Tổng quan luận án
Vấn đề nghèo và giảm nghèo là hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, đồng thời là thách thức phát triển đối với mọi quốc gia. Trong 17 mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc đến năm 2030, xoá nghèo hoàn toàn dưới mọi hình thức được đặt ở vị trí đầu tiên. Tại Việt Nam, sau giai đoạn giảm nhanh tỷ lệ nghèo từ 60% vào đầu thập niên 1990 xuống 14,2% năm 2010 theo Báo cáo Đánh giá nghèo của Ngân hàng Thế giới (WB), công cuộc giảm nghèo bước sang giai đoạn mới khi áp dụng chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều từ năm 2016. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm từ 9,9% năm 2016 xuống 2,23% năm 2021. Tuy nhiên, tình trạng nghèo đói vẫn tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nơi người dân đối mặt với sự hạn chế về nguồn vốn sinh kế, học vấn, điều kiện y tế, hạ tầng giao thông và nguy cơ tái nghèo do biến đổi khí hậu cũng như các biến động kinh tế - xã hội.
Tỉnh Nghệ An có diện tích tự nhiên 16.490 km² (lớn nhất cả nước) và dân số 3.409,8 nghìn người (năm 2021, đứng thứ tư cả nước), có sự phân hóa sâu sắc giữa vùng đồng bằng ven biển và vùng miền núi phía Tây. Vùng miền núi phía Tây Nghệ An gồm 11 huyện thị, có tổng số hộ chỉ bằng gần 3/5 vùng đồng bằng (gồm 10 huyện thị), nhưng số hộ nghèo lại cao gấp 5,3 lần so với vùng đồng bằng. Trong đó, khu vực miền núi Tây Bắc tỉnh Nghệ An (viết tắt là KVMNTBNA) bao gồm 6 đơn vị hành chính cấp huyện: Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ và thị xã Thái Hoà. Khu vực này chiếm diện tích 5.369,9 km² (32,54% diện tích toàn tỉnh) và dân số 635.438 người (18,63% dân số toàn tỉnh năm 2021). Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2016 – 2020 đạt 6,56%, giá trị tăng thêm bình quân đầu người của khu vực mới chỉ bằng 70% mức bình quân toàn tỉnh; tỷ lệ hộ nghèo vẫn ở mức cao và có sự chênh lệch lớn giữa các địa phương, kết quả giảm nghèo đối diện với nguy cơ thiếu bền vững do tỷ lệ tái nghèo còn cao.
Xuất phát từ thực tế đó, tác giả Trương Thị Như Nguyệt đã thực hiện luận án tiến sĩ Địa lí học với đề tài: "Nghèo và giảm nghèo ở khu vực miền núi Tây Bắc tỉnh Nghệ An" tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (năm 2024), dưới sự hướng dẫn của GS. Lê Văn Thông và PGS. Nguyễn Thị Trang Thanh. Khoảng trống nghiên cứu mà luận án tập trung giải quyết là việc thiếu vắng một công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện về nghèo và giảm nghèo dưới góc độ Địa lí học ở cấp tiểu vùng miền núi Tây Bắc Nghệ An trong giai đoạn đầu chuyển đổi sang phương pháp đo lường nghèo đa chiều (2016 – 2021).
Luận án tập trung giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:
- Vấn đề nghèo và giảm nghèo ở KVMNTBNA chịu ảnh hưởng của những nhân tố nào?
- Hiện trạng nghèo và giảm nghèo của KVMNTBNA trong giai đoạn đầu áp dụng chuẩn nghèo đa chiều như thế nào?
- Những giải pháp nào cần được thực hiện nhằm giảm nghèo cho KVMNTBNA trong tương lai?
Mục tiêu chung của luận án là phân tích các nhân tố ảnh hưởng, đánh giá thực trạng nghèo và giảm nghèo ở KVMNTBNA dưới góc độ Địa lí học, từ đó đề xuất các giải pháp giảm nghèo cho khu vực đến năm 2030. Để hiện thực hóa mục tiêu này, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan, kế thừa và cập nhật cơ sở lí luận, thực tiễn về nghèo và giảm nghèo; xác định hệ thống chỉ tiêu đánh giá nghèo và giảm nghèo phù hợp với khu vực nghiên cứu.
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo và giảm nghèo ở KVMNTBNA (vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và các nhân tố kinh tế – xã hội).
- Phân tích thực trạng nghèo và giảm nghèo ở KVMNTBNA giai đoạn 2016 – 2021, làm rõ những kết quả đạt được và các hạn chế cần khắc phục.
- Đề xuất hệ thống giải pháp và khuyến nghị nhằm thực hiện giảm nghèo bền vững cho KVMNTBNA trong tương lai.
Đối tượng nghiên cứu trực tiếp là hộ nghèo tại KVMNTBNA (tập trung tại các huyện Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong và thị xã Thái Hòa). Nhằm tạo cơ sở so sánh, tác giả khảo sát mở rộng sang các nhóm hộ cận nghèo, hộ trung bình và hộ khá giả trên địa bàn. Về phạm vi không gian, luận án bao quát 6 đơn vị hành chính cấp huyện thuộc KVMNTBNA trong mối tương quan với tỉnh Nghệ An và vùng phụ cận; đồng thời thực hiện khảo sát vi mô tại 3 xã và 1 thị trấn: xã Nghĩa Lạc, thị trấn Nghĩa Đàn (thuộc huyện Nghĩa Đàn - vùng trung tâm gò đồi) và xã Tri Lễ, xã Tiền Phong (thuộc huyện Quế Phong - vùng cao biên giới). Về phạm vi thời gian, các phân tích kinh tế – xã hội và hiện trạng nghèo tập trung vào giai đoạn 2016 – 2021 (giai đoạn đầu áp dụng chuẩn nghèo đa chiều theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ), định hướng giải pháp đến năm 2030; các dữ liệu chi tiết về lao động và cơ cấu dân tộc cấp huyện sử dụng số liệu từ cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 của Cục Thống kê tỉnh Nghệ An.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án được phân chia theo ba cấp độ: nghiên cứu trên thế giới, nghiên cứu tại Việt Nam và các công trình cụ thể tại tỉnh Nghệ An.
Trên thế giới, quan niệm về nghèo phát triển từ tiếp cận đơn chiều sang tiếp cận đa chiều. Khái niệm nghèo đơn chiều dựa trên thu nhập được làm rõ tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Phát triển xã hội (1995). Khái niệm nhu cầu cơ bản được Ủy ban Kinh tế – Xã hội châu Á và Thái Bình Dương (ESCAP) đề xuất năm 1993, sau đó được Amartya Sen hoàn thiện qua luận điểm về nhu cầu tối thiểu vật chất và tinh thần. Tuyên bố của Liên hợp quốc (UN) tháng 6/2008 chính thức xác lập khái niệm nghèo đa chiều bao gồm thu nhập, việc làm, cơ hội tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục và nguồn vốn phát triển sản xuất. Về công cụ đo lường, WB đưa ra tiêu chí nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối; Loranzo D. Giovanni Belly và Paolo Leberati (FAO) đề xuất phương pháp mức thu nhập (IL) và vị trí thu nhập (IP); Prakash Longani (IMF) phân tích sự cần thiết của việc điều chỉnh ngưỡng nghèo theo thời gian và không gian. Năm 2007, Sabina Alkire và James Foster (OPHI) xây dựng phương pháp đo lường nghèo đa chiều, được Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đưa vào Báo cáo Phát triển con người năm 2010 với chỉ số nghèo đa chiều (MPI) dựa trên 3 chiều (y tế, giáo dục, điều kiện sống) và 10 chỉ số phúc lợi. Năm 2021, Alkire, Usha Kanagaratnam và Nicolai Suppa khảo sát MPI tại 109 quốc gia; Mauricio Gallardo (2019) phát triển chỉ số tính năng nghèo đói đa chiều (VMPI).
Về mặt lý thuyết và can thiệp thực tiễn, luận án điểm lại:
- Lý thuyết Keynesian về vai trò của chính sách tài khóa và chi tiêu công trong việc tạo việc làm và kích thích tăng trưởng kinh tế.
- Lý thuyết Loại trừ xã hội (Social Exclusion) nhấn mạnh nguyên nhân nghèo do rào cản tiếp cận các cơ hội, dịch vụ cơ bản và quyền công dân.
- Lý thuyết Phát triển con người của Amartya Sen coi giảm nghèo là mở rộng quyền tự do lựa chọn và nâng cao năng lực cá nhân.
- Lý thuyết Phát triển bền vững giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.
- Các lý thuyết tiếp cận thị trường, phân phối công bằng, phát triển cơ sở và phát triển khu vực.
- Các nghiên cứu thực nghiệm của Nanak Kakwani và Ernesto M. Pernia về tăng trưởng vì người nghèo; Abhijit V. Banerjee và Esther Duflo trong tác phẩm Poor Economics với phương pháp thử nghiệm ngẫu nhiên; bài học giảm nghèo từ Hoa Kỳ (gắn trợ cấp với tìm việc), Mexico (chương trình chuyển tiền có điều kiện), Philippines giai đoạn 2017 – 2022, Trung Quốc (chiến lược phát triển lâm nghiệp phi gỗ và du lịch vùng núi) và Malaysia (mô hình "làng thông minh" diện tích 12 ha cho 100 hộ dân có hạ tầng 4G).
Tại Việt Nam, các nghiên cứu cơ sở lý luận tiếp nhận khái niệm của ESCAP (1993) và Báo cáo Phát triển Việt Nam năm 2000 (Tấn công nghèo đói) của WB. Cơ sở pháp lý về nghèo đa chiều được định hình qua Nghị quyết số 76/2014/QH13 của Quốc hội, Quyết định số 2324/QĐ-TTg và Quyết định số 1614/QĐ-TTg năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều giai đoạn 2016 – 2020. Tác giả Vũ Hoàng Linh đề xuất tiếp cận song song giữa chuẩn nghèo Chính phủ và chuẩn nghèo WB - TCTK. Lê Thị Thanh Loan và Nguyễn Thanh Bình phân tích tác động của các biến số học vấn, chuyên môn, nơi cư trú, tuổi, việc làm và dân tộc đến nghèo đa chiều; Lê Hà, Nguyễn Cường và Phùng Tùng (2015) ứng dụng phương pháp Alkire - Foster chỉ ra sự khác biệt giữa nghèo thu nhập và nghèo đa chiều tại các vùng sinh thái; TCTK và UNDP (2020) công bố Báo cáo nghèo đa chiều ở Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020; Báo cáo Nghèo đa chiều năm 2021 xác định 5 nhóm giải pháp giảm nghèo quốc gia. Nhiều công trình nghiên cứu mức sống dân cư dưới góc độ Địa lí học của các tác giả tại Sơn La, Bình Định, Thái Nguyên cũng sử dụng các chỉ tiêu hộ nghèo và điều kiện sống làm tiêu chí bổ trợ.
Tại Nghệ An, các nghiên cứu Địa lí học kinh tế trước đây chủ yếu đi sâu vào tổ chức lãnh thổ công nghiệp, nông nghiệp hoặc tổ chức lãnh thổ kinh tế chung của tỉnh. Về vấn đề nghèo, có đề tài khoa học cấp tỉnh: "Nghiên cứu đề xuất giải pháp và xây dựng mô hình kinh tế giảm nghèo theo hướng bền vững cho các xã bãi ngang ven biển và miền núi tỉnh Nghệ An" (năm 2015). Tuy nhiên, đề tài này tiếp cận dưới góc độ chính sách kinh tế chung, chưa phân tích chuyên sâu KVMNTBNA dưới góc độ phân hóa không gian Địa lí học trong bối cảnh chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016 – 2021.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết là: tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng, đánh giá sự phân hóa không gian về hiện trạng nghèo, mức độ thiếu hụt 5 dịch vụ xã hội cơ bản và chỉ số MPI giữa 6 huyện thị thuộc KVMNTBNA; đồng thời kết hợp dữ liệu thống kê thứ cấp với kết quả khảo sát thực địa 160 hộ gia đình để làm sáng tỏ các nguyên nhân nghèo đặc thù và đề xuất giải pháp phát triển sinh kế thích ứng cho từng tiểu vùng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên 4 quan điểm tiếp cận của khoa học Địa lí:
- Quan điểm tổng hợp lãnh thổ: Đặt vấn đề nghèo của KVMNTBNA trong tổng thể chiến lược phát triển vùng miền Tây Nghệ An, tỉnh Nghệ An và vùng Bắc Trung Bộ; xem xét sự tương tác qua lại giữa kinh tế, văn hóa và môi trường.
- Quan điểm hệ thống: Coi nghèo và giảm nghèo là một hệ thống con chịu sự tác động đồng thời của vị trí địa lí, tài nguyên tự nhiên, dân cư, hạ tầng và thể chế chính sách.
- Quan điểm lịch sử – viễn cảnh: Phân tích hiện trạng nghèo trong tiến trình chuyển đổi các chuẩn nghèo qua các thời kỳ, từ đó dự báo xu hướng và xác lập tầm nhìn đến năm 2030.
- Quan điểm phát triển bền vững: Hướng tới việc tăng thu nhập và cải thiện mức sống cho người nghèo nhưng không đánh đổi môi trường sinh thái, bảo tồn văn hóa và tri thức bản địa của đồng bào dân tộc thiểu số.
Về khung khái niệm, luận án làm rõ các khái niệm: nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo có nhu cầu tối thiểu, hộ cận nghèo, tỷ lệ nghèo, sinh kế (5 nguồn vốn theo khung DFID: tự nhiên, vật chất, con người, tài chính, xã hội), việc làm và bất bình đẳng.
Hệ thống đo lường nghèo đa chiều được áp dụng theo phương pháp Alkire - Foster:
- Tỷ lệ đếm đầu đa chiều ($H$): $H = \frac{q}{n}$ (với $q$ là số hộ nghèo đa chiều, $n$ là tổng số hộ điều tra).
- Độ sâu của nghèo ($A$):
$$A = \frac{\sum_{i=1}^{n} c_i(k)}{q}$$
(với $c_i(k)$ là điểm số thiếu hụt đã gia trọng của hộ $i$).
- Chỉ số nghèo đa chiều ($MPI$): $MPI = H \times A$.
Luận án sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp thu thập tài liệu: Thu thập dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo của UNDP, WB, Tổng cục Thống kê, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Nghệ An, Cục Thống kê tỉnh Nghệ An, Niên giám thống kê tỉnh và UBND các huyện thị từ năm 2016 đến 2021.
- Phương pháp thống kê: Xử lý chuỗi số liệu định lượng, lập bảng biểu so sánh, phân tích tương quan bằng phần mềm SPSS 20.0 và Microsoft Excel 2019.
- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp: So sánh chỉ số nghèo giữa các huyện thị và giữa KVMNTBNA với toàn tỉnh Nghệ An.
- Phương pháp khảo sát thực địa: Tiến hành điều tra bảng hỏi trực tiếp 160 hộ gia đình tại 2 huyện đại diện (Quế Phong đại diện vùng cao biên giới và Nghĩa Đàn đại diện vùng đồi trung tâm). Mẫu khảo sát phân bổ cụ thể theo bảng số liệu thực tế sau:
| Địa phương |
Khá giả (hộ) |
Khá giả (%) |
Trung bình (hộ) |
Trung bình (%) |
Cận nghèo (hộ) |
Cận nghèo (%) |
Nghèo (hộ) |
Nghèo (%) |
Tổng số hộ |
| Xã Nghĩa Lạc (Nghĩa Đàn) |
3 |
9,1 |
5 |
15,2 |
20 |
60,6 |
5 |
15,1 |
33 |
| Thị trấn Nghĩa Đàn (Nghĩa Đàn) |
8 |
25,0 |
7 |
21,9 |
7 |
21,9 |
10 |
31,2 |
32 |
| Xã Tri Lễ (Quế Phong) |
3 |
6,4 |
5 |
10,6 |
5 |
10,6 |
34 |
72,4 |
47 |
| Xã Tiền Phong (Quế Phong) |
2 |
4,2 |
4 |
8,3 |
12 |
25,0 |
30 |
62,5 |
48 |
| Tổng cộng |
16 |
10,0 |
21 |
13,1 |
44 |
27,5 |
79 |
49,4 |
160 |
Cơ cấu mẫu theo dân tộc gồm 34 hộ người Kinh (21,3%) và 126 hộ người dân tộc thiểu số (78,7%, trong đó riêng dân tộc Thái có 72 hộ). Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo chiếm 76,9% tổng mẫu khảo sát.
5. Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến các chuyên gia thuộc lĩnh vực Dân số, Công tác xã hội, cán bộ quản lý Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Nghệ An, phòng Lao động - Thương binh và Xã hội các huyện thị.
6. Phương pháp bản đồ: Sử dụng phần mềm MapInfo thành lập 7 bản đồ chuyên đề cấp khu vực: bản đồ hành chính; bản đồ phân loại xã khu vực I, II, III; bản đồ nhân tố tự nhiên; bản đồ nhân tố kinh tế – xã hội; bản đồ hiện trạng nghèo; bản đồ mức độ thiếu hụt các chỉ số dịch vụ xã hội cơ bản; bản đồ hiện trạng giảm nghèo.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở khoa học về nghèo và giảm nghèo
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về nghèo, chuẩn nghèo và các lý thuyết can thiệp giảm nghèo. Tác giả phân tích tiến trình biến đổi chuẩn nghèo tại Việt Nam từ chuẩn nghèo đơn chiều (dựa trên mức chi tiêu lương thực thực phẩm 2.100 kcalo/người/ngày hoặc mức thu nhập tối thiểu bằng tiền) sang chuẩn nghèo đa chiều. Khung chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016 – 2020 theo quy định của Chính phủ được luận án làm rõ theo các tiêu chí tại bảng sau:
| Đối tượng |
Khu vực nông thôn |
Khu vực thành thị |
| Chuẩn hộ nghèo |
- Thu nhập bình quân đầu người $\le$ 700.000 đồng/tháng; - Thu nhập > 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng/tháng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường trở lên. |
- Thu nhập bình quân đầu người $\le$ 900.000 đồng/tháng; - Thu nhập > 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng/tháng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường trở lên. |
| Chuẩn hộ cận nghèo |
Thu nhập bình quân đầu người > 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng/tháng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường. |
Thu nhập bình quân đầu người > 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng/tháng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường. |
| Chuẩn hộ có mức sống trung bình |
Thu nhập bình quân đầu người > 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng/tháng. |
Thu nhập bình quân đầu người > 1.300.000 đồng đến 1.950.000 đồng/tháng. |
Chương này cũng xác định 5 dịch vụ xã hội cơ bản và 10 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt: y tế (tiếp cận dịch vụ y tế, bảo hiểm y tế); giáo dục (trình độ giáo dục của người lớn, tình trạng đi học của trẻ em); nhà ở (chất lượng nhà ở, diện tích nhà ở bình quân); nước sinh hoạt và vệ sinh (nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh, hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh); thông tin (sử dụng dịch vụ viễn thông, tài sản phục vụ tiếp cận thông tin). Đồng thời, chương 1 xác lập hệ thống tiêu chí đánh giá giảm nghèo gồm: số hộ và tỷ lệ hộ thoát nghèo, số hộ và tỷ lệ hộ tái nghèo, nguồn vốn huy động và hiệu quả hoạt động của các tổ chức đoàn thể.
Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo và giảm nghèo ở khu vực miền núi Tây Bắc tỉnh Nghệ An
Chương 2 phân tích tác động của các điều kiện địa lí, tự nhiên và kinh tế – xã hội đối với nghèo và giảm nghèo tại 6 huyện thị KVMNTBNA:
- Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ: Khu vực có diện tích 5.369,9 km², tiếp giáp tỉnh Thanh Hóa, nước CHDCND Lào (tại Quế Phong) và các huyện miền núi phía Nam Nghệ An. Địa bàn là cửa ngõ giao lưu kinh tế qua Quốc lộ 48 và đường Hồ Chí Minh, nhưng địa hình chia cắt phức tạp gây trở ngại lớn cho việc kết nối giao thông liên thôn, liên xã ở vùng cao.
- Nhân tố tự nhiên: Tài nguyên đất phong phú với dải đất đỏ bazan màu mỡ tại Phủ Quỳ (Nghĩa Đàn, thị xã Thái Hòa) thuận lợi quy hoạch vùng chuyên canh cây công nghiệp (cao su, cà phê, chè, mía) và cây ăn quả; tuy nhiên vùng núi Quế Phong, Quỳ Châu chủ yếu là đất feralit dốc, dễ bị xói mòn. Tài nguyên nước dồi dào nhưng phân bố không đều theo mùa, thường xuyên gây lũ ống, lũ quét, sạt lở đất trong mùa mưa và hạn hán, thiếu nước sinh hoạt vào mùa khô. Tài nguyên khoáng sản (thiếc, đá hoa trắng ở Quỳ Hợp, đá vôi ở Tân Kỳ) tạo điều kiện phát triển công nghiệp khai thác nhưng cũng gây áp lực ô nhiễm môi trường và suy giảm diện tích đất sản xuất nông nghiệp.
- Nhân tố kinh tế – xã hội: Quy mô dân số khu vực năm 2021 là 635.438 người; thành phần dân tộc đa dạng gồm người Kinh, Thái, Thổ, Mông, Khơ Mú. Tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp; chuyển cư năm 2019 cho thấy xu hướng xuất cư lao động tự do ra các tỉnh phía Nam. Tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 6,56% giai đoạn 2016 – 2020 nhưng cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm. Cơ sở hạ tầng y tế, giáo dục đã được đầu tư xây dựng nhưng chất lượng chưa đồng đều giữa các xã vùng I, vùng II và vùng III. Các chương trình giảm nghèo của Nhà nước (Chương trình 30a, Chương trình 135, Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững) tạo nguồn lực quan trọng nhưng tâm lý trông chờ, ỷ lại vào chính sách trợ cấp của một bộ phận người dân vẫn còn tồn tại.
Chương 3: Hiện trạng nghèo và giảm nghèo ở khu vực miền núi Tây Bắc tỉnh Nghệ An
Chương 3 trình bày kết quả phân tích số liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát thực địa về thực trạng nghèo và giảm nghèo giai đoạn 2016 – 2021:
- Hiện trạng nghèo: Số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo toàn khu vực giảm liên tục nhưng có sự phân hóa sâu sắc theo không gian lãnh thổ. Tỷ lệ hộ nghèo tập trung cao nhất ở các huyện vùng cao, vùng biên giới như Quế Phong và Quỳ Châu (nhiều xã có tỷ lệ hộ nghèo trên 30% - 40%), trong khi thị xã Thái Hòa và huyện Nghĩa Đàn có tỷ lệ nghèo thấp nhất khu vực.
