Chương 1: Cơ sở lý luận về giảm nghèo. Chương 2:Thực trạng giảm nghèo cho đồng bảo dân tộc thiểu số trên địa bản huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi Chương 3: Một số giải pháp giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số. trên địa bàn huyện Sơn Tây, tinh Quảng Ngãi CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE GIAM NGHEO 1.1, NHUNG VAN BE CHUNG VE NGHEO VA GIAM NGHEO 1. Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những như cầu cơ bản của con người mà những như cầu đó phụ thuộc vào phat triển kinh tế xã hội, phong tục tập quản của từng vùng, từng quốc gia.
Các nhu cầu cơ bản của con người bao gồm: ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, văn. hod, di lại và giao tiếp xã hội [2]. Nghèo thay đỗi theo thời gian, kinh tế càng, phat triển thì nhu cầu cơ bản của con người cũng có xu hướng tăng lên ngày. một cao hơn; nghèo cũng thay đổi theo không gian, theo khái niệm trên cũng chỉ cho chúng ta thấy rằng sẽ không có chuẩn nghèo chung cho tất cả các nước, vì nó phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế xã hội của từng quốc gia và từng vùng, xu hướng chung là các nước cảng phát triển thì ngưng đo nghèo cảng cao hơn Các quốc gia trên hành tinh chúng ta khác nhau về nhiều mặt: trình độ.
phát triển kinh tế, điều kiện địa lý tự nhiên, dân số và trình độ dân trí, bản sắc. văn hoá, tín ngưỡng và tập tục, hệ tư tưởng và chế độ chính trị. Nhưng dù có. sự khác biệt đến mấy, vẫn có những điểm chung, những vấn để bức xúc cần được quan tâm, một trong những vấn đề rộng lớn có tính toàn cầu là nạn đói nghèo, trình độ lạc hậu.
Nhiều diễn đàn khu vực và thể giới đã khẳng định, đói nghèo là vấn đề nỗi cộm của xã hội, đồng thời cũng cảnh báo rằng vấn đề đói nghèo không chỉ ở phạm vi quốc gia, quốc tế sẽ đưa đến mắt én định chính trị trong và ngoài nước, sẽ tạo ra những hậu quả khôn lường; di ân quốc tế 6 at, phá huỷ môi trường, tiêu cực xã hội lan rộng, ảnh hưởng chung đến cả nhân loại. Nhin chung, cé rat nhiều định nghĩa khác nhau về đói nghèo, tuy nhiên, 10 thông thường nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân. “Theo Tổ chức Liên hợp quốc: “Aghèo là thiểu năng lực tối thiểu để tham. gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội.
Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đắt đai để trằng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cân tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyển, và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh”|2] Vì vậy, nghèo đói không còn là vấn đề riêng của một quốc gia, mà là vẫn đề quốc tế. Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội, họp tại Copehagen Đan Mạch tháng 3/1995, những người đứng đầu các quốc gia, đã trịnh trọng tuyên bố “Chúng tôi cam kết thực hiện mục tiêu xoá đói giảm. nghèo trên thế giới, thông qua các hành động quốc gia kiên quyết và sự hợp.
tác quốc tế, coi đây như đòi hỏi bắt buộc về mặt đạo đức xã hội, chính trị kinh tế của nhân loại”[2] Để hình thành các giải pháp xoá đói giảm nghèo, cần thiết phải có quan. niệm đúng về đói nghèo. Tuy vậy, cho đến nay quan niệm về đói nghèo và tiêu chí xác định có nhiều quan niệm và cách tiếp cận khác nhau. Khái niệm về nghèo đói được nêu ra tại hội nghị bàn về xoá đói giảm nghèo ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc tháng 9/1993: Nghẻo là tình trạng một bộ phận dân cự không được hưởng và thoả man những như câu cơ bản của con người mà những nhu câu này đã được xã hội thừa nhận tày theo trình độ phát triên kinh tễ xã hội và phong tục.
tập quản của địa phương [2] Khi xác định tiêu chí và mức nghèo đói, các công trình nghiên cứu quốc tế thường chia làm hai cấp độ: phận định giữa các quốc gia và giữa các nhóm. " dân cư, từ đó xác định các quốc gia giàu, nghèo trên thể giới và phân chia dân. cư của mỗi quốc gia hoặc từng địa phương thành nhóm giàu, nghèo. Đối với các quốc gia, hiện nay Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các tiêu chí đánh giá mức độ giàu nghèo của các quốc gia bằng thu nhập bình quân.
đầu người theo hai cách tính: « Phương pháp ATLAS tức là tỷ giá hồi đoái và tính theo USD. + Phương pháp PPP là phương pháp sức mua tương đương tính theo USD Từ đó ở cắp quốc gia, WB chia các quốc gia trên thể giới thành 4 nhóm: Nhóm các nước nghèo nhất. "Nhóm các nước có trình độ trung bình. "Nhóm các nước có thu nhập khá cao.
