Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Tổng quan lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và phân tích dữ liệu Chương 4: Các kết luận, nhận định và đề xuất. 13 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT Khái quát một số lý thuyết nghiên cứu: thương mại điện tử, bán lẻ điện tử, các yếu tố ảnh hưởng thành công TMĐT và BLĐT, đặc điểm mặt hàng sách, các yếu tố ảnh hưởng hành công BLĐT mặt hàng sách. KHÁI QUÁT THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ BÁN LẺ ĐIỆN TỬ 2. Khái niệm, đặc điểm và lợi ích của TMĐT 2.
Khái niệm TMĐT Thương mại điện tử (TMĐT) là hình thức quan trọng của các hoạt động thương mại trong xã hội thông tin. Kể từ khi xuất hiện cho đến khi được biết rộng rãi trên toàn thế giới, đã có nhiều cách hiểu, định nghĩa khác nhau về TMĐT. Theo Luật mẫu về TMĐT năm 1996 của Ủy ban Liên Hợp quốc về Luật Thương mại Quốc tế (UNCITRAL), “Thuật ngữ thương mại cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng. Các quan hệ mang tính thương mại bao gồm, nhưng không chỉ bao gồm các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ; thoả thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, uỷ thác hoa hồng, cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn, kỹ thuật công trình; đầu tư; cấp vốn, ngân hàng; bảo hiểm; thoả thuận khai thác hoặc tô nhượng, liên doanh và các hình thức về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hoá hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ".
Luật mẫu không định nghĩa TMĐT mà đưa ra diễn giải thuật ngữ “thương mại”, theo đó phạm vi các hoạt động thương mại bao quát hầu hết lĩnh vực hoạt động kinh tế, việc mua bán hàng hóa chỉ là một trong các lĩnh vực ứng dụng của TMĐT [5, tr. Theo Liên minh châu Âu (EU) định nghĩa, "TMĐT được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử (PTĐT). Nó dựa trên việc xử lý và truyền dữ liệu điện tử dưới dạng văn bản, âm thanh và hình ảnh". TMĐT gồm nhiều hành vi thương mại như hoạt động mua bán hàng hóa qua các PTĐT, giao nhận các nội dung số qua mạng, chuyển tiền điện tử, tiếp thị trực tuyến, hợp tác thiết kế, chia sẻ tài nguyên mạng.
Các PTĐT được sử dụng không chỉ là mạng 14 Internet mà còn bao hàm các PTĐT khác như điện thoại, máy điện báo (Telex), máy fax, truyền hình kỹ thuật số. TMĐT được thực hiện đối với cả thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ. Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO), "TMĐT bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm thông qua các mạng viễn thông như Internet” [5, tr. Cách hiểu này về TMĐT cho thấy, khái niệm “TMĐT” khá trùng lặp với thương mại Internet, tuy nhiên cả phạm vi các hoạt động thương mại và PTĐT đều giới hạn hẹp hơn định nghĩa đưa ra của EU.
Theo Uỷ ban TMĐT của Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), "TMĐT là công việc kinh doanh được tiến hành thông qua truyền thông số liệu và công nghệ tin học kỹ thuật số" [5, tr. Turban et al. (2010) định nghĩa “TMĐT là quá trình mua, bán, truyền gửi hoặc trao đổi các sản phẩm, dịch vụ và thông tin thông qua các mạng máy tính, chủ yếu nhất là Internet và Intranet” [10, tr. Như vậy, từ một số định nghĩa trình bày ở trên cho thấy, TMĐT có thể được hiểu theo nghĩa rộng hoặc hẹp tùy thuộc vào cách tiếp cận rộng hay hẹp của hai thuật ngữ “thương mại” và “PTĐT”.
Theo nghĩa rộng thì TMĐT đồng nghĩa với hoạt động kinh doanh có sử dụng bất kì PTĐT nào và nó đã tồn tại từ khá lâu trước khi xuất hiện Internet. Theo nghĩa hẹp thì TMĐT gắn với hoạt động mua bán diễn ra qua mạng Internet, và nó ra đời cùng với mạng Internet. Ở Việt Nam, các văn bản pháp luật của nhà nước như Luật Giao dịch điện tử (Luật số 51/2005/QH-11), Nghị định về TMĐT (Nghị định số 57/2006/NĐ-CP) đều chưa giải thích thuật ngữ “TMĐT”. Luật số 51/2005/QH-11 chỉ giải thích thuật ngữ “giao dịch điện tử” là giao dịch thực hiện bằng các PTĐT, và PTĐT là “phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự”.
Ngoài ra, theo các Báo cáo TMĐT Việt Nam hàng năm của Bộ Công Thương Việt Nam cho thấy, TMĐT của Việt Nam được hiểu theo nghĩa rộng. Các giao dịch thương mại được thực hiện qua điện thoại, máy điện tín (Telex), máy Fax, mạng cục bộ LAN, máy bán hàng tự động (POS)… cũng được xem là TMĐT. Trong đề tài nghiên cứu này, khái niệm TMĐT được hiểu theo nghĩa rộng. Theo đó “TMĐT là việc sử dụng các PTĐT để tiến hành các hoạt động kinh 15 doanh”.
Trong định nghĩa, PTĐT được đề cập theo Điều 4.10 Luật số 51/2005/QH- 11, nó là bất kì PTĐT nào được công nhận về mặt pháp lý; và hoạt động kinh doanh bao gồm nhiều hoạt động, hành vi thương mại khác nhau, không chỉ là hoạt động mua, bán trực tuyến. Khái niệm TMĐT rộng hơn các khái niệm BLĐT. Đặc điểm của TMĐT TMĐT có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, TMĐT là hình thức thương mại sử dụng các PTĐT mà chủ yếu là máy tính cá nhân và mạng Internet để tiến hành các hoạt động thương mại. Nhờ sử dụng các PTĐT, máy tính cá nhân và mạng Internet mà các bên giao dịch không cần gặp nhau trực tiếp [5, tr.
Nhiều công việc, quá trình giao dịch được tiến hành qua mạng, như đặt hàng tự động, trao đổi thông tin, thanh toán. Các giao dịch được tiến hành không phụ thuộc vào thời gian, khu vực địa lí, đặc biệt đối với mua bán các sản phẩm nội dung. Tốc độ của giao dịch TMĐT cũng diễn ra “cực kì” nhanh chóng, không có bất kì tốc độ giao dịch thương mại truyền thống nào có thể so sánh được. Thứ hai, TMĐT lệ thuộc vào các PTĐT, sự phát triển của CNTT-TT, khoa học máy tính và mạng Internet [5, tr.
Để tiến hành giao dịch TMĐT hoặc các hành vi TMĐT cụ thể, đòi hỏi phải sử dụng các PTĐT. Không những thế, cá nhân, doanh nghiệp muốn ứng dụng TMĐT phải có những kiến thức hiểu biết nhất định về sử dụng các PTĐT. Nếu không có các PTĐT được trang bị và người dùng thiếu kiến thức sử dụng các PTĐT, các ứng dụng TMĐT không thể thực hiện được. Thứ ba, TMĐT bao gồm nhiều hoạt động, hành vi thương mại [5, tr.
TMĐT không chỉ là hoạt động mua, bán hàng hóa, chuyển giao và trao đổi thông tin qua mạng Internet mà nó còn bao gồm các hoạt động khác như marketing điện tử, quảng cáo và xúc tiến qua mạng, đấu giá, đấu thầu trực tuyến, thanh toán điện tử, chia sẻ tài nguyên trực tuyến, cung cấp và giao nhận các sản phẩm số. Thứ tư, TMĐT có mối liên quan mật thiết với thương mại truyền thống (TMTTh). Sự phát triển TMĐT có liên quan với phát triển TMTTh. Hầu hết các hoạt động, giao dịch TMĐT được tiến hành một phần qua mạng Internet, một phần tiến hành trong môi trường TMTTh.
TMTTh phát triển có tác động bổ trợ sự phát triển TMĐT, giúp cho quá trình giao dịch điện tử được thực hiện. Mối liên quan 16 giữa TMTTh và TMĐT còn được thể hiện, phát triển TMĐT sẽ thúc đẩy sự phát triển TMTTh, cải tiến hiệu quả giao dịch TMTTh. Lợi ích của khai thác, ứng dụng TMĐT Các lợi ích chủ yếu nhất của khai thác và ứng dụng TMĐT có thể bao gồm: Thứ nhất, ứng dụng TMĐT giúp tiết kiệm chi phí và thời gian. Nhờ ứng dụng TMĐT, doanh nghiệp có thể tiết kiệm chi phí kinh doanh, cá nhân tiết kiệm chi phí trong tiêu dùng, xã hội tiết kiệm chi phí các nguồn lực và tài nguyên.
Với lợi thế tốc độ giao dịch siêu nhanh theo tốc độ truyền thông qua Internet, việc phân phối và chia sẻ thông tin diễn ra cực kì nhanh chóng. Người mua, người bán có thể trao đổi thông tin tức thời dù ở bất kì khoảng cách nào, cho phép tiết kiệm thời gian lao động, chuyển lao động cho hoạt động mua sắm sang các hoạt động sản xuất của cải vật chất khác tạo ra các giá trị mới cho xã hội [5, 28]. Thứ hai, ứng dụng TMĐT giúp các chủ thể thực hiện quyền tự do kinh doanh dễ dàng hơn. Mọi cá nhân, doanh nghiệp có thể tham gia hoạt động kinh doanh qua mạng Internet mà trong TMTTh là khó có thể.
Tự do kinh doanh là nguyên tắc quan trọng của nền kinh tế thị trường. Các chủ thể kinh doanh ứng dụng TMĐT sẽ có nhiều cơ hội hơn để tham gia các hoạt động kinh doanh, tìm kiếm khách hàng, phát triển thị trường, tăng doanh thu và lợi nhuận. Thứ ba, ứng dụng TMĐT giúp các chủ thể kinh doanh cạnh tranh gay gắt hơn nhưng cũng bình đẳng hơn so với kinh doanh truyền thống. Trong thị trường điện tử, không bị giới hạn không gian và thời gian, các cửa hàng điện tử được mở liên tục đã tạo ra sự cạnh tranh theo thời gian thực 24/24, cạnh tranh phi biên giới; điều này không có trong kinh doanh truyền thống.
Nhưng cũng chính đó, một cửa hàng nhỏ biết tận dụng và khai thác tốt TMĐT vẫn có thể triển khai kinh doanh trực tuyến dễ dàng và bình đẳng với các doanh nghiệp lớn trên mạng. Thứ tư, ứng dụng TMĐT giúp các chủ thể kinh doanh nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng cường đổi mới công nghệ, đổi mới quản lí và cách thức kinh doanh, năng động hơn trong môi trường kinh doanh với nhiều thay đổi. Thứ năm, đối với người tiêu dùng, có thêm kênh mua sắm, nhiều sự lựa chọn hàng hóa, khả năng mua hàng giá rẻ hơn có chất lượng và được phục vụ tốt. Người tiêu dùng có thể tiếp cận nhiều thông tin về mua sắm, sử dụng sản phẩm nhanh 17 chóng hơn, đa dạng hơn, làm cho vòng đời sản phẩm ngắn lại, hối thúc các doanh nghiệp sản xuất tăng cường sáng tạo mẫu mã sản phẩm mới [5, tr.32] Thứ sáu, ứng dụng TMĐT giúp cộng đồng xã hội phát triển, nâng cao dân trí, tạo thêm công việc mới trong xã hội, tiết kiệm tài nguyên cho xã hội, giảm bớt sự đi lại do trao đổi thông tin qua mạng từ xa, giảm ô nhiễm môi trường, cải thiện đời sống người dân, nâng cao thu nhập cộng đồng [5, tr.
Khái niệm, phân loại, lợi ích và những khó khăn của BLĐT 2.