Nghiên cứu tác động của phát triển nghề nuôi trồng thủy sản đến giảm đói nghèo ở đầm phá Tam Giang

Luận án tiến sĩ phân tích xã hội học tác động của phát triển nghề nuôi trồng thủy sản đến giảm đói nghèo ở đầm phá tam giang, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2005

237
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU GIẢM ĐÓI NGHÈO VÙNG ĐẦM PHÁ TAM GIANG

1.1. Một số lý luận cơ bản tiếp cận vấn đề nghiên cứu

1.2. Các khái niệm cơ bản

1.3. Các lý thuyết và quan điểm tiếp cận vấn đề nghiên cứu

1.4. Vùng đầm phá Tam Giang Thừa Thiên Huế - hệ sinh thái - nhân văn ven biển đặc biệt

1.5. Vùng ven biển và cộng đồng cư dân ven biển

1.6. Đầm phá Tam Giang, Thừa Thiên Huế

1.7. Những yếu tố tác động đến giảm đói nghèo vùng đầm phá Tam Giang

1.8. Đổi mới toàn diện đất nước và chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn

1.9. Quan điểm cơ bản và mục tiêu chương trình Quốc gia về xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam

1.10. Mục tiêu về công nghiệp hoá, hiện đại hoá các vùng miền địa phương

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢM ĐÓI NGHÈO TRONG CÁC NHÓM DÂN CƯ DO PHÁT TRIỂN NGHỀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

2.1. Phát triển mở rộng nghề nuôi trồng thuỷ sản với vấn đề đói nghèo ở đầm phá Tam Giang

2.2. Tình trạng đói nghèo và bộ phận dân cư đói nghèo vùng đầm phá

2.3. Mở rộng diện tích, các loại hình nuôi trồng và tăng hiệu quả kinh tế thuỷ sản

2.4. Các thành phần xã hội tham gia phát triển nuôi trồng thủy sản

2.5. Thu hẹp diện tích và cạn dần đầm phá với vấn đề đói nghèo

2.6. Phát triển nuôi trồng thuỷ sản với những biến đổi tác động đến giàu - nghèo vùng đầm phá

2.7. Biến đổi cơ hội sử dụng tài nguyên chung với giàu nghèo

2.8. Sự biến đổi cơ cấu ngành nghề với vấn đề giàu nghèo

2.9. Thay đổi cơ cấu lao động và việc làm với giảm đói nghèo

2.10. Môi trường đầm phá trước những thách thức với đói nghèo và tái đói nghèo

2.11. Phát triển nghề nuôi trồng thuỷ sản tác động đến đời sống kinh tế của dân cư đầm phá

2.12. Sự biến đổi thu nhập, chi tiêu của các nhóm cư dân do nuôi trồng thuỷ sản

2.13. Sự thay đổi nhà cửa, các tiện nghi sinh hoạt với giảm nghèo

2.14. Sử dụng các trang thiết bị hiện đại phục vụ sản xuất và đời sống

2.15. Sự an toàn về lương thực, thực phẩm với giảm đói nghèo

2.16. Vấn đề tiếp cận y tế và giáo dục với giảm đói nghèo

2.17. Tiếp cận y tế và điều kiện chăm sóc sức khoẻ

2.18. Tiếp cận giáo dục với giảm đói nghèo

2.19. Những biến đổi về đời sống văn hóa tinh thần với giàu nghèo

2.20. Diện mạo mới về đời sống văn hoá của cộng đồng

2.21. Đời sống tâm linh và tình cảm

2.22. An ninh, trật tự, an toàn và vai trò của chính quyền, các thiết chế xã hội

2.23. Các yếu tố nội tại của cộng đồng tác động đến giảm đói nghèo

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Ở ĐẦM PHÁ TAM GIANG THEO HƯỚNG BỀN VỮNG GIẢM ĐÓI NGHÈO

3.1. Những cơ sở lý luận và thực tiễn của các giải pháp

3.2. Cơ sở lý luận của việc xác định các giải pháp

3.3. Cơ sở thực tế khách quan của các giải pháp

3.4. Một số nhóm giải pháp cơ bản nhằm phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững

3.5. Qui hoạch tổng thể hệ thống nuôi trồng thuỷ sản vùng đầm phá

3.6. Các giải pháp về chính sách chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp và giải quyết việc làm cho người lao động

3.7. Giải pháp mở rộng loại hình kinh tế hộ

3.8. Giải pháp chính sách về vốn

3.9. Giải pháp chính sách về kỹ thuật

3.10. Giải pháp về chính sách đào tạo, tuyên truyền giáo dục văn hoá xã hội

3.11. Giải pháp về an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội

3.12. Giải pháp tiếp cận cộng đồng bằng các dự án phát triển với sự tham gia của người dân

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC BẢNG

Tóm tắt

I. Tác động của nghề nuôi trồng thủy sản đến giảm nghèo

Nghề nuôi trồng thủy sản tại đầm phá Tam Giang đã trở thành một trong những giải pháp quan trọng trong việc giảm nghèo cho cộng đồng cư dân nơi đây. Theo nghiên cứu, nghề này không chỉ tạo ra nguồn thu nhập ổn định mà còn góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân. Việc phát triển nghề nuôi trồng thủy sản đã giúp tăng cường tác động kinh tế đến các hộ gia đình, từ đó nâng cao mức sống và giảm tỷ lệ đói nghèo. Nhiều hộ gia đình đã chuyển từ nghề đánh bắt truyền thống sang nuôi trồng, giúp họ có thể kiểm soát tốt hơn nguồn thu nhập và giảm thiểu rủi ro từ thiên nhiên.

1.1. Tình hình phát triển nghề nuôi trồng thủy sản

Nghề nuôi trồng thủy sảnđầm phá Tam Giang đã có sự phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây. Sự chuyển đổi này không chỉ diễn ra ở quy mô hộ gia đình mà còn ở các hợp tác xã, tạo ra một mô hình phát triển bền vững. Theo số liệu thống kê, diện tích nuôi trồng đã tăng đáng kể, từ đó sản lượng thủy sản cũng gia tăng. Điều này không chỉ giúp cải thiện đời sống người dân mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới. Các chính sách hỗ trợ từ chính quyền địa phương cũng đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành này, giúp người dân tiếp cận với các kỹ thuật nuôi trồng hiện đại và bền vững.

II. Tác động kinh tế và xã hội của nghề nuôi trồng thủy sản

Nghề nuôi trồng thủy sản không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn có tác động sâu sắc đến đời sống xã hội của cư dân đầm phá Tam Giang. Sự gia tăng thu nhập từ nghề này đã giúp nhiều hộ gia đình thoát khỏi tình trạng nghèo đói. Theo nghiên cứu, thu nhập bình quân của các hộ nuôi trồng thủy sản cao hơn so với các hộ chỉ dựa vào nghề đánh bắt truyền thống. Điều này đã dẫn đến sự thay đổi trong cấu trúc xã hội, khi nhiều hộ gia đình có khả năng đầu tư vào giáo dục và y tế, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống.

2.1. Biến đổi trong cơ cấu nghề nghiệp

Sự phát triển của nghề nuôi trồng thủy sản đã dẫn đến sự biến đổi trong cơ cấu nghề nghiệp của cư dân. Nhiều người đã từ bỏ nghề đánh bắt truyền thống để chuyển sang nuôi trồng, tạo ra một xu hướng mới trong việc làm. Điều này không chỉ giúp giảm áp lực lên nguồn lợi thủy sản tự nhiên mà còn tạo ra một môi trường làm việc ổn định hơn. Các chương trình đào tạo nghề và hỗ trợ kỹ thuật từ chính quyền đã giúp người dân nâng cao tay nghề, từ đó cải thiện năng suất và chất lượng sản phẩm.

III. Giải pháp phát triển nghề nuôi trồng thủy sản bền vững

Để đảm bảo sự phát triển bền vững của nghề nuôi trồng thủy sản tại đầm phá Tam Giang, cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Các chính sách hỗ trợ từ chính quyền địa phương cần được triển khai mạnh mẽ hơn, bao gồm việc cung cấp kỹ thuật, vốn và thị trường tiêu thụ sản phẩm. Đồng thời, việc bảo vệ tài nguyên nước và môi trường cũng cần được chú trọng để đảm bảo sự phát triển lâu dài của ngành này. Các chương trình hợp tác xã cũng nên được khuyến khích để tạo ra sức mạnh tập thể trong việc phát triển nghề nuôi trồng.

3.1. Chính sách hỗ trợ và đào tạo

Chính quyền địa phương cần xây dựng các chính sách hỗ trợ cụ thể cho nghề nuôi trồng thủy sản. Việc tổ chức các khóa đào tạo về kỹ thuật nuôi trồng, quản lý tài nguyên và thị trường tiêu thụ sẽ giúp người dân nâng cao năng lực sản xuất. Hơn nữa, việc kết nối giữa người nuôi trồng và các doanh nghiệp chế biến thủy sản sẽ tạo ra cơ hội tiêu thụ sản phẩm ổn định, từ đó góp phần vào việc giảm nghèo và phát triển kinh tế địa phương.

09/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN CUA VIỆC NGHIÊN CUU GIAM DOI NGHEO VUNG ĐÀM PHA TAM GIANG 1. Một số lý luận cơ bản tiếp cận van đề nghiên cứu Cơ sở lý luận của luận án được hiểu gồm các khái niệm chủ chốt, các khái niệm công cụ, và những lý thuyết xã hội học được vận dụng dé tiép can van dé nghiên cứu. Các khái niệm công cu của dé tài được xác định ở hai cấp độ: (1)Các khái niệm chủ chốt gồm: đói nghèo; giảm đói nghèo; nghề NTTS; phát triển bùng nô NTTS; và (2)Một số khái niệm liên quan như: chất lượng cuộc sống: cơ cấu kinh tế; cơ cấu ngành nghề. Các khái niệm “đói nghèo” được thao tác hóa thành các chỉ báo dé đo lường các biến số, các tương quan, các khía cạnh và các mặt của đối tượng nghiên cứu “tác động của phát triển nghề NTTS đến giảm đói nghèo ở dam phá Tam Giang”.

Các lý thuyết vận dụng để tiếp cận vấn đề nghiên cứu của đề tài được phối kết hợp và xác định ở ba cấp độ: (1)Tiếp cận tổng quát có lý thuyết hệ thống, biến đổi xã hội và quan điểm, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về giảm đói nghèo và phát triển bền vững; (2)Các lý thuyết trung gian dé tiếp cận gần đến van đề nghiên cứu có: phát triển cộng đồng, cau trúc chức năng; và (3)Tiếp cận trực tiếp mục tiêu nghiên cứu có các lý thuyết: sự lựa chọn hợp lý, phân tầng xã hội và xung đột xã hội. Các khái niệm cơ bản Doi nghéo là khái niệm chủ chôt của dé tai và liên quan đên đói nghèo ở nghĩa rộng là khái niệm “chât lượng cuộc sông”. Khái niệm đói nghèo được sử dụng thao tác hoá thành các chỉ báo đê đo lường các biên sô đáp ứng nội dung và mục tiêu của dé tai. Khái niệm đói nghèo Đến nay, khái niệm về đới nghèo vẫn được hiểu một cách chưa thống nhất bởi các tiêu chí về chất và lượng.

“Giàu” và “nghèo” là hai khái niệm đối ngược nhau, tồn tại bên nhau và mang tính lich sử. Khái niệm “giàu” dùng dé chỉ những cá nhân, những hộ gia đình có nhiều tiền, nhiều tài sản so với mức bình thường. Còn “nghéo” là tình trạng không có hoặc có rất ít tiền bac, của cải dùng để duy trì ở mức tối thiểu nhu cầu đời sống vật chất, trái với “giàu”. Đới nghèo là khái nệm kép của “đói” và “nghèo”, chúng có trong nhau, bao hàm lẫn nhau và có nhiều sắc nghĩa.

Chắng hạn “đói” có: đói gay gắt, đói nghèo, đói khổ, đói rách, đói kém. Và “nghèo” có: nghèo hèn, nghèo khổ, nghèo đói, nghèo túng, nghèo kiệt (xơ xác, rớt mùng tơi). Thực tế, trong xã hội nói chung, vùng đầm phá Tam Giang nói riêng, ở mỗi thời điểm và không gian xác định, tính đa dạng trong bộ phận những người nghèo đói vẫn còn phản ánh đủ các sắc nghĩa trên. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận án không có ý định đo lường đói nghèo theo cấp độ các sắc nghĩa đó, mà chỉ xác định và khu trú khái niệm đói nghèo như dưới đây dé sử dung làm công cụ.

Quan niệm truyền thống về đới nghèo được WB phổ biến rộng rãi dé thực hiện trong các báo cáo nghiên cứu từ những năm 1990 đến nay là: Doi nghĩa là Nghèo; nó không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất (được đo lường theo một khái niệm thích hợp về thụ nhập hoặc tiêu dùng), mà còn là sự thụ hưởng thiếu thốn về giáo duc và y tế. Hiện nay trong phát trién, WB mở rộng quan niệm về đói nghèo dé tính đến cả nguy cơ dé bị tổn thương và dé gặp rủi ro — không có tiếng nói và quyên lực [WB, 2000/2001, tr. Hiện nay trên thế giới và ở nước ta, khái niệm về nghèo đói có sự khác biệt đáng kê. Một số tác giả cho rằng, nghèo thường di đôi với đói và thiếu đói, được hiểu là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới toi thiểu, chi đủ khả năng đảm bảo có được mức lương thực bữa đói bữa no và có những khi dut bữa một hoặc hai, ba tháng.

Trong bộ phận dân cu thiếu đói, có bộ phận thiếu thốn và cực khổ nhất: tức những người “đói gay gắt”. Ddi gay gat là tình 17 trạng cua một bộ phận dân cu có mức sống dưới mức toi thiểu, đói ăn, đứt bữa từ 3 tháng trở lên [Đỗ Thị Bình.33], hoặc “đới gay gắt” là những người có thu nhập dưới 8kg gao/ dau người/ tháng [Nguyễn Văn Thiều (1994), tr. Quan niệm của các tô chức Liên hiệp quốc, nghèo đói được hiểu theo hai nghĩa: “Nghèo tuyệt đối” và “nghèo tương đối”. Nghèo tuyệt đối là tình trạng cua một bộ phận dân cu không có kha năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống như nhu cầu ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục.

Nghèo tương đối là tình trạng của một bộ phận dân cư mức sống dưới trung bình cua cộng dong nơi địa phương đang xét. Một cách nhận diện khác: “Ai là người nghèo,” một thành phan xã hội tỏ ra có khả năng rủi ro bị nghèo khổ nhiều hơn những người khác: Già, ốm, tàn tật, gia đình đông, gia đình khuyết, gia đình tổn thương, thất nghiệp, lương thấp, công việc không 6n định theo mùa,.(thu nhập, co may, dich vu xã hội, hưởng chính sách, phúc lợi, rủi ro thị trường, sai lầm của các quyết định, rủi ro của thiên nhiên, lương thấp, lao động chân tay, thất nghiệp, ít thời gian lao động.) Tat thay đó là những người dễ phải chịu đựng nghèo khổ kinh niên. Đói nghèo còn phan ánh qua cách đánh giá của tập thé tác giả bang những đặc điểm chủ yếu của người nghèo ở Việt Nam hiện nay, gồm: (1)Đặc điểm nhân khẩu học; (2)Đặc điểm về trình độ văn hoá; (3)Đặc điểm về tài sản, nhà ở, đời sống tinh thần; (4)Dễ bị tôn thương; và (5)Nghèo đói là kết qua của nhiều nhân tố [Lê Xuân Bá (2001), tr. Ngoài ra, theo như Amartya Sen gọi là “khả năng một con người có được, đó là quyền tự do đáng ké mà họ được hưởng để vươn tới một cuộc sống mà họ mong muốn” [WB, A.

Như vậy, đói- nghèo hiểu theo nghĩa đầy đủ, là hai khái niệm phản ánh mối quan hệ tích hợp bởi các khái niệm mức sống, hoạt động sống, lối sống, những điêu kiện sông và môi trường sông. mà con người được “cung câp” 18 chưa đầy đủ. Với cách tiếp cận này, nhìn một cách khái quát thì khái niệm nghèo đói được mở rộng và phản ánh gần với khái niệm “chat lượng cuộc sống” của con người, cộng đồng người. Xu hướng này được nhiều tổ chức, dự án tiếp cận nghiên cứu và can thiệp để giảm đói nghèo hiện nay.

Do đó, cần xem xét thêm khái niệm chất lượng cuộc sống dé thấy hết các khía cạnh, các tiêu chí, các chỉ báo liên quan đến đói nghèo ở nghĩa rộng. Chất lượng cuộc sống Chat lượng cuộc sống một khái niệm có nội hàm rộng, bao gồm cả những chỉ tiêu về lượng và các chỉ tiêu về chất, rất phong phú và phản ánh hai mặt: Chất lượng cuộc sông cao tức là phản anh sự sang — giàu., ngược lại chất lượng cuộc sống thấp kém cũng đồng nghĩa với nghèo — hèn và có thé nghèo đói, có hoạt động sống, lối sống, điều kiện sống, mức sống và môi trường sống thấp. Không có một thang giá trị, chuẩn mực chung về chất lượng cuộc sống cho mọi xã hội trong moi thời điêm khác nhau của quá trình phát triên. Dé hiểu rõ các yêu tô quyết định đến đói nghèo va chất lượng cuộc sống trên tất cả các phương diện, cần nghỉ đến vấn để tài sản của người dân, lợi suất của những tài sản đó và tính bất 6n định của mức lợi suất đó.

Những tài sản này ton tại dudi các dạng: (1) Tài sản con người, như khả năng có được sức lao động cơ bản, kỹ năng và sức khoẻ tốt; (2)Tài san tw nhiên, như đất đai; (3)Tài sản nhân tạo - vật chất, như tiếp cận đến cơ sở hạ tầng: (4)Tài sản tai chính, như tiết kiệm và được vay vốn; (5)Tài sản tri thức “tri thức đã mã hoá”; (6)Tài sản xã hội, như các mối quan hệ và trách nhiệm đối với nhau dé khi cần có thể nhờ cậy và ảnh hưởng chính trị đối với các nguồn lực [WB,. Từ nhiều hướng tiếp cận về chất lượng cuộc sống như: tiếp cận kinh tế, tiếp cận kinh tế học phát triển hay tiếp cận tấn công đói nghèo theo cách của WB, chung qui lại với cách nhìn toàn diện, chỉnh thé (dù cấp độ nào, ở chế độ xã hội nào, với tư cách là đời sống con người, cộng đồng người hướng tới phát triển, hiện đại), chất lượng cuộc sống được phan anh day du qua cdc yếu to cơ 19 bản cả về chất và lượng như sau: (1)Những đặc điểm nhân khẩu trong gia đình và cộng đồng: (2)Mức cân đối thu nhập và chi tiêu; (3)Vấn đề giáo dục và mức độ thụ hưởng; (4)Tình trạng Y tế, sức khoẻ và mức độ thụ hưởng; (5)Nha ở, điều kiện sinh hoạt, vui chơi giải trí.; (6)Đời sống tâm linh, tình cảm, nhu cầu thoả mãn tỉnh thần; (7)An nỉnh, an toàn, bình đăng, tự chủ bởi môi trường bao quanh cuộc song; (8)Sự tự do, ở day muốn phan ảnh cơ hội lựa chọn các giá tri cuộc sống như ăn, mặc, ở, di lại, chon nghé, chon thay, chon bac si dé chữa bệnh; và (9)Sự chịu tác động rộng hon của môi trường tự nhiên và xã hội, cũng như các môi trường khác: khoa học công nghệ; đô thị hoá; thương mại hoá; giao lưu văn hoá, quốc tế hoá, môi trường chính tri. Một số kiểu nhóm xã hội hoặc những người giàu có về của cải vật chat, có mức sống cao (thu nhập và chi tiêu) nhưng chưa han đã có chất lượng cuộc sông cao và tốt. Chăng hạn như sự giàu có theo kiểu “trọc phú”, “bông bống xà phòng”, “của trên trời rơi xuống”.

Nghĩa là “giàu” nhưng chưa hội đủ các điều kiện, giá trị, chuân mực, văn hoá, mới chỉ có điều kiện cần mà chưa có điều kiện đủ. Thông thường trong xã hội tăng trưởng hay cá nhân thăng tiến có tính “đột biến”, “nhảy vọt”, yếu tố vật chất - kinh tế đi trước, vượt quá yếu tố phi vật chất - văn hoá mà vai trò của hệ thống thiết chế xã hội không kiểm soát, điều tiết được thì thường để lại những hệ quả xã hội khó lường như: xáo trộn hệ thong tô chức đời sống, cấu trúc xã hội, rối loạn chuẩn mực và các quan hệ xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Tác động của nghề nuôi trồng thủy sản đến giảm nghèo ở đầm phá Tam Giang" khám phá vai trò quan trọng của nghề nuôi trồng thủy sản trong việc cải thiện đời sống và giảm nghèo cho cộng đồng địa phương. Tác giả phân tích các lợi ích kinh tế mà nghề này mang lại, từ việc tạo ra nguồn thu nhập ổn định cho người dân đến việc nâng cao chất lượng cuộc sống thông qua việc cung cấp thực phẩm và tạo ra việc làm. Bài viết cũng nhấn mạnh những thách thức mà ngành nuôi trồng thủy sản phải đối mặt, đồng thời đề xuất các giải pháp để phát triển bền vững.

Để hiểu rõ hơn về các chính sách giảm nghèo bền vững, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, nơi trình bày các mô hình thành công trong việc áp dụng chính sách giảm nghèo. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về các giải pháp giảm nghèo cho các nhóm dân tộc thiểu số. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại xí nghiệp nuôi trồng thủy sản Kiến Thụy, giúp bạn nắm bắt các phương pháp cải thiện hiệu quả trong ngành nuôi trồng thủy sản. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề giảm nghèo thông qua nghề nuôi trồng thủy sản.