Nhóm các nước có thu nhập cao và rất cao. “Trong quá trình nghiên cứu nghèo đói và thực hiện hỗ trợ chương trình XĐGN ở Việt Nam, Ngân hàng th giới đưa ra mức chuẩn nghèo đói cho Việt Nam. Căn cứ cơ bản để Ngân hàng thế giới xác định ngưỡng nghèo đói ở Việt Nam là lượng Calo tối thiểu cho 1 người trong 1 ngày. Từ đó, so sánh thu.
nhập của gia đình mua sắm thức ăn đủ số Calo cần thiết theo yêu cầu. hàng thế giới đưa ra mức yêu cầu lượng calo của người Việt Nam là 2100Cl/người/ ngày. Căn cứ vào giá cả các loại thức ăn cần thiết, Ngân hàng. thế giới đưa ra mức chỉ phí cần cho 1 người ở nước ta vào thời kỳ 1992 - 1993 là 729.000 đồng/năm [20] Dựa vào số liệu điều tra mức sống dân cư tại nước ta năm 1993 va nam 1998, Ngân hàng thế giới phân loại nghèo đói thành 2 loại: nghèo đói chung và nghèo đói lương thực, thực phẩm.
Ứng với mỗi loại nghèo đói trên, Ngân hàng thế giới nêu ra ngường đói nghèo cho từng loại ở Việt Nam. Ngường nghèo lương thực, thực phẩm: ~ Năm 1993 : 62.500 đồng/người/tháng.000 đồng/ngườiháng. Ngường nghèo chung: ~ Năm 1993 : 96.600 đồng/người/tháng.000 đồng/người/tháng. Như vậy, theo quan niệm của Ngân hàng thế giới, Việt Nam cần thiết phân loại nghèo đói ở cả 2 dạng: dạng và ngường nghèo đói chung; dạng và ngưỡng nghèo đói lương thực.
Theo quan niệm của Ngân hàng thể giới, ngoài chỉ tiêu tối thiểu về lương thực để đảm bảo đủ lượng calo 2100/người/ngày,, còn có những khoản chỉ tiêu tối thiểu phi lương thực, thực phẩm. Do đó, chuẩn của ngưỡng nghèo đói chung có mức cao hơn chuẩn nghẻo đói lương. 'thực, thực phẩm. Nghèo đói được chia thành nghèo tuyệt đối và nghèo tương.
Nghèo tuyệt đối: Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đầu tranh để sinh tổn trong các thiếu thốn tồi tệ. Hay nói cách khác, nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của địa phương. Nghèo tương đối: Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo.
được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân. Nghèo tương có thể được xem như là việc cung cắp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tằng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó. Nói cách khác, nghèo tương đối là tỉnh trạng một bộ phân dân cư sống đưới mức trung bình của xã hội Chi số nghèo: Một chỉ số thường được dùng trong phân tích, đánh giá al sách là chỉ số nghèo khó (hay tỷ lệ hộ nghèo). Tỷ lệ hộ nghèo được xác.
định bằng tỷ lệ phần trăm giữa số hộ dân nằm dưới giới hạn của sự nghèo khó. 13 với tổng số hộ dân. Chí số này có thể đánh giá mức độ nghèo khổ của một xã, huyện, tinh, hay cả nước. Chỉ số này được tính như sau: Số hộ dân ở dưới mức tối thiêu Ty Ig hd nghéo (%) =, _ x 100% Téng sé hộ dân * Khái niệm về nghèo đa chiều Phương pháp luận đo lường nghèo đa chiều của Việt Nam áp dụng phương pháp Alkire&Foster do Tổ chức Sáng kiến phát triển con người và chỗng nghèo đói Oxford (OPHI) xây dựng.
Phương pháp này đã được sử dụng để tinh Chỉ số nghèo đa chiều (MPI) trong Báo cáo Phát triển Con người của Liên hợp quốc từ năm 2010. Đây cũng là phương pháp đang được nhiều quốc gia sử dụng trong đo lường và giám sát nghèo, xác định đối tượng nghỏo, đánh giá và xây dựng các chính sách giảm nghèo và phát triển xã hội Theo phương pháp này, để đo lường nghèo đa chiều cần xác định khái niệm. nghèo da chiều của Việt Nam, xác định đơn vị đo lường là hộ hay người, xác định các chiều thiếu hụt, xác định các chỉ số đo lường và ngưỡng thiếu hụt trong từng chiều, xác định cách tính mức độ thiếu hụt và quy định chuẩn. Như váy, Ähái niệm nghèo da chiều của Việt Nam được kiểu là tình trạng con người không được đáp ứng một số nhu cầu cơ bản trong cuộc sống|[22].
Vấn để nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập. Sự thiếu hụt cơ hội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bất hạnh và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo đa chiều. Thiéu đi sự tham gia và tiếng nói về ính tế, xã hội hay chính trị sẽ dây các cá nhân dén tinh trang bị loại trừ, không dược thụ hưởng các lợi ích phát triển KT-XH và do vậy bị tước đi các quyền con người cơ bản. 14 Chuẩn nghèo đa chiều có thể là một chỉ số không liên quan đến mức thu nhập mà bao gồm các khía cạnh khác liên quan đến sự thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản.
Chỉ số nghèo đa chiều của quốc tế, với ba chiều cạnh chính là: y tế, giáo dục và điều kiện sống, hiện là một thước đo quan trọng nhằm bổ. sung cho phương pháp đo lường nghèo truyền thống dựa trên thu nhập. Các quan điểm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà.