Nghiên cứu địa lý nghèo và giải pháp giảm nghèo ở khu vực miền núi Tây Bắc Nghệ An

Luận án tiến sĩ nghiên cứu địa lý nghèo và giải pháp giảm nghèo tại khu vực miền núi Tây Bắc Nghệ An, phân tích thực trạng và đề xuất hướng phát triển bền vững.

Chuyên ngành

Địa lí học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2024

196
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

0.5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

0.6. Cấu trúc của luận án

1. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NGHÈO VÀ GIẢM NGHÈO

1.1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu nghèo và giảm nghèo trên thế giới

1.3. Tình hình nghiên cứu về nghèo và giảm nghèo ở Việt Nam

1.4. Tổng quan các nghiên cứu về tỉnh Nghệ An

1.5. Cơ sở lí luận về nghèo và giảm nghèo

1.6. Các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo và giảm nghèo

1.7. Các tiêu chí đánh giá nghèo và giảm nghèo áp dụng cho khu vực nghiên cứu

1.8. Tiểu kết chương 1

2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGHÈO VÀ GIẢM NGHÈO Ở KHU VỰC MIỀN NÚI TÂY BẮC TỈNH NGHỆ AN

2.1. Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ

2.2. Các nhân tố tự nhiên

2.2.1. Tài nguyên nước

2.2.2. Tài nguyên đất

2.2.3. Tài nguyên sinh vật

2.2.4. Tài nguyên khoáng sản

2.3. Các nhân tố kinh tế – xã hội

2.3.1. Dân cư và lao động

2.3.2. Trình độ phát triển kinh tế – xã hội

2.3.3. CSHT và cơ sở vật chất kĩ thuật

2.3.4. Các chính sách giảm nghèo

2.4. Bối cảnh nghèo và giảm nghèo tỉnh Nghệ An

2.5. Tiểu kết chương 2

3. HIỆN TRẠNG NGHÈO VÀ GIẢM NGHÈO Ở KHU VỰC MIỀN NÚI TÂY BẮC TỈNH NGHỆ AN

3.1. Hiện trạng nghèo

3.1.1. Số hộ nghèo và tỉ lệ hộ nghèo

3.1.2. Thu nhập và chi tiêu của hộ nghèo và cận nghèo

3.1.3. Sự thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản

3.1.4. Chỉ số nghèo đa chiều MPI

3.1.5. Nguyên nhân nghèo

3.2. Hiện trạng giảm nghèo

3.2.1. Số hộ thoát nghèo và tỉ lệ hộ thoát nghèo

3.2.2. Số hộ tái nghèo và tỉ lệ hộ tái nghèo

3.2.3. Huy động và sử dụng nguồn vốn giảm nghèo

3.2.4. Hoạt động của các tổ chức đoàn thể trong giảm nghèo

3.3. Tiểu kết chương 3

4. CÁC GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO Ở KHU VỰC MIỀN NÚI TÂY BẮC TỈNH NGHỆ AN

4.1. Cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp giảm nghèo ở khu vực miền núi Tây Bắc tỉnh Nghệ An

4.2. Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội khu vực miền núi Tây Bắc tỉnh Nghệ An

4.3. Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021 – 2025

4.4. Những thuận lợi và khó khăn trong giảm nghèo ở Khu vực miền núi Tây Bắc Nghệ An

4.5. Nguyện vọng của hộ nghèo

4.6. Định hướng giảm nghèo cho khu vực miền núi Tây Bắc tỉnh Nghệ An

4.7. Các giải pháp giảm nghèo ở khu vực miền núi Tây Bắc tỉnh Nghệ An

4.7.1. Phát triển kinh tế - xã hội khu vực miền núi Tây Bắc tỉnh Nghệ An

4.7.2. Phát triển sinh kế cho hộ nghèo và cận nghèo

4.7.3. Nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản cho hộ nghèo và hộ cận nghèo

4.7.4. Nâng cao khả năng chống chịu tổn thương cho hộ nghèo và cận nghèo

4.7.5. Tập trung giảm nghèo trong cộng đồng các dân tộc thiểu số

4.8. Một số khuyến nghị góp phần giảm nghèo ở khu vực miền núi Tây Bắc tỉnh Nghệ An

4.8.1. Thay đổi cách tiếp cận trong giảm nghèo

4.8.2. Huy động nguồn lực cho phát triển kinh tế – xã hội và giảm nghèo

4.8.3. Những kiến nghị với các chủ thể của giảm nghèo

4.9. Tiểu kết chương 4

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về khu vực miền núi Tây Bắc Nghệ An

Khu vực miền núi Tây Bắc Nghệ An là một trong những vùng có tỷ lệ nghèo cao nhất tại tỉnh Nghệ An. Với diện tích 5.369,9 km2 và dân số khoảng 635.438 người, khu vực này bao gồm các huyện như Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ và thị xã Thái Hòa. Giảm nghèo ở khu vực này không chỉ là một nhiệm vụ cấp bách mà còn là một thách thức lớn đối với chính quyền địa phương. Tình hình nghèo ở đây chủ yếu do các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội và chính sách giảm nghèo chưa hiệu quả. Theo số liệu thống kê, tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực này gấp 5,3 lần so với vùng đồng bằng, cho thấy sự phân hóa rõ rệt giữa các vùng trong tỉnh. Việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp giảm nghèo cho khu vực miền núi Tây Bắc Nