Chương 1: Tổng quan nghiên cứu giải pháp phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ các sản phẩm may mặc thời trang trên thị trường Hà Nội của công ty TMDV thời trang Hà Nội Chương 2: Một số lý luận cơ bản về phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ các sản phẩm may mặc thời trang Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ các sản phẩm may mặc thời trang trên thị trường Hà Nội của công ty TMDV thời trang Hà Nội Chương 4: Các kết luận và đề xuất giải pháp phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ các sản phẩm may mặc thời trang trên thị trường Hà Nội của công ty TMDV thời trang Hà Nội. 17 Luan van CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ BÁN LẺ CÁC SẢN PHẨM MAY MẶC THỜI TRANG TRÊN THỊ TRƯỜNG HÀ NỘI CỦA CÔNG TY TMDV THỜI TRANG HÀ NỘI 3. Phương pháp hệ nghiên cứu 3. Phương pháp thu thập dữ liệu Phương pháp thu thập dữ liệu qua các nguồn sơ cấp Phương pháp điều tra trắc nghiệm Đây là phương pháp được thực hiện bằng việc thiết lập các phiếu điều tra trắc nghiệm bao gồm các câu hỏi, mỗi câu hỏi đều có các phương án trả lời khác nhau.
Người được điều tra sẽ chọn 1 trong những phương án trả lời mà họ cho là đúng nhất. Phương pháp này được sử dụng trong phần 3.3 của chương 3 để khảo sát các khách hàng của công ty về chất lượng dịch vụ bán lẻ các sản phẩm may mặc thời trang của công ty. Phương pháp phỏng vấn chuyên sâu: Đây là phương pháp thu thập thông tin, cho phép thu được những xử lý theo cách khác với mô tả trong tài liệu, gặp được những người chịu trách nhiệm trên thực tế để thu được những nội dung cơ bản khái quát mà nội dung đó khó có thẻ nắm bắt được khi tài liệu quá nhiều. Cũng như phương pháp điều tra trắc nghiệm, phương pháp phỏng vấn được sử dụng trong phần 3.3 của chương 3 để phỏng vấn nhà quản trị cấp cao của công ty về các giải pháp phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ các sản phẩm may mặc thời trang trên thị trường Hà Nội của công ty.
Phương pháp thu thập dữ liệu qua các nguồn thứ cấp 18 Luan van Là phương pháp dựa vào những tài liệu, sổ sách, hệ thống phương tiện thông tin như sách báo, tạp chí, truyền hình, internet để thu thập thông tin. Phương pháp này được sử dụng trong các phần của chương 3 và chương 4. Phương pháp phân tích dữ liệu Phương pháp so sánh Phương pháp này dùng để so sánh các dữ liệu giữa các thời kỳ với nhau hoặc so sánh với tổng thể nền kinh tế để đánh giá sự tăng trưởng, phát triển. Phương pháp chỉ số Phương pháp này dùng để đánh giá sự tăng lên hay giảm xuống của các chỉ tiêu kinh tế để đánh giá các vấn đề phát triển thương mại trong hiện tại và dự báo cho tương lai.
Phương pháp khác Sử dụng các bảng biểu hoặc các mô hình, phần mềm chuyên dụng bằng máy tính và công nghệ thông tin để phân tích đánh giá các vấn đề thực trạng và dự báo trong tương lai về phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ. Các phương pháp phân tích dữ liệu chủ yếu được sử dụng trong chương 3. Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng nhân tố môi trường đến phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ các sản phẩm may mặc trên thị trường Hà Nội của công ty TMDV thời trang Hà Nội 3. Tổng quan tình hình phát triển thương mại dịch vụ bán lẻ các sản phẩm may mặc thời trang trên thị trường Hà Nội của công ty TMDV thời trang Hà Nội Với dân số 86 triệu người và đặc thù dân số trẻ, trong đó trên 50% là dưới 30 tuổi và tỷ lệ những người trong độ tuổi tạo ra thu nhập có mức chi tiêu nhiều nhất (22-55 tuổi) chiếm 70%, Việt Nam được biết tới là quốc gia hấp dẫn nhất thế giới xét về chỉ số phát triển bán lẻ, vượt qua Ấn Độ và Nga.
Quy mô TMDV bán lẻ cảu nước ta năm 2008 đạt trên 55 tỷ USD, năm 2009 tăng trưởng 18,6% so với năm 2008. Doanh số bán lẻ tăng trung bình 20% 19 Luan van mỗi năm. Ngành dịch vụ bán lẻ đóng góp 14% GDP cả nước, hàng năm tạo công ăn việc làm thường xuyên cho trên 5,4 triệu lao động. Quy mô dịch vụ bán lẻ không ngừng được mở rộng, với rất nhiều thành phần tham gia.
Ngoài các hộ kinh doanh cá thể, các doanh nghiệp bán lẻ không ngừng tăng lên, mở rộng hệ thống bán lẻ của mình. Hiện nay cả nước có 35 vạn doanh nghiệp trong đó 60% là các doanh nghiệp bán lẻ thuộc đủ mọi thành phần: Doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài,…. Chất lượng thương mại dịch vụ bán lẻ được cải thiện, theo hướng gia tăng các điểm bán lẻ hiện đại, chất lượng tốt; giảm dần các điểm bán lẻ manh mún, lạc hậu. Nếu như năm 2006 Việt Nam mới có 200 siêu thị, 30 trung tâm thương mại thì đến nay đã có trên 400 siêu thị và trung tâm thương mại.
Riêng Hà Nội đã có 85 siêu thị và đại siêu thị, 14 trung tâm thương mại. Như vậy đã có sự biến đổi sâu sắc giữa phương thức bán lẻ truyền thống và hiện đại, với sự xuất hiện của các phương thức bán lẻ hiện đại siêu thị, trung tâm thương mại, cừa hàng đặc chủng, cửa hàng chuyên doanh. Phương thức bán lẻ hiện đại chiếm 13% năm 2007 đã tăng lên 17% năm 2008 và 20% năm 2009. Tính riêng tại Hà Nội bán lẻ hiện đại đạt tỉ trọng 28% (năm 2008).
Với sự dịch chuyển về cơ cấu này đã làm cho thương mại dịch vụ bán lẻ văn minh hơn, hiện đại hơn. Hiện tại bán lẻ theo phương thức hiện đại tuy đang tăng trưởng mạnh mẽ nhưng so với các nước trong khu vực vẫn còn ở mức thấp. Ví dụ: Thái Lan 34%, Malaysia 60%, Singapore 90%. Hiện nay nơi mua sắm chính của khách hàng là gần 1 vạn chợ và hơn 30 vạn cửa hàng bán lẻ, tạp hóa trong nước.
Bán lẻ theo phương thức truyền thống vẫn chiếm ưu thế trên thị trường nước ta nhưng sẽ ngày càng có nhiều người tiêu dùng chuyển sang mua sắm theo phương thức hiện đại. Công ty TMDV thời trang Hà Nội là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ bán lẻ, ngành hàng chủ yếu của công ty trong suốt 50 năm xây dựng và trưởng thành là hàng may mặc thời trang. Trước đây, thời 20 Luan van kỳ bao cấp là doanh nghiệp thương nghiệp phân phối hàng bông vải sợi, hàng may sẵn các loại theo kế hoạch của thành phố. Nay trong thời kỳ đổi mới, công ty chuyển hướng kinh doanh nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau mà trọng tâm là lĩnh vực bán lẻ hàng may mặc thời trang.
