CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CHUYỂN ĐỔI MỤC DÍCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI NÔNG NGHIỆP 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Xuất phát từ những lợi ích riêng của con người và lợi ích chung của xã mà yêu cầu phát triển của các ngành kinh tế, trong đó có cả ngành nông nghiệp (giao thông, thủy lợi); các nhu cầu phát triển đô thị và văn hóa xã hội ngày càng cao. Bên cạnh đó là sự phát triển của ngành nông nghiệp đã cho phép chuyển ĐNN sang các hoạt động phi nông nghiệp.Từ ngàn đời nay, mối quan hệ giữa con người và đất nông nghiệp là mối quan hệ đa chiều, vừa mang tính chất kinh tế vừa mang tính chất xã hội. Có thể nói đất nông nghiệp là chung tâm của các mối quan hệ trong xã hội nông thôn, là sự liên kết cuộc sống của họ qua nhiều thế hệ. Chuyển đổi MĐSD ĐNN là một vấn đề hết sức nhẩy cảm và phức tạp, đòi hỏi có sự giải quyết thấu tình đạt lý của các cấp lãnh đạo,… Xét dưới góc độ tổ chức và quản lý, chuyển đổi mục đích là quá trình với các căn cứ và các nội dung cụ thể sau đây: - Quy hoạch sử dụng đất nói chung, ĐNN nói riêng; - Xây dựng các luận chứng chuyển đổi MĐSD ĐNN.
Các luận chứng chuyển đổi MĐSD đất có thể được xây dựng thành các đề án hay dự án; (3) Phê duyệt các phương án chuyển đổi MĐSD ĐNN. Phê duyệt chuyển đổi MĐSD đất gồm các đơn, luận chứng chuyển đổi và bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hộ khẩu thường trú và chứng minh nhân dân của người xin Chuyển đổi MĐSD đất; bản và cam kết theo quy định về điều kiện chuyển đổi MĐSD đất. - Tổ chức các phương án chuyển đổi MĐSD ĐNN: Sau khi các đề án, dự án chuyển đổi mục đích được phê duyệt, các nội dung của tổ chức chuyển đổi MĐSD đất được triển khai. - Tổ chức khai thác đất sau chuyển đổi mục đích.
Chuyển đổi MĐSD ĐNN sang mục đích phi nông nghiệp thường có sự thay đổi chủ sử dụng và có sự điều tiết lợi ích tăng thêm. Khinh nghiệm quôc tế cho thấy việc chuyển đổi MĐSD ĐNN sang các mục đích khác đặc biệt là phục vụ cho các ngành công nghiệp luôn đi cùng với quá trình 4 đô thị hóa (ĐTH) và tăng trưởng kinh tế. Quá trình này vừa tạo ra những thuận lợi và cũng không ít khó khăn cho người dân. Việc thu hồi ĐNN để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia ở nước ta được tiến hành mạnh mẽ từ khi chúng ta thực hiện đường lối đổi mới, chuyển nền kinh tế nước ta từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp, sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, do chuyển đổi MĐSD ĐNN tập trung ở một số địa phương có tốc độ ĐTH cao, nên ĐNN chuyển đổi phần lớn là đất tốt, đất ở nơi tập trung đông dân cư nông nghiệp. Vì vậy, đã dẫn đến một bộ phận nông dân không đất và thiếu đất sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng đến thu nhập, đời sống gặp nhiều khó khăn. Mặc dù khi thu hồi đất, nhà nước đã tổ chức bồi thường. Nhưng giá đất thấp, bồi thường bằng tiền, trong khi người nông dân thiếu việc làm ổn định lâu dài.
Vì vậy, việc bồi thường một mặt không phản ánh đúng giá trị phải bồi thường; mặt khác bồi thường bằng tiền khiến người được bồi thường đa số không sử dụng cho cuộc sống lâu dài, tập trung xây dựng nhà, mua sắm đồ dùng sinh hoạt đắt tiền. Đời sống nông dân tăng lên 1-2 năm đầu sau đó rơi vào tình trạng khó khăn, nhiều vấn đề xã hội nảy sinh. Việc chuyển đổi MĐSD ĐNN có tác động tiêu cực trực tiếp vào cuộc sống của các hộ gia đình. Tuy thế, nhưng đổi lại họ được bù dắp bởi những công việc mới được tạo ra từ quá trình ĐTH và CNH.
Những cơ họi như vậy có thể dược hộ nông dân nắm bắt để gia tăng lợi ích kinh tế của họ. Ví dụ sự suy giảm diện tích đất nông nghiệp ở nông thôn đồng nghĩ với sự gia tăng dất khu đô thị, dẫn tơi sự gia tăng trong mói liên hẹ giữ nông thôn và thành thị. Điều này sẽ đưa đến những thuận lợi cho những người nông dân tiếp cận thị trường đô thị và những cơ hội việc làm phi nông nghiệp. Hơn nữa việc chuyển đổi đất thường đi cùng với quá trình cải thiện cơ hạ tầng ở điạ phương, và do vậy hỗ trợ việc làm thúc đẩy sản xuất và đa dạng hóa , thâm canh sản xuất đất nông nghiệp của những người nông dân ở các ven đô thị.