- Thu nhập và chi tiêu: Thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo rất thấp, chủ yếu dựa vào sản xuất nông - lâm nghiệp tự túc và làm thuê thời vụ. Cơ cấu chi tiêu của hộ nghèo tập trung phần lớn cho nhu cầu lương thực, thực phẩm thiết yếu (chiếm trên 60% tổng chi tiêu); chi phí cho học hành, khám chữa bệnh rất hạn chế; hầu như không có tích lũy tài chính để tái đầu tư mở rộng sản xuất.
- Sự thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản: Tỷ lệ thiếu hụt cao nhất rơi vào các chỉ số: nhà tiêu hợp vệ sinh, nguồn nước sạch sinh hoạt, chất lượng nhà ở (nhà tạm, dột nát, diện tích dưới 8m²/người) và trình độ học vấn của người lớn. Mức độ thiếu hụt bảo hiểm y tế thấp do người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số tại các xã vùng khó khăn được cấp thẻ BHYT miễn phí theo quy định nhà nước.
- Chỉ số nghèo đa chiều (MPI): Giá trị MPI của các huyện vùng cao Quế Phong, Quỳ Châu cao hơn đáng kể so với mức bình quân toàn tỉnh Nghệ An và các huyện Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, thị xã Thái Hòa, phản ánh cả tỷ lệ hộ nghèo cao lẫn độ sâu thiếu hụt đa chiều lớn.
- Nguyên nhân nghèo: Tổng hợp từ dữ liệu thống kê năm 2021 và khảo sát thực địa chỉ ra các nguyên nhân chính: thiếu vốn sản xuất (chiếm tỷ trọng cao nhất), thiếu đất sản xuất, thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật, hộ có người ốm đau bệnh tật kinh niên, đông con và thiếu lao động.
- Hiện trạng giảm nghèo: Giai đoạn 2017 – 2021 ghi nhận hàng nghìn hộ thoát nghèo mỗi năm, tuy nhiên số hộ tái nghèo và phát sinh nghèo mới vẫn còn cao sau mỗi đợt thiên tai, dịch bệnh (đặc biệt là tác động của dịch Covid-19). Vốn tín dụng chính sách từ Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) giữ vai trò chủ lực trong cung ứng vốn ưu đãi cho hộ nghèo; các tổ chức đoàn thể (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Mặt trận Tổ quốc) đã tham gia quản lý tổ tiết kiệm và vay vốn, tổ chức tập huấn chuyển giao kỹ thuật khuyến nông - khuyến lâm.
Chương 4: Các giải pháp giảm nghèo ở khu vực miền núi Tây Bắc tỉnh Nghệ An
Dựa trên Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, Kế hoạch thực hiện Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 – 2025 và kết quả điều tra nguyện vọng hộ nghèo (mong muốn được hỗ trợ vốn vay ưu đãi dài hạn, hỗ trợ giống cây trồng - vật nuôi, hướng dẫn kỹ thuật canh tác và xây dựng nhà ở), tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp:
- Phát triển kinh tế – xã hội khu vực: Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp gắn với chế biến nông - lâm sản; mở rộng vùng chuyên canh chè, mía, cao su, cây ăn quả có múi tại Nghĩa Đàn, Thái Hòa, Quỳ Hợp; quy hoạch diện tích rừng sản xuất gắn với chứng chỉ rừng bền vững tại Quế Phong, Quỳ Châu; phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa Thái, Thổ; đẩy mạnh triển khai chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP).
- Phát triển sinh kế cho hộ nghèo và cận nghèo: Xây dựng các mô hình sinh kế nông nghiệp thích ứng với điều kiện địa hình đồi núi; chuyển giao giống lúa mới, giống ngô năng suất cao; phát triển chăn nuôi gia súc có chuồng trại (bò thịt, trâu, lợn đen bản địa); tổ chức đào tạo nghề gắn với nhu cầu thực tế và hỗ trợ đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài hoặc tại các khu công nghiệp.
- Nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản: Đầu tư nâng cấp hệ thống giao thông nông thôn và công trình cấp nước sinh hoạt tập trung tại các thôn bản đặc biệt khó khăn; hỗ trợ kinh phí xóa nhà tạm, nhà dột nát theo tiêu chí 3 cứng (nền cứng, khung - tường cứng, mái cứng); kiên cố hóa trường lớp học, duy trì chế độ bán trú cho học sinh vùng cao; nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại các trạm y tế xã; phủ sóng viễn thông và internet đến các bản vùng sâu.
- Nâng cao khả năng chống chịu tổn thương cho hộ nghèo và cận nghèo: Thiết lập hệ thống cảnh báo sớm thiên tai, lũ quét, sạt lở đất; nhân rộng các gói bảo hiểm nông nghiệp đối với cây trồng, vật nuôi chủ lực; xây dựng quỹ dự phòng rủi ro cấp cơ sở để trợ cấp kịp thời cho các hộ gặp biến cố đột xuất, ngăn chặn nguy cơ tái nghèo.
- Tập trung giảm nghèo trong cộng đồng các dân tộc thiểu số: Ban hành chính sách hỗ trợ đất sản xuất và đất ở cho các hộ dân tộc thiểu số thiếu đất; bảo tồn tiếng nói, chữ viết và nghề dệt thổ cẩm truyền thống gắn với chuỗi giá trị hàng hóa; phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín trong việc vận động bài trừ hủ tục và xóa bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại.
Về khuyến nghị thực thi, luận án nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi căn bản cách tiếp cận giảm nghèo: chuyển từ cơ chế hỗ trợ cho không sang hỗ trợ có điều kiện, gắn quyền lợi với nghĩa vụ và trách nhiệm tự vươn lên của hộ nghèo; tăng cường phân cấp, trao quyền cho chính quyền cấp xã và cộng đồng thôn bản trong việc lựa chọn mô hình sinh kế và bình xét đối tượng thụ hưởng.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án đã vận dụng sáng tạo hệ thống quan điểm Địa lí học (tổng hợp lãnh thổ, hệ thống, lịch sử – viễn cảnh, phát triển bền vững) vào việc phân tích vấn đề nghèo đa chiều tại một khu vực miền núi cấp tiểu vùng. Công trình đã làm rõ tính đặc thù của việc kết hợp các tiêu chí thu nhập và mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản theo không gian lãnh thổ cấp huyện và xã.
Về mặt thực tiễn, luận án đã đạt được các kết quả cụ thể:
- Làm sáng tỏ bức tranh phân hóa không gian nghèo đa chiều tại KVMNTBNA giai đoạn 2016 – 2021; chỉ rõ sự phân cực giữa hai tiểu vùng: tiểu vùng gò đồi phát triển nông nghiệp hàng hóa (Nghĩa Đàn, Thái Hòa) có tỷ lệ nghèo thấp và tiểu vùng núi cao biên giới (Quế Phong, Quỳ Châu) có tỷ lệ nghèo và chỉ số MPI ở mức cao.
- Đo lường chi tiết mức độ thiếu hụt của 10 chỉ số dịch vụ xã hội cơ bản, xác định nước sạch, nhà tiêu hợp vệ sinh và nhà ở là những rào cản thiếu hụt nghiêm trọng nhất đối với hộ nghèo trong khu vực.
- Xây dựng hệ thống 7 bản đồ chuyên đề minh họa trực quan sự phân bố địa lí của các nhân tố tự nhiên, kinh tế – xã hội và hiện trạng nghèo - giảm nghèo.
- Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp và các kiến nghị mang tính phân hóa lãnh thổ, phù hợp với định hướng quy hoạch và thực tiễn triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến năm 2030.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế, luận án bị giới hạn bởi nguồn dữ liệu thống kê chính thức cấp huyện: số liệu thống kê thường niên của tỉnh không có số liệu chi tiết phân theo thành phần dân tộc và cơ cấu lao động chuyên sâu đến từng địa phương, do đó tác giả phải sử dụng dữ liệu từ cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 của Cục Thống kê tỉnh Nghệ An. Ngoài ra, quy mô khảo sát thực địa mẫu dừng lại ở 160 hộ gia đình tại 4 đơn vị cấp xã/thị trấn thuộc 2 huyện (Nghĩa Đàn và Quế Phong), chưa thể bao quát hết toàn bộ các điểm bản vùng sâu của 4 huyện còn lại.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng đánh giá hiện trạng nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 – 2025 (quy định tại Nghị định số 07/2021/NĐ-CP, bổ sung chiều thiếu hụt về việc làm và chỉ số dinh dưỡng); đồng thời tiến hành nghiên cứu sâu về tác động của chuyển đổi số, kinh tế số và liên kết chuỗi giá trị nông sản đối với quá trình thoát nghèo bền vững của đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu học thuật có giá trị tham khảo cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên thuộc các chuyên ngành Địa lí kinh tế – xã hội, Kinh tế phát triển, Xã hội học và Quản lý công. Phương pháp kết hợp phân tích thống kê kinh tế - xã hội với khảo sát vi mô hộ gia đình và xây dựng bản đồ chuyên đề là chỉ dẫn hữu ích cho các nghiên cứu địa lí khu vực.
