cạnh tranh đều thực hiện, nói cách khác, là những gì DN cần phải tuân theo để theo kịp với thị trường bao gồm Hệ thống quản lý ISO 9000, các quy định về vệ sinh-y tế (HACCP), các quy định về môi trường (ISO 14000), Sức khỏe và an toàn lao động (SA 8000), các quy định về chống bán phá giá,… Thực trạng xuất khẩu hàng thủy sản Việt Nam sang EU EU luôn là một thị trường xuất khẩu thủy sản chủ lực của Việt Nam, chiếm đến 17,5% tổng giá trị thủy sản xuất khẩu của Việt Nam, chỉ đứng sau Mỹ (19,5%). Giai đoạn 2007 - 2016, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU tăng liên tục với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 5%/năm, từ 0,92 tỷ USD năm 2007 lên 1,21 tỷ USD năm 2016, đạt đỉnh năm 2014 - năm đánh dấu sự khởi sắc của thị trường thủy sản Việt Nam.
Các mặt hàng thủy sảnxuất khẩu chính sang EU bao gồm: tôm, cá tra, mực và bạch tuộc, cá ngừ, cua ghẹ & giáp xác khác, nhuyễn thể hai mảnh vỏ, trong đó tôm và cá tra là 2 mặt hàng xuất khẩu chủ lực với tổng tỷ trọng chiếm tới 80% tổng kim ngạch thủy sản xuất khẩu sang EU, trong đó tỷ trọng cá tra đang có xu hướng giảm và tỷ trọng tôm đang có xu hướng tăng mạnh. Hình thức xuất khẩu thủy sản sang thị trường EU chủ yếu được tiến hành qua các trung gian hoặc các trung tâm tái xuất khẩu lớn như Singapore… và chủ yếu là ký kết theo giá FOB, thường là trả ngay, và hầu như không ký theo giá CIF, CFR hay các phương thức khác. Ngoài ra, hiện nay một số doanh nghiệp thủy sản của Việt Nam cũng đã thực hiện xuất khẩu trực tiếp sang cho các nhà nhập khẩu, các siêu thị, các chuỗi cửa hàng ở Châu Âu. Mặc dù giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản tăng liên tục qua nhiều năm, tuy nhiên các DN xuất khẩu thủy sản Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với không ít v những trở ngại về hàng rào thuế quan cũng như hàng rào phi thuế quan khi xuất khẩu sang thị trường EU.
Cụ thể, về hàng rào thuế quan, mức thuế bình quân mà EU đang áp dụng đối với hàng thủy sản nhập khẩu từ các nước ngoại khối là từ 20- 24% và đối với các nước được hưởng ưu đãi thuế quan là từ 7-10%. Về hàng rào phi thuế quan, EU được biết đến là một thị trường rất khó tính với các yêu cầu nghiêm ngặt về vấn đề về bao bì, thương hiệu và xuất xứ hàng hóa, chất lượng sản phẩm, vệ sinh thực phẩm,vệ sinh môi trường, hàm lượng kháng sinh trong sản phẩm thủy sản,… Trong khi đó, các DN xuất khẩu thủy sản VN vẫn chưa tự giác và gặp nhiều khó khăn khi đáp ứng những quy định khắt khe này. CHƢƠNG 2: Dự báo ảnh hƣởng của Hiệp định EVFTA đến xuất khẩu hàng thủy sản Việt Nam sang EU Giới thiệu chung về Hiệp định thƣơng mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) Ngày 26 tháng 6 năm 2012, Bộ trưởng Bộ Công Thương Việt Nam và Cao ủy Thương mại EU tuyên bố chính thức khởi động đàm phán Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA). Sau gần 3 năm đàm phán, với 14 phiên chính thức và nhiều phiên giữa kỳ ở cấp Bộ trưởng, cấp Trưởng đoàn và các nhóm kỹ thuật, Việt Nam và EU đã đạt được thỏa thuận nguyên tắc về toàn bộ các nội dung cơ bản của Hiệp định.
EVFTA là một Hiệp định thế hệ mới toàn diện với phạm vi cam kết rộng và mức độ cam kết cao, cân bằng về lợi ích cho cả Việt Nam và EU, đồng thời phù hợp với các quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Những cam kết chính đạt được trong Hiệp định EVFTA bao gồm (1) Mở cửa thị trường hàng hóa: EU cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số dòng thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam với lộ trình tối đa trong 10 năm, đối với khoảng 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại, EU cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0%; (2) Cam kết của về thương mại dịch vụ đầu tư nhằm tạo ra một môi trường đầu tư cởi mở, thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp hai bên. (3) Mua sắm chính phủ: Việt Nam và EU thống nhất vi các nội dung tương đương với Hiệp định mua sắm của Chính phủ (GPA) của WTO; (4) Sở hữu trí tuệ và chỉ dẫn địa lý và một số các nội dung khác phù hợp với hệ thống pháp luật của Việt Nam, tạo khuôn khổ pháp lý để hai bên tăng cường hợp tác, thúc đẩy sự phát triển của thương mại và đầu tư giữa hai Bên. Việc ký kết FTA Việt Nam - EU là một cú hích quan trọng để Việt Nam tiếp tục thúc đẩy quan hệ kinh tế-thương mại với EU.
Khi Hiệp định EVFTA chính thức có hiệu lực, ước tính GDP của Việt Nam có thể tăng thêm trên 15% và kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 35%. Với những cam kết đạt được, dự kiến Hiệp định EVFTA sẽ đem lại lợi ích cho người dân và doanh nghiệp của hai bên trên nhiề u phương diê ̣n. Các lợi ích chin ́ h có th ể kể đến là: mở rộng hơn nữa thị trường cho hàng xuất khẩu, đặc biệt là những sản phẩm mà hai bên có thế mạnh; khuyến khích môi trường đầu tư, kinh doanh cởi mở, thông thoáng và minh bạch hơn, thúc đẩy luồng vốn đầu tư từ hai bên, đặc biệt là nguồn vốn chất lượng cao với công nghệ nguồn của EU vào Việt Nam; các cam kết liên quan đến đầu tư, tự do hóa thương mại dịch vụ, mua sắm của Chính phủ, bảo hộ sở hữu trí tuệ, v.