Việc chuyển đổi MĐSD ĐNN trong bối cảnh kinh tế hiện tại là điều không thể thay đổi , không thể tranh khỏi. Lúc này nhà nước cần giữ vai trò đầu moi trong việc quản lý , điều hành, thanh tra, giám sát để quá trình chuyển đổi diễn ra thuận lợi đảm bảo hài hòa lợi ích giữ các bên liên quan. Vì một mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững của toàn xã hội. Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về chuyển đỏi mục đích sử đụng đất nông nghiệp 1.
Đất nồng nghiệp và chuyển đổi mục đích của nông nghiệp a) ĐNN Khái niện ĐNN Đất nông nghiệp được định nghĩa là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác( theo luật đất đai 2013) Phân loại đất nông nghiệp. Căn cứ theo điều 10 Luật đất đai 2013, Căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai được phân loại như sau: Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; Đất trồng cây lâu năm; Đất rừng sản xuất; Đất rừng phòng hộ; Đất rừng đặc dụng; Đất nuôi trồng thủy sản; Đất làm muối; Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh. Vai trò và ý nghĩa của ĐNN Đất đai có nguồn gốc tự nhiên, là tặng vật tự nhiên dành cho con người và loài người.
Từ hàng triệu năm qua, đất đai đã được coi là tài nguyên đặc biệt. Đất đai là “giang sơn gấm vóc” của mỗi quốc gia, là điều kiện để tồn tại, phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất. Dưới sự tác động khai phá của con người, xét trong góc độ kinh tế thị trường, đất đai trở thành hàng hóa đặc biệt. Đất 6 đai tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất của xã hội như là một tư liệu sản xuất đặc biệt.
Trong nông nghiệp, đất đai là chỗ tựa, chỗ đứng, là nguồn cung cấp thức ăn cho cây trồng. Trong công nghiệp, đất đai là nền tảng, làm cơ sở, làm địa điểm để tiến hành những thao tác, những hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy vậy, đối với từng ngành cụ thể thì đất đai có nhũng vai trò cụ thể khác nhau. Riêng với sản xuất nông nghiệp thì đất đai có vai trò đặc biệt quan trọng. Nông nghiệp là quá trình sản xuất dựa nhiều vào yếu tố tự nhiên, do những quy luật vận động của tự nhiên tạo nên.
Đất đai không chỉ là chỗ đứng, chỗ tựa của lao động, mà còn là nguồn cung cấp thức ăn cho cây trồng và thông qua sự phát triển của sản xuất trồng trọt mà cung cấp thức ăn cho gia súc. Do đó, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp mà không gì có thể thay thế. Không có đất đai, không thể tiến hành sản xuất kinh doanh nông nghiệp vì đất đai vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động. + Đất đai là đối tượng lao động: Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, con người với kinh nghiệm, khả năng lao động và các phương pháp canh tác khác nhau như: thâm canh, tăng vụ… tác động vào đất đai, làm thay đổi chất lượng đất đai nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi phù hợp với từng mục đích sử dụng như đất trồng lúa, đất trồng cây lâu năm, đất trồng hoa màu, đất trồng rừng, đất nuôi trồng thuỷ sản… + Đất đai là tư liệu lao động: Trong quá trình lao động nông nghiệp, con người đã sử dụng yếu tố đất đai như là một tư liệu lao động không thể thiếu được.
Đất đai là điều kiện sống của cây trồng, vật nuôi cung cấp các chất dinh dưỡng, các yếu tố lý học, hoá học, sinh vật và các tính chất khác để cây trồng, vật nuôi có thể sinh trưởng và phát triển Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là cơ sở thiên nhiên của mọi quá trình sản xuất. Con người cũng ngày càng sử dụng đất đai với nhiều mục đích khác nhau, ngoài cư trú xây dựng sản xuất, giao thông đường sá… mà còn phục vụ cho nhu cầu vật chất và tinh thần của mình. Ví dụ 1 khu đất có vị trí địa hình đẹp thuận lợi cho du lịch người ta có thể xây dựng ở đó những khu nghỉ dưỡng, bãi tắm, resort, khu vui chơi giải trí.trong trường hợp này, đất đai là có lợi ích kin tế rất lớn đốivới chủ thể sở hữu nó. Ngày nay với sự phát triển của xã hội loài người, giá trị đóng góp của các ngành dịch vụ vào GDP mỗi nước ngày càng tăng và chiếm 1 vị trí quan trọng không thể thiếu đối với mỗi nước, điều đó gây áp lực về cường độ sử dụng đất.