Đối với thực tiễn quản lý, các kết quả đánh giá thực trạng và hệ thống bản đồ phân hóa nghèo là căn cứ khoa học trực tiếp cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Nghệ An, cũng như Ủy ban nhân dân các huyện Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ và thị xã Thái Hòa. Số liệu và giải pháp của luận án hỗ trợ các cơ quan hoạch định chính sách phân bổ nguồn vốn đầu tư công, xây dựng kế hoạch thực hiện Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững và Chương trình MTQG phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi sát hợp với nhu cầu của từng địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Phạm vi không gian của khu vực miền núi Tây Bắc tỉnh Nghệ An trong luận án gồm những đơn vị hành chính nào và có quy mô ra sao?
KVMNTBNA gồm 6 đơn vị hành chính cấp huyện: huyện Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ và thị xã Thái Hoà. Năm 2021, khu vực có tổng diện tích tự nhiên là 5.369,9 km² (chiếm 32,54% diện tích tỉnh Nghệ An) và dân số là 635.438 người (chiếm 18,63% dân số toàn tỉnh).
2. Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 – 2020 áp dụng trong luận án được quy định như thế nào?
Theo quy định áp dụng trong luận án, tại khu vực nông thôn, hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người từ 700.000 đồng/tháng trở xuống, hoặc trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng/tháng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Tại khu vực thành thị, mức thu nhập tương ứng là từ 900.000 đồng/tháng trở xuống, hoặc trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng/tháng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường trở lên.
3. Cơ cấu mẫu khảo sát thực địa 160 hộ gia đình của luận án được phân bổ như thế nào?
Khảo sát được thực hiện trên 160 hộ tại huyện Nghĩa Đàn (xã Nghĩa Lạc 33 hộ, thị trấn Nghĩa Đàn 32 hộ) và huyện Quế Phong (xã Tri Lễ 47 hộ, xã Tiền Phong 48 hộ). Về tình trạng kinh tế, mẫu gồm 79 hộ nghèo (49,4%), 44 hộ cận nghèo (27,5%), 21 hộ trung bình (13,1%) và 16 hộ khá giả (10,0%). Về thành phần dân tộc, có 34 hộ người Kinh (21,3%) và 126 hộ dân tộc thiểu số (78,7%, trong đó người Thái chiếm 72 hộ).
4. Những chỉ số dịch vụ xã hội cơ bản nào bị thiếu hụt nghiêm trọng nhất ở các hộ nghèo tại KVMNTBNA?
Kết quả nghiên cứu và điều tra thực địa cho thấy các chỉ số thiếu hụt phổ biến nhất của hộ nghèo trong khu vực là: nhà tiêu hợp vệ sinh, tiếp cận nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh, chất lượng nhà ở (nhà thiếu kiên cố hoặc đơn sơ, diện tích bình quân dưới 8m²/người) và trình độ học vấn của người lớn (chưa tốt nghiệp THCS). Trái lại, chỉ số tiếp cận bảo hiểm y tế có mức độ thiếu hụt rất thấp nhờ chính sách cấp phát thẻ BHYT miễn phí cho người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số.
5. Luận án xác định những nguyên nhân nghèo chủ yếu nào tại địa bàn nghiên cứu?
Các nguyên nhân chính dẫn đến nghèo tại KVMNTBNA được thống kê gồm: thiếu vốn sản xuất kinh doanh, thiếu đất sản xuất, thiếu kinh nghiệm và kiến thức làm ăn khoa học kỹ thuật, hộ gia đình có người mắc bệnh hiểm nghèo hoặc ốm đau lâu dài, hộ đông con và thiếu lao động chính trong gia đình.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trương Thị Như Nguyệt là công trình nghiên cứu chuyên sâu về nghèo và giảm nghèo tại khu vực miền núi Tây Bắc tỉnh Nghệ An dưới góc độ Địa lí học. Bằng việc tích hợp các phương pháp tiếp cận không gian, phân tích dữ liệu thống kê giai đoạn 2016 – 2021 và điều tra thực địa 160 hộ gia đình, luận án đã làm rõ hiện trạng phân hóa nghèo đa chiều cùng những thiếu hụt cơ bản về sinh kế và hạ tầng xã hội. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ, kết hợp phát triển kinh tế với nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội và giảm thiểu tổn thương sinh thái, cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn tin cậy cho công tác giảm nghèo bền vững tại Nghệ An đến năm 2030.