Công ty hiện có tất cả 35 cửa hàng bán lẻ, trong đó có 20 cửa hàng chuyên doanh bán lẻ các sản phẩm may mặc thời trang, còn lại là các cửa hàng kinh doanh dịch vụ bán lẻ các mặt hàng như thêu ren, đồ lưu niệm, hàng thủ công mỹ nghệ, hàng gia dụng,… Các cửa hàng của công ty có diện tích từ 13 đến 200m2, hầu hết nằm trên những tuyến phố trục chính của Hà Nội, nơi tập trung dân cư đông đúc. Tổng diện tích mặt bằng của các cửa hàng bán lẻ hàng may mặc thời trang khoảng 2500m2. Các cửa hàng may mặc thời trang trong những năm gần đây có sự gia tăng về số lượng và doanh thu. Năm 2005 có 15 cửa hàng, 2008 có 17 cửa hàng và đến nay có 20 cửa hàng.
Tuy nhiên trong những năm hoạt động của mình, các cửa hàng bán lẻ của công ty phần lớn có được là do được thừa hưởng từ mạng lưới các cửa hàng của Nhà nước từ thời kỳ bao cấp. Công ty không mở thêm được nhiều cửa hàng, chưa mở rộng được thị trường bán lẻ của mình. Các cửa hàng này phần lớn chỉ tập trung tại khu trung tâm phía Đông của thành phố Hà Nội như quận Hoàn Kiếm, Đống Đa. Doanh thu bán lẻ hàng may mặc thời trang của công ty những năm gần đây đạt trên 100 tỷ đồng với mức tăng trưởng trung bình 8%, cao gấp 2 lần tốc độ tăng trưởng doanh thu bán lẻ chung của cả công ty.
Kinh doanh trong lĩnh vực bán lẻ các sản phẩm may mặc thời trang, công ty đã giúp giải quyết việc làm cho hơn 200 lao động với mức thu nhập bình quân hàng tháng trên 3 triệu đồng. Về chất lượng dịch vụ bán lẻ của công ty: Mặc dù chất lượng dịch vụ bán lẻ đóng vai trò rất quan trọng đối với các nhà bản lẻ nhưng chưa có nhiều nghiên cứu về chất lượng dịch vụ bán lẻ của các nhà bán lẻ Việt Nam. Cũng có thể các nhà bán lẻ trong nước đã tự đánh giá chất lượng dịch vụ bán lẻ của mình nhưng việc cải thiện chất lượng không đảm bảo theo định hướng và tiến độ đặt ra vì 21 Luan van những lý do khách quan và chủ quan. Công ty TMDV thời trang Hà Nội trong những năm qua cũng đã cố gắng cải thiện chất lượng dịch vụ bán lẻ của mình.
Tuy nhiên đánh giá của người tiêu dùng về chất lượng dịch vụ bán lẻ của công ty chưa cao, chưa thu hút được nhiều khách hàng đến với công ty. Thái độ phục vụ, kiến thức chuyên môn nghiệp vụ của nhân viên còn chưa tốt, cơ sở vật chất, kỹ thuật tại các điểm bán lẻ chưa hiện đại, chưa đem lại sự tin cậy cho khách hàng trong quá trình mua sắm. Cạnh tranh trong lĩnh vực thương mại dịch vụ bán lẻ các sản phẩm may mặc thời trang tại Hà Nội đang tăng lên mạnh mẽ. Hà Nội là một thị trường rộng lớn, nhu cầu tiêu dùng hàng may mặc thời trang cao.
Do đó bên cạnh các điểm bán lẻ nhỏ lẻ của các hộ kinh doanh cá thể, số lượng các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ sản phẩm may mặc thời trang cũng rất đông đảo. Ngoài các nhà bán lẻ đa dạng các mặt hàng trong đó có hàng may mặc thời trang thì có khoảng trên 100 doanh nghiệp chuyên bán lẻ các sản phẩm may mặc thời trang trên thị trường này. Có thể thấy sức cạnh tranh trong ngành đang ngày càng tăng, nhất là khi nước ta mở cửa thị trường bán lẻ.