Khoá luận tốt nghiệp tác động của chương trình nông thôn mới đến sự cải thiện thu nhập của hộ đồng bào stiêng tại xã hưng phước huyện bù đốp tỉnh bình phước

Khóa luận tốt nghiệp phân tích tác động chương trình nông thôn mới đến thu nhập hộ đồng bào Stiêng tại xã Hưng Phước, huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước.

Chuyên ngành

Kinh tế nông nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

97
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

NỘI DUNG TÓM TẮT

1. CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu chung

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

1.3. Phạm vi nghiên cứu

1.3.1. Phạm vi không gian

1.3.2. Phạm vi thời gian

1.4. Đối tượng nghiên cứu

1.4.1. Đối tượng khảo sát

1.4.2. Đối tượng nghiên cứu

1.5. Cấu trúc

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN

2.1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

2.2. Tổng quan địa bàn nghiên cứu

2.2.1. Tổng quan về tỉnh Bình Phước

2.2.2. Tổng quan về huyện Bù Đốp

2.2.3. Tổng quan về xã Hưng Phước

2.2.4. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

2.2.4.1. Trên thế giới
2.2.4.2. Tại Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Một số khái niệm

3.2. Cơ sở lý thuyết về các yếu tố tác động đến cải thiện thu nhập của người dân

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.3.1. Phương pháp thu thập số liệu

3.3.2. Phương pháp phân tích số liệu

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Mô tả thực trạng của chương trình NTM tại xã Hưng Phước, huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước

4.1.1. Kết quả đạt được

4.1.2. Quá trình thực hiện

4.1.3. Những tồn tại

4.2. Phân tích mức độ hài lòng của hộ đồng bào dân tộc S’tiêng về chương trình nông thôn mới tại xã Hưng Phước, huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước

4.2.1. Đặc điểm hộ điều tra

4.2.2. Đánh giá mức độ hài lòng của hộ đồng bào dân tộc S’tiêng về chương trình NTM tại địa phương

4.3. Đánh giá tác động của chương trình nông thôn mới đến sự cải thiện thu nhập của hộ đồng bào S’tiêng tại xã Hưng Phước, huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước

4.3.1. So sánh thu nhập của hộ đồng bào S’tiêng với mặt bằng chung của địa phương

4.3.2. Mô hình hồi quy về tác động của chương trình NTM đến sự cải thiện thu nhập của hộ đồng bào S’tiêng

4.4. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập của hộ đồng bào dân tộc S’tiêng tại xã Hưng Phước, huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước

4.4.1. Giải quyết vấn đề việc làm từ đào tạo nghề

4.4.2. Giải pháp phát triển sản xuất nông nghiệp

4.4.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác khuyến nông, tập huấn KTNN

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về chương trình nông thôn mới và đối tượng nghiên cứu

Chương trình nông thôn mới là một chính sách trọng điểm quốc gia được triển khai từ năm 2010 đến 2020, nhằm cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân nông thôn, đặc biệt là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số. Nghiên cứu này tập trung vào xã Hưng Phước, huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước, nơi có tỷ lệ cao người đồng bào Stiêng sinh sống. Mục tiêu chính là đánh giá tác động của chương trình đến thu nhập hộ đồng bào Stiêng, từ đó đề xuất giải pháp phát triển bền vững.

1.1. Bối cảnh và mục tiêu của chương trình nông thôn mới

Chương trình nông thôn mới được triển khai nhằm thay đổi diện mạo nông thôn, tập trung vào các tiêu chí như hạ tầng kinh tế - xã hội, văn hóa, môi trường và kinh tế. Tại xã Hưng Phước, chương trình đã đạt được một số thành tựu, nhưng vẫn còn hạn chế trong việc cải thiện thu nhập hộ đồng bào Stiêng. Mục tiêu nghiên cứu là phân tích tác động của chương trình đến tăng thu nhập và đề xuất giải pháp phù hợp.

1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung vào các hộ đồng bào Stiêng tại xã Hưng Phước, nơi có tỷ lệ cao người dân tộc thiểu số. Phạm vi không gian là xã Hưng Phước, và thời gian từ tháng 03 đến tháng 06 năm 2022. Đối tượng nghiên cứu là sự cải thiện thu nhập của các hộ sau khi tham gia chương trình.

II. Phương pháp nghiên cứu và kết quả đạt được

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập số liệu thông qua khảo sát và phân tích hồi quy đa biến để đánh giá tác động của chương trình nông thôn mới đến thu nhập hộ đồng bào Stiêng. Kết quả cho thấy, các yếu tố như diện tích đất nông nghiệp, tham gia tập huấn KTNN, và đào tạo nghề có tác động tích cực đến tăng thu nhập.

2.1. Phương pháp thu thập và phân tích số liệu

Nghiên cứu sử dụng bảng câu hỏi để thu thập dữ liệu từ các hộ đồng bào Stiêng tại xã Hưng Phước. Phương pháp phân tích hồi quy đa biến được áp dụng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập. Kết quả cho thấy, tham gia tập huấn KTNNđào tạo nghề là hai yếu tố có tác động mạnh nhất.

2.2. Kết quả đạt được từ chương trình nông thôn mới

Kết quả khảo sát cho thấy, hộ đồng bào Stiêng tại xã Hưng Phước hài lòng với các tiêu chí về hạ tầng kinh tế - xã hội và môi trường, nhưng thu nhập vẫn ở mức thấp (20,63 triệu đồng/người/năm). Các yếu tố như diện tích đất nông nghiệptham gia tập huấn KTNN đã góp phần cải thiện thu nhập.

III. Đánh giá tác động và đề xuất giải pháp

Nghiên cứu đánh giá tác động của chương trình nông thôn mới đến thu nhập hộ đồng bào Stiêng tại xã Hưng Phước. Kết quả cho thấy, mặc dù chương trình đã cải thiện một số khía cạnh, nhưng thu nhập vẫn còn thấp. Đề xuất giải pháp tập trung vào đào tạo nghề, phát triển sản xuất nông nghiệp, và nâng cao hiệu quả khuyến nông.

3.1. Đánh giá tác động của chương trình nông thôn mới

Kết quả phân tích cho thấy, chương trình nông thôn mới đã tác động tích cực đến thu nhập hộ đồng bào Stiêng thông qua các yếu tố như diện tích đất nông nghiệp, tham gia tập huấn KTNN, và đào tạo nghề. Tuy nhiên, thu nhập vẫn còn thấp so với mặt bằng chung.

3.2. Đề xuất giải pháp nâng cao thu nhập

Để cải thiện thu nhập hộ đồng bào Stiêng, nghiên cứu đề xuất các giải pháp như đào tạo nghề, phát triển sản xuất nông nghiệp, và nâng cao hiệu quả khuyến nông. Các giải pháp này nhằm tăng cường năng lực sản xuất và tiếp cận thị trường cho người dân.

12/02/2025
Khoá luận tốt nghiệp tác động của chương trình nông thôn mới đến sự cải thiện thu nhập của hộ đồng bào stiêng tại xã hưng phước huyện bù đốp tỉnh bình phước

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu Trình bày lý do, ý nghĩa của việc chọn đề tài, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu, cấu trúc khóa luận. Chương 2: Tổng quan Mô tả tổng quan về các tài liệu nghiên cứu có liên quan đã được thực hiện, giới thiệu khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại xã Hưng Phước, huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước. Trình bày tổng quan về xây dựng NTM tại các quốc gia trên thế giới cũng như tình hình xây dựng NTM tại Việt Nam. Chương 3: Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu Trình bày chi tiết những vấn đề lý luận, nội dung và giới thiệu các phương pháp nghiên cứu liên quan đến vấn đề nghiên cứu.

Chương 4: Kết quả và thảo luận Mô tả thực trạng triển khai chương trình NTM tại địa phương, phân tích mức độ hài lòng của đồng bào dân tộc S’tiêng về chương trình NTM và đánh giá tác động của chương trình NTM đến cải thiện thu nhập. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Trình bày các kết quả nghiên cứu chính đạt được và ý nghĩa rút ra từ nghiên cứu đó. Từ đó đề xuất kiến nghị chính quyền địa phương và các hộ đồng bào S’tiêng. 3 Đại học Kinh tế Huế CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 2.

Tổng quan tài liệu nghiên cứu Để thực hiện vấn đề nghiên cứu, tác giả đã tổng hợp các công trình nghiên cứu có trước và liên quan đến đề tài như: Nguyễn Lưu Tường Vân (2012) đã Đánh giá vai trò của hộ gia đình trong công cuộc xây dựng nông thôn mới tại xã Trung Lập Hạ, huyện Củ Chi. Đề tài nghiên cứu điều tra hơn 60 hộ gia đình tại xã. Nghiên sử dụng phương pháp phân tích hồi quy mô hình Logit. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sau hai năm triển khai thực hiện, địa phương đã gần hoàn thành 13/19 tiêu chí về xây dựng NTM, bước đầu thu được nhiều kết quả đáng khích lệ.

Trong quá trình triển khai thực hiện chương trình nông thôn mới, vai trò của từng hộ gia đình tại địa phương càng được nhấn mạnh. Tuy nhiên, người dân chưa phát huy được hết vai trò to lớn của mình, mà nguyên nhân chủ yếu nằm ở chính nhận thức của họ. Nghiên cứu đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của người dân, trong đó số nhân khẩu, số lần tham gia hội họp, tập huấn và nghề nông dân có ảnh hưởng lớn đến nhận thức của người dân. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn cho thấy, thu nhập bình quân đầu người đạt 27.000 vnđ (tháng 8 năm 2012) đã tăng 1,32 lần so với 20.

Trong đó, trồng trọt có mức tăng cao nhất (1,48 lần), tiếp đến là phi nông nghiệp (1,35 lần), cuối cùng là chăn nuôi với thu khác (cùng 1,1 lần). Qua đó, tác giả đã đưa ra các kiến nghị nhằm cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu là số mẫu điều tra nhỏ. Trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Cường (2012) về Đánh giá việc thực hiện đề tài thí điểm xây dựng nông thôn mới xã Tân Hội, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng giai 4 Đại học Kinh tế Huế đoạn 2009 – 2011.

Bằng phương trình hồi quy tuyến tính trong đó với biến phụ thuộc là sự hài lòng chung của người dân và 7 biến độc lập: Hệ thống giao thông, hạ tầng thủy lợi, chuyển đổi nghề, vốn tín dụng, đào tạo lao động, tiếp cận thị trường, tổ chức lại sản xuất. Mô hình đã giải thích 52,4% sự biến thiên về mức độ hài lòng chung của người dân. Các biến độc lập có ý nghĩa về mặt thống kê: Hệ thống giao thông, hạ tầng thủy lợi, tiếp cận thị trường, chuyển đổi nghề, tổ chức lại sản xuất, các biến độc lập này đều có ảnh hưởng đồng biến đến sự thay đổi của biến phụ thuộc và dấu của hệ số ước lượng đều dương. Tác giả đã kết luận rằng qua 3 năm triển khai thực hiện thí điểm chương trình xây dựng nông thôn mới tại xã Tân Hội đã đạt được 16 tiêu chí, còn 03 tiêu chí chưa đạt là: thu nhập bình quân đầu người, thủy lợi, cơ cấu lao động.

Huỳnh Công Thiệu (2013) đã thực hiện nghiên cứu về Các nhân tố tác động đến thu nhập hộ gia đình: trường hợp hộ đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh Cà Mau. Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật phân tích hồi quy đa biến OLS, theo đó kích thước mẫu là 220 gồm 3 huyện Đầm Dơi (100 quan sát), U Minh (80 quan sát), Trần Văn Thời (40 quan sát) và kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên được sử dụng. Tác giả đã tiến hành đo lường mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng này đến thu nhập hộ dân tộc Khmer trong tỉnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy với mức ý nghĩa thống kê 5%, các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ xếp theo tầm quan trọng từ cao đến thấp là: Vay vốn; Nghề nghiệp chính của chủ hộ; Tiếp cận chính sách; Số nhân khẩu trong hộ; Số hoạt động tạo ra thu nhập; Trình độ học vấn của chủ hộ.

Các yếu tố khác như kinh nghiệm của chủ hộ; Tỷ lệ phụ thuộc; Diện tích đất sản xuất không có ảnh hưởng đến thu nhập của hộ dân tộc Khmer. Từ đó đề xuất khuyến nghị chính sách, các giải pháp để nâng cao thu nhập cho hộ dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh Cà Mau. Tuy nhiên, nghiên cứu còn tồn tại một số hạn chế như quy mô điều tra nhỏ, đối tượng nghiên cứu hạn chế và chưa có sự so sánh giữa thu nhập hộ Khmer với thu nhập của các hộ dân là người Kinh. Nghiên cứu của Dương Văn Chương (2015) nhằm Phân tích thu nhập của hộ nông dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre trong quá trình xây dựng nông thôn mới.

Sau khi thu thập số liệu thông qua khảo sát bằng bảng câu hỏi tại 2 xã Tân Thủy (thực hiện NTM) và Mỹ Chánh (chưa thực hiện NTM) mỗi xã 70 hộ. Sau khi rà soát và loại bỏ, nghiên cứu sử dụng 120 mẫu cho nghiên cứu của mình. Kết quả cho thấy, các yếu tố 5 Đại học Kinh tế Huế Tham gia tổ chức, số lao động, học vấn và quy mô diện tích làm tăng thu nhập của nông hộ. Trong khi, yếu tố giao thông và tín dụng lại làm giảm thu nhập.

Tuy nhiên, biến tín dụng sử dụng trong nghiên cứu là biến giả (nhận giá trị “có” hoặc “không”) trong khi các hộ vay từ nhiều nguồn với nhiều mức lãi suất khác nhau, nên không đánh giá đầy đủ tác động của biến này. Nguyễn Thùy Trang và cộng sự (2016) nghiên cứu về Đánh giá tác động của chương trình xây dựng nông thôn mới đến thu nhập nông hộ tại tỉnh Hậu Giang. Dựa trên kết quả điều tra 90 hộ của ba xã (xã Đại Thành, xã Hòa An và xã Tân Bình) có mức độ hoàn thành khác nhau về chương trình NTM, nghiên cứu cho thấy tác động của chương trình NTM đến thu nhập của nông hộ trên địa bàn tỉnh Hậu Giang có ý nghĩa thiết thực. Nghiên cứu sử dụng phương pháp PSM để ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập trước và sau khi xây dựng NTM.

Trong đó, các yếu tố thủy lợi, tham gia tổ chức, số hoạt động tạo thu nhập, sự hỗ trợ từ chính quyền, vay vốn số người làm phu nông nghiệp, diện tích đất, kinh nghiệm sản xuất và đào tạo nghề cho thấy sự thay đổi tích cực so với trước khi xây dựng NTM. Bằng cách sử dụng phương pháp so sánh điểm xu hướng, kết quả cho thấy sau khi tham gia vào chương trình NTM, thu nhập đã tăng lên 8.000 đồng/thành viên/năm ở mức ý nghĩa 5% so với trước khi có chương trình bằng phương pháp so sánh cận gần nhất và 6.000 đồng/thành viên/năm bằng phương pháp so sánh phạm vi/bán kính ở mức ý nghĩa 10%. Nhan RaNi (2018) đã Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp xây dựng nông thôn mới xã Thanh Sơn, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2016 – 2020. Nghiên cứu thực hiện tại 7 ấp xã Thanh Sơn với phương pháp thực hiện là phỏng vấn người am hiểu (KIP), thảo luận nhóm và phỏng vấn đại diện 70 hộ dân ở 7 ấp trên địa bàn xã.

Kết quả cho thấy, trong số 19 tiêu chí nông thôn mới thì xã thực hiện đạt 9 tiêu chí (Quy hoạch, Thủy lợi, Điện, Chợ nông thôn, Bưu điện, Hình thức tổ chức sản xuất, Văn hóa, Hệ thống tổ chức chính trị xã hội, An ninh trật tự xã hội). Qua đánh giá nhu cầu xây dựng nông thôn mới, nghiên cứu còn cho thấy người dân đánh giá hệ thống giao thông là cần thiết nhất, tiếp theo là trường học, quy hoạch…ít nhất là bưu điện, văn hóa và khó khăn chính trong xây dựng NTM là tỷ lệ hộ nghèo còn cao, cơ cấu lao động, thu nhập. Từ đó, tác giả đề xuất giải pháp hướng đến công tác truyền thông, vận động người 6 Đại học Kinh tế Huế dân hiểu và đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; phát huy nguồn lực trong dân; ưu tiên phát triển giao thông nhằm tạo điều kiện đột phát các yếu tố khác; tuy nhiên thay đổi những tiêu chí chưa phù hợp với điều kiện của tỉnh, điều chỉnh những thông tư, hướng dẫn các tiêu chí thực hiện. Manh Hung Do & Sang Chul Park (2018) nghiên cứu sự Phát triển nông thôn mới và quản trị theo cấp bậc ở Việt Nam: Tác động của hỗ trợ chính phủ đối với thu nhập của các hộ gia đình nông thôn sử dụng Mô hình tuyến tính phân cấp.

Nghiên cứu được thực hiện để trả lời câu hỏi Liệu sự hỗ trợ của chính phủ có thể tác động tích cực và hiệu quả đến thu nhập của các hộ gia đình nông thôn thông qua chương trình NTM, bằng việc sử dụng mô hình tuyến tính phân cấp (Hierarchical Linear Modelling - HLM) hay không. Từ số liệu điều tra Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam 2014 với 1.716 xã, nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 1.226 xã đại diện cho 34 tỉnh/thành thuộc các khu vực khác nhau trên cả nước. Kết quả cho thấy tất cả các biến bao gồm: Nguồn ngân sách của chính phủ, vị trí địa lý, sự hỗ trợ của chính phủ, đào tạo tập huấn khuyến nông và hệ thống giao thông đạt chuẩn đều tác động tích cực đến thu nhập bình quân của hộ gia đình ở cấp xã. Trong đó, vị trí địa lý ảnh hưởng mạnh nhất tới thu nhập của hộ, cụ thể hộ gia đình tại vùng đồng bằng cao hơn khoảng 12 triệu (tương đương khoảng 30%) so với các vùng khác (vùng ven biển, miền núi và trung du).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Tác động của chương trình nông thôn mới đến thu nhập hộ đồng bào Stiêng tại xã Hưng Phước, Bù Đốp, Bình Phước" phân tích sâu về những thay đổi tích cực trong thu nhập của các hộ đồng bào Stiêng nhờ chương trình nông thôn mới. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng, hỗ trợ kỹ thuật nông nghiệp và phát triển kinh tế địa phương đã giúp cải thiện đáng kể đời sống người dân. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến phát triển nông thôn bền vững và nâng cao thu nhập cho cộng đồng dân tộc thiểu số.

Để mở rộng kiến thức về các mô hình phát triển kinh tế nông thôn, bạn có thể tham khảo thêm bài viết Luận văn phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn huyện tân yên tỉnh bắc giang, hoặc tìm hiểu về hiệu quả tài chính trong nông nghiệp qua Luận văn hiệu quả hoạt động cho vay tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn việt nam chi nhánh huyện thống nhất tỉnh đồng nai. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý tài nguyên và môi trường giải pháp phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện quốc oai thành phố hà nội cũng cung cấp góc nhìn sâu sắc về các giải pháp phát triển kinh tế nông thôn hiệu quả.