Tổng quan luận án

Vấn đề nghèo đói là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử và phổ biến toàn cầu. Xóa nghèo cho tất cả mọi người là mục tiêu đứng đầu trong 17 Mục tiêu Phát triển Bền vững của Liên hợp quốc (UN) đến năm 2030. Tại Việt Nam, công tác giảm nghèo đạt được nhiều thành tựu khi tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 60% vào đầu thập niên 1990 xuống 14,2% năm 2010 theo Báo cáo Đánh giá nghèo của Ngân hàng Thế giới (WB, 2012), và tiếp tục giảm từ 9,9% năm 2016 xuống 2,23% năm 2021 theo chuẩn nghèo đa chiều của Chính phủ. Tuy nhiên, công cuộc giảm nghèo đang đứng trước nhiều thách thức: tốc độ giảm nghèo có xu hướng chậm lại, nguy cơ tái nghèo cao tại khu vực miền núi và ven biển, người nghèo phần lớn sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, bị hạn chế về tài sản, học vấn và chịu tác động tiêu cực của thiên tai, biến đổi khí hậu cũng như dịch bệnh.

Tỉnh Nghệ An có diện tích lớn nhất cả nước (16.490 km²) và dân số đứng thứ 4 toàn quốc (3.409,8 nghìn người năm 2021), tồn tại sự phân hóa rõ nét về tự nhiên và trình độ phát triển kinh tế – xã hội giữa vùng đồng bằng và miền núi phía Tây. Vùng miền núi phía Tây gồm 11 huyện, tổng số hộ chỉ bằng gần 3/5 vùng đồng bằng nhưng số hộ nghèo lại cao gấp 5,3 lần. Khu vực miền núi Tây Bắc tỉnh Nghệ An (KVMNTBNA) gồm 6 đơn vị hành chính cấp huyện: Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ và thị xã Thái Hòa. Khu vực có diện tích 5.369,9 km² (chiếm 32,54% diện tích toàn tỉnh) và dân số 635.438 người (chiếm 18,63% dân số toàn tỉnh năm 2021). Dù giai đoạn 2016–2020 tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 6,56%, nhưng giá trị tăng thêm bình quân đầu người chỉ bằng 70% mức bình quân toàn tỉnh, tỷ lệ hộ nghèo cao hơn trung bình tỉnh, sự phân hóa nội vùng gay gắt và số hộ tái nghèo còn lớn. Khoảng trống nghiên cứu thực tế là chưa có công trình nào tiếp cận toàn diện vấn đề nghèo và giảm nghèo tại KVMNTBNA dưới góc độ Địa lí học, đặc biệt trong giai đoạn chuyển giao sang chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều.

Luận án xác định 3 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Vấn đề nghèo và giảm nghèo ở KVMNTBNA chịu ảnh hưởng của những nhân tố nào?
  2. Hiện trạng nghèo và giảm nghèo của KVMNTBNA trong giai đoạn đầu áp dụng chuẩn nghèo đa chiều như thế nào?
  3. Những giải pháp nào cần được thực hiện nhằm giảm nghèo cho KVMNTBNA trong tương lai?

Mục tiêu nghiên cứu là tập trung phân tích các nhân tố ảnh hưởng, đánh giá thực trạng nghèo và giảm nghèo ở KVMNTBNA dưới góc độ Địa lí học, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp giảm nghèo bền vững cho khu vực đến năm 2030. Để thực hiện mục tiêu, luận án triển khai 4 nhiệm vụ: (1) Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn, xác định hệ thống chỉ tiêu đánh giá phù hợp; (2) Phân tích các nhân tố vị trí địa lí, tự nhiên và kinh tế – xã hội tác động đến nghèo và giảm nghèo; (3) Phân tích thực trạng nghèo và giảm nghèo giai đoạn 2016–2021, chỉ rõ kết quả và hạn chế; (4) Đề xuất các giải pháp giảm nghèo cho tương lai.

Đối tượng nghiên cứu là hộ nghèo tại KVMNTBNA (thuộc các huyện Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong và thị xã Thái Hòa), đồng thời mở rộng khảo sát các hộ cận nghèo, trung bình và khá giả để đối sánh. Phạm vi không gian bao quát 6 huyện, thị xã trên và đặt trong mối quan hệ so sánh với tỉnh Nghệ An; khảo sát thực địa chọn mẫu tại 3 xã và 1 thị trấn (xã Nghĩa Lạc và thị trấn Nghĩa Đàn thuộc huyện Nghĩa Đàn; xã Tri Lễ và xã Tiền Phong thuộc huyện Quế Phong). Phạm vi thời gian tập trung vào số liệu kinh tế – xã hội và nghèo đa chiều giai đoạn 2016–2021, định hướng đến năm 2030; kết hợp số liệu giai đoạn 2010–2015 để so sánh chuẩn nghèo thu nhập, cùng số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 của Cục Thống kê tỉnh Nghệ An.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Về cơ sở lý luận trên thế giới, quan niệm nghèo đơn chiều được ghi nhận tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Phát triển xã hội (1995), dựa trên mức thu nhập hoặc chi tiêu. Góc nhìn nghèo đa chiều bắt đầu hình thành từ Hội nghị của Ủy ban Kinh tế – Xã hội châu Á và Thái Bình Dương (ESCAP, 1993 tại Băng Cốc), quan điểm tiếp cận năng lực của Amartya Kumar Sen về nhu cầu tối thiểu vật chất và tinh thần, và Tuyên bố của Liên hợp quốc (UN, 2008). Về tiêu chí đo lường, WB xác lập chuẩn nghèo tuyệt đối và tương đối (từ 1 USD/ngày năm 1985 đến 2,15 USD/ngày theo PPP năm 2017), được Loranzo D. Giovanni Belly và Paolo Leberati (FAO, 2005) phát triển qua mức thu nhập (IL) và vị trí thu nhập (IP). Prakash Longani (IMF) phân tích sự cần thiết phải điều chỉnh chuẩn nghèo theo không gian và thời gian. Alkire và Foster (OPHI, 2007) thiết lập phương pháp đo lường nghèo đa chiều, được UNDP đưa vào Báo cáo Phát triển con người năm 2010 qua chỉ số MPI (3 chiều, 10 chỉ số), tiếp tục được Alkire, Usha Kanagaratnam và Nicolai Suppa (2021) kiểm chứng trên 109 quốc gia. Mauricio Gallardo (2019) mở rộng với chỉ số tổn thương đa chiều (VMPI).

Về lý thuyết giảm nghèo, luận án kế thừa lý thuyết Keynesian (chi tiêu công và đầu tư hạ tầng); lý thuyết Loại trừ xã hội (xóa bỏ rào cản dịch vụ xã hội cơ bản); lý thuyết Phát triển con người của Amartya Sen; lý thuyết Phát triển bền vững; cùng các lý thuyết tiếp cận thị trường, phân phối công bằng, phát triển cơ sở và phát triển khu vực. Về thực nghiệm quốc tế, các công trình của Nanak Kakwani và Ernesto M. Pernia (2000) về tăng trưởng vì người nghèo; Abhijit V. Banerjee và Esther Duflo (2011) trong Poor Economics với phương pháp thực nghiệm ngẫu nhiên; bài học việc làm tại Hoa Kỳ; trợ cấp chuyển tiền có điều kiện tại Mexico; các chương trình giảm nghèo tại Philippines (2017–2022); hai trụ cột giảm nghèo miền núi của Trung Quốc; mô hình "làng thông minh" tại Malaysia.

Tại Việt Nam, cơ sở lý luận và chính sách được cụ thể hóa qua Báo cáo của WB (2000), nghiên cứu Vietnam poverty analysis, Nghị quyết số 76/2014/QH13 của Quốc hội, Quyết định số 2324/QĐ-TTg, Quyết định số 1614/QĐ-TTg (2015), Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg và Nghị định 07/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Tác giả Vũ Hoàng Linh đề xuất áp dụng song song chuẩn nghèo Chính phủ và chuẩn WB – Tổng cục Thống kê. Các nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng có công trình của Lê Thị Thanh Loan và Nguyễn Thanh Bình (2014) về học vấn, việc làm, dân tộc; nghiên cứu chi tiêu công, thể chế và biến đổi khí hậu. Nghiên cứu thực trạng nghèo đa chiều có Lê Hà, Nguyễn Cường, Phùng Tùng (2015); Báo cáo Nghèo đa chiều của UNDP và Tổng cục Thống kê (2020, 2021); Lê Xuân Bá (Quảng Bình); Trần Thị Hồng Nhung (Nam Định); Phạm Quang, Anh Thư, Pundarik Mukhopadhaya và Vũ Hà (2021). Tại Nghệ An, các nghiên cứu địa lí trước đây tập trung vào tổ chức lãnh thổ công nghiệp (Lê Văn Thông), nông nghiệp, hoặc kinh tế tổng thể, chưa đi sâu vào địa lí nghèo đói.

Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là: Vận dụng hệ thống phương pháp Địa lí học để phân tích nghèo và giảm nghèo tại một tiểu vùng miền núi cụ thể (KVMNTBNA) trong giai đoạn đầu thực thi chuẩn nghèo đa chiều (2016–2021); kết hợp số liệu thống kê hành chính với khảo sát thực địa vi mô nhằm làm rõ sự phân hóa không gian của các chiều thiếu hụt, tính toán chỉ số MPI cấp huyện và đề xuất giải pháp sinh kế thích ứng với điều kiện lãnh thổ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên khung lý thuyết phát triển bền vững, lý thuyết loại trừ xã hội, lý thuyết phát triển con người và khung sinh kế bền vững của DFID (5 nguồn vốn: tự nhiên, vật chất, con người, tài chính, xã hội). Các khái niệm công cụ bao gồm: nghèo đa chiều, hộ nghèo, hộ cận nghèo, tỷ lệ nghèo, hộ thoát nghèo, hộ tái nghèo, bất bình đẳng và việc làm.

Chuẩn nghèo áp dụng xuyên suốt là chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016–2020 theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đo lường sự thiếu hụt 5 dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số):

Chiều dịch vụ xã hội Chỉ số đo lường thiếu hụt Tiêu chí xác định thiếu hụt
1. Y tế Tiếp cận dịch vụ y tế Có người ốm đau nặng nhưng không đi khám chữa bệnh
Bảo hiểm y tế Có thành viên từ 6 tuổi trở lên không có BHYT
2. Giáo dục Trình độ giáo dục người lớn Có thành viên trong độ tuổi lao động chưa tốt nghiệp THCS, không đi học
Tình trạng đi học của trẻ em Trẻ em từ 5 đến dưới 16 tuổi hiện không đi học
3. Nhà ở Chất lượng nhà ở Sống trong nhà thiếu kiên cố hoặc nhà đơn sơ
Diện tích nhà ở Diện tích nhà ở bình quân đầu người dưới 8 m²
4. Điều kiện sống Nguồn nước sinh hoạt Không tiếp cận được nguồn nước hợp vệ sinh
Nhà tiêu hợp vệ sinh Hộ gia đình không có nhà tiêu hợp vệ sinh
5. Thông tin Dịch vụ viễn thông Không thành viên nào dùng thuê bao điện thoại hoặc internet
Thiết bị tiếp cận thông tin Không có tivi, radio, máy tính và không nghe được loa truyền thanh

Chuẩn nghèo về thu nhập:

  • Khu vực nông thôn: Thu nhập bình quân đầu người từ 700.000 đồng/tháng trở xuống; hoặc trên 700.000 đến 1.000.000 đồng/tháng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường trở lên (hộ nghèo). Hộ cận nghèo có thu nhập trên 700.000 đến 1.000.000 đồng/tháng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số.
  • Khu vực thành thị: Thu nhập bình quân đầu người từ 900.000 đồng/tháng trở xuống; hoặc trên 900.000 đến 1.300.000 đồng/tháng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường trở lên (hộ nghèo). Hộ cận nghèo có thu nhập trên 900.000 đến 1.300.000 đồng/tháng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số.

Chỉ số nghèo đa chiều được tính theo công thức: $MPI = H \times A$, trong đó $H$ là tỷ lệ hộ nghèo đa chiều (tỷ lệ đếm đầu: $q/n$), $A$ là độ sâu thiếu hụt đa chiều trung bình của các hộ nghèo.

Luận án vận dụng 4 quan điểm tiếp cận: tổng hợp lãnh thổ, hệ thống, lịch sử – viễn cảnh và phát triển bền vững. Hệ thống phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm:

  • Phương pháp thu thập tài liệu: Tài liệu thứ cấp từ Tổng cục Thống kê, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Nghệ An, Cục Thống kê tỉnh Nghệ An, Niên giám thống kê tỉnh, UBND các huyện thị; tài liệu quốc tế của WB, UNDP, FAO, ESCAP.
  • Phương pháp thống kê: Xử lý chuỗi dữ liệu kinh tế – xã hội và rà soát hộ nghèo trên phần mềm SPSS 20.0 và Microsoft Excel 2019.
  • Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp: Đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu nghèo theo thời gian và sự phân hóa không gian giữa các huyện thị.
  • Phương pháp khảo sát thực địa: Tiến hành điều tra 160 phiếu khảo sát tại 2 huyện Quế Phong (xã Tri Lễ: 47 phiếu, xã Tiền Phong: 48 phiếu) và huyện Nghĩa Đàn (xã Nghĩa Lạc: 33 phiếu, thị trấn Nghĩa Đàn: 32 phiếu). Cấu trúc mẫu khảo sát cụ thể như sau:
Địa phương Khá giả Trung bình Cận nghèo Nghèo Tổng số hộ
Xã Nghĩa Lạc (Nghĩa Đàn) 3 5 20 5 33
Thị trấn Nghĩa Đàn (Nghĩa Đàn) 8 7 7 10 32
Xã Tri Lễ (Quế Phong) 3 5 5 34 47
Xã Tiền Phong (Quế Phong) 2 4 12 30 48
Tổng số 16 (10,0%) 21 (13,1%) 44 (27,5%) 79 (49,4%) 160 (100%)

Về cơ cấu dân tộc trong mẫu điều tra: 34 hộ người Kinh (21,3%) và 126 hộ dân tộc thiểu số (78,7%, trong đó người Thái chiếm 72 hộ).

  • Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến các nhà khoa học lĩnh vực dân số, công tác xã hội và cán bộ quản lý Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Nghệ An, phòng ban cấp huyện.
  • Phương pháp bản đồ: Ứng dụng phần mềm MapInfo thành lập 7 bản đồ chuyên đề phục vụ phân tích không gian.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở khoa học về nghèo và giảm nghèo

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm, cơ sở lý luận về nghèo đơn chiều và đa chiều, làm rõ phương pháp đo lường MPI của Alkire – Foster gồm tỷ lệ đếm đầu ($H$), cường độ nghèo ($A$) và chỉ số tổng hợp $MPI$. Luận án phân tích các lý thuyết giảm nghèo nền tảng và kinh nghiệm quốc tế, trong nước. Chương này xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá phù hợp với KVMNTBNA gồm 2 nhóm: nhóm tiêu chí đánh giá nghèo (số lượng, tỷ lệ hộ nghèo; thu nhập và chi tiêu; mức độ thiếu hụt 5 dịch vụ xã hội cơ bản với 10 chỉ số; chỉ số MPI) và nhóm tiêu chí đánh giá giảm nghèo (số hộ và tỷ lệ thoát nghèo; số hộ và tỷ lệ tái nghèo; nguồn vốn giảm nghèo; vai trò của các tổ chức đoàn thể). Đồng thời, chương 1 phân tích khung nhân tố tác động gồm vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội và thể chế chính sách.

Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo và giảm nghèo ở khu vực miền núi Tây Bắc tỉnh Nghệ An

Chương 2 làm rõ các đặc trưng lãnh thổ tác động đến nghèo đói tại KVMNTBNA. Vị trí địa lí nằm ở phía tây bắc tỉnh Nghệ An, đường biên giới tiếp giáp Lào, địa hình núi cao hiểm trở, chia cắt mạnh gây trở ngại lớn cho giao thương và tiếp cận dịch vụ công.

  • Về tự nhiên: Tài nguyên đất phân hóa với diện tích đất bazan màu mỡ tại vùng Phủ Quỳ (Nghĩa Đàn, Thái Hòa) thuận lợi trồng cây công nghiệp, cây ăn quả; ngược lại, các huyện Quế Phong, Quỳ Châu có độ dốc lớn, tầng đất mỏng, dễ xói mòn. Tài nguyên khoáng sản (đá hoa trắng Quỳ Hợp, đá quý, thiếc) và lâm sản có giá trị nhưng khai thác chưa gắn kết chặt chẽ với sinh kế người nghèo. Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa chịu hiệu ứng gió phơn tây nam gay gắt, rét đậm rét hại vùng cao, lũ ống, lũ quét đe dọa sinh kế bấp bênh.
  • Về kinh tế – xã hội: Dân số 635.438 người (2021) với nhiều dân tộc cùng sinh sống (Thái, Thổ, Mông, Khơ Mú, Kinh); đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ trọng lớn tại vùng cao. Lao động dồi dào nhưng tỷ lệ qua đào tạo còn thấp; chuyển dịch cơ cấu lao động chậm. Cơ sở hạ tầng giao thông kết nối liên xã, trường học, trạm y tế, công trình nước sinh hoạt còn thiếu thốn ở các xã khu vực III. Kinh tế khu vực tăng trưởng bình quân 6,56% (2016–2020), giá trị tăng thêm bình quân đầu người chỉ bằng 70% mức toàn tỉnh. Trong bức tranh toàn tỉnh, vùng núi phía Tây chiếm tỷ lệ nghèo vượt trội so với vùng đồng bằng (số hộ nghèo gấp 5,3 lần).

Chương 3: Hiện trạng nghèo và giảm nghèo ở khu vực miền núi Tây Bắc tỉnh Nghệ An

Chương 3 phân tích sâu thực trạng giai đoạn 2016–2021:

  • Số hộ và tỷ lệ nghèo: Tỷ lệ hộ nghèo của KVMNTBNA giảm nhanh theo thời gian nhưng luôn cao hơn mức trung bình của tỉnh Nghệ An và có sự phân hóa sâu sắc. Các huyện vùng cao biên giới như Quế Phong, Quỳ Châu có tỷ lệ hộ nghèo cao vượt trội so với thị xã Thái Hòa và huyện Nghĩa Đàn.
  • Thu nhập và chi tiêu: Thu nhập của hộ nghèo phụ thuộc nặng nề vào sản xuất nông – lâm nghiệp tự cấp tự túc, việc làm bấp bênh. Chi tiêu của hộ nghèo dành tỷ trọng áp đảo cho ăn uống và sinh hoạt thiết yếu hàng ngày, khả năng tích lũy hoặc đầu tư tái sản xuất rất thấp.
  • Thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản: Thiếu hụt nghiêm trọng nhất rơi vào chỉ số nhà tiêu hợp vệ sinh, nguồn nước sạch sinh hoạt, chất lượng nhà ở (nhà tạm bợ, thiếu kiên cố) và trình độ học vấn của lao động người lớn. Khả năng tiếp cận dịch vụ y tế chuyên sâu và thông tin truyền thông của các xã vùng sâu còn nhiều rào cản.
  • Chỉ số MPI: Kết quả tính toán MPI phản ánh sự phân hóa không gian; các huyện Quế Phong và Quỳ Châu có chỉ số MPI ở mức cao do vừa có tỷ lệ hộ nghèo lớn ($H$) vừa có độ sâu thiếu hụt đa chiều ($A$) lớn.
  • Nguyên nhân nghèo: Thiếu vốn sản xuất, thiếu tư liệu sản xuất và đất canh tác màu mỡ, trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật thấp, đông người phụ thuộc, ốm đau bệnh tật nặng, ảnh hưởng thiên tai và thiếu liên kết thị trường tiêu thụ.
  • Công tác giảm nghèo: Tỷ lệ thoát nghèo tăng đều qua các năm nhưng tỷ lệ tái nghèo vẫn cao; nguồn vốn tín dụng chính sách từ Ngân hàng Chính sách xã hội và các chương trình mục tiêu quốc gia là nguồn lực chủ lực; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân) đóng vai trò nòng cốt trong quản lý vốn ủy thác và hỗ trợ mô hình sinh kế.

Chương 4: Các giải pháp giảm nghèo ở khu vực miền núi Tây Bắc tỉnh Nghệ An

Trên cơ sở Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021–2025 và kết quả khảo sát nguyện vọng của người dân, chương 4 đề xuất 5 nhóm giải pháp chính:

  1. Phát triển kinh tế – xã hội khu vực: Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng khai thác lợi thế sinh thái; phát triển nông nghiệp hàng hóa, kinh tế lâm nghiệp bền vững gắn với chế biến lâm sản, chăn nuôi đại gia súc và cây đặc sản bản địa; thu hút đầu tư công nghiệp chế biến khoáng sản, nông sản; phát triển du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng.
  2. Phát triển sinh kế cho hộ nghèo và cận nghèo: Tổ chức đào tạo nghề gắn với nhu cầu thực tế; chuyển giao kỹ thuật khuyến nông – khuyến lâm; hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi; mở rộng vốn vay ưu đãi gắn liền với chương trình OCOP và liên kết chuỗi giá trị thị trường.
  3. Nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản: Đầu tư hạ tầng cấp nước sinh hoạt tập trung và hỗ trợ xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh; hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà đơn sơ theo chuẩn diện tích; củng cố mạng lưới y tế cơ sở và duy trì cấp thẻ BHYT; nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, trường bán trú vùng cao.
  4. Nâng cao khả năng chống chịu tổn thương cho hộ nghèo: Xây dựng phương án phòng chống thiên tai, sạt lở đất; hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp; củng cố hệ thống an sinh xã hội và cứu trợ kịp thời khi xảy ra rủi ro dịch bệnh, mất mùa.
  5. Tập trung giảm nghèo trong cộng đồng dân tộc thiểu số: Giải quyết căn bản tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất; bảo tồn tri thức bản địa và văn hóa truyền thống kết hợp tạo sinh kế phi nông nghiệp; phát huy vai trò của già làng, trưởng bản và người có uy tín.

Chương này cũng đưa ra khuyến nghị: chuyển từ hỗ trợ cho không sang hỗ trợ có điều kiện; đa dạng hóa nguồn lực xã hội hóa; tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ giảm nghèo cấp xã, bản.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở khoa học về nghèo đa chiều dưới góc độ phân tích không gian của khoa học Địa lí;
  • Xác lập bộ tiêu chí đánh giá nghèo và giảm nghèo đa chiều phù hợp với một đơn vị lãnh thổ cấp tiểu vùng (cụm huyện miền núi), làm cơ sở vận dụng cho các nghiên cứu địa lí kinh tế – xã hội tương tự.

Về mặt thực tiễn:

  • Phân tích toàn diện hiện trạng nghèo đa chiều tại KVMNTBNA trong giai đoạn chuyển đổi chính sách 2016–2021; lượng hóa sự phân hóa không gian về tỷ lệ hộ nghèo, mức độ thiếu hụt 10 chỉ số dịch vụ xã hội và chỉ số MPI giữa 6 đơn vị hành chính cấp huyện;
  • Xác định cụ thể các rào cản sinh kế và nguyên nhân nghèo đặc thù của địa bàn qua dữ liệu khảo sát thực địa 160 hộ;
  • Đề xuất hệ thống giải pháp và khuyến nghị có tính khả thi cao, phân hóa theo từng tiểu vùng sinh thái – nhân văn, phục vụ trực tiếp cho việc xây dựng và điều chỉnh chính sách giảm nghèo bền vững của tỉnh Nghệ An đến năm 2030.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế:

  • Nguồn số liệu thống kê thứ cấp chi tiết cấp huyện về lao động và cơ cấu dân tộc không có báo cáo thường niên mà phải kế thừa từ cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 của Cục Thống kê tỉnh Nghệ An;
  • Do địa hình vùng cao hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn và giới hạn về nguồn lực, phạm vi khảo sát thực địa trực tiếp dừng lại ở 160 hộ tại 2 huyện đại diện (Quế Phong và Nghĩa Đàn).

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu thực địa sang các huyện Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Tân Kỳ để đối sánh toàn diện hơn;
  • Cập nhật và đánh giá hiện trạng giảm nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021–2025 quy định tại Nghị định 07/2021/NĐ-CP, tập trung vào hai chiều thiếu hụt mới là việc làm và dinh dưỡng trẻ em.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên và sinh viên chuyên ngành Địa lí học, Địa lí kinh tế – xã hội, Xã hội học, Kinh tế phát triển và Quản lý công trong việc tham khảo khung phương pháp nghiên cứu địa bàn miền núi, kỹ thuật tính toán chỉ số MPI và kỹ thuật lập bản đồ chuyên đề bằng MapInfo kết hợp SPSS.
  • Cơ quan quản lý nhà nước: Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Nghệ An, Ban Dân tộc tỉnh Nghệ An, UBND tỉnh Nghệ An và chính quyền 6 huyện thị KVMNTBNA sử dụng làm căn cứ thực tiễn để rà soát danh mục đầu tư hạ tầng, phân bổ vốn ngân sách các Chương trình mục tiêu quốc gia và thiết kế mô hình sinh kế giảm nghèo phù hợp với từng nhóm dân tộc.

Câu hỏi thường gặp

  1. Phạm vi lãnh thổ của khu vực miền núi Tây Bắc tỉnh Nghệ An trong luận án gồm những đơn vị hành chính nào? Khu vực nghiên cứu gồm 6 đơn vị hành chính cấp huyện: huyện Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ và thị xã Thái Hòa, với tổng diện tích 5.369,9 km² và dân số 635.438 người (năm 2021).

  2. Quy mô và cơ cấu mẫu điều tra thực địa của luận án được thực hiện ra sao? Tác giả khảo sát 160 hộ gia đình tại 2 huyện Quế Phong (xã Tri Lễ: 47 hộ, xã Tiền Phong: 48 hộ) và huyện Nghĩa Đàn (xã Nghĩa Lạc: 33 hộ, thị trấn Nghĩa Đàn: 32 hộ). Mẫu gồm 79 hộ nghèo (49,4%), 44 hộ cận nghèo (27,5%), 21 hộ trung bình (13,1%) và 16 hộ khá giả (10,0%); trong đó có 126 hộ dân tộc thiểu số (78,7%, gồm 72 hộ người Thái) và 34 hộ người Kinh (21,3%).

  3. Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016–2020 áp dụng trong luận án quy định mức thu nhập như thế nào? Ở khu vực nông thôn, chuẩn hộ nghèo là thu nhập bình quân đầu người từ 700.000 đồng/tháng trở xuống, hoặc trên 700.000 đến 1.000.000 đồng/tháng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường trở lên; ở thành thị, mức thu nhập tương ứng là từ 900.000 đồng/tháng trở xuống, hoặc trên 900.000 đến 1.300.000 đồng/tháng và thiếu hụt từ 3 chỉ số trở lên.

  4. Hộ nghèo tại khu vực nghiên cứu bị thiếu hụt nghiêm trọng nhất ở những chỉ số dịch vụ xã hội nào? Các chỉ số có mức độ thiếu hụt cao nhất tập trung vào: nhà tiêu hợp vệ sinh, nguồn nước sạch sinh hoạt, chất lượng nhà ở (nhà thiếu kiên cố, đơn sơ) và trình độ học vấn của người lao động người lớn.

  5. Luận án đề xuất những trụ cột giải pháp trọng tâm nào để giảm nghèo cho khu vực đến năm 2030? Luận án đề xuất 5 nhóm giải pháp chính: phát triển kinh tế – xã hội khu vực; phát triển sinh kế cho hộ nghèo và cận nghèo; nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản; nâng cao khả năng chống chịu tổn thương trước thiên tai và dịch bệnh; tập trung giảm nghèo trong cộng đồng các dân tộc thiểu số.

Kết luận

Luận án của tác giả Trương Thị Như Nguyệt là công trình nghiên cứu chuyên khảo về thực trạng nghèo và giảm nghèo tại khu vực miền núi Tây Bắc tỉnh Nghệ An dưới lăng kính Địa lí học trong giai đoạn áp dụng chuẩn nghèo đa chiều 2016–2021. Bằng việc kết hợp chặt chẽ các nguồn số liệu thống kê hành chính, phương pháp bản đồ MapInfo và dữ liệu điều tra vi mô 160 hộ gia đình, công trình đã làm sáng tỏ mối liên hệ giữa các nhân tố tự nhiên, kinh tế – xã hội với sự phân hóa không gian của nghèo đói và chỉ số MPI cấp huyện. Các phát hiện thực tiễn và hệ thống giải pháp đề xuất cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp phục vụ công tác quy hoạch, điều hành chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững của tỉnh Nghệ An định hướng đến năm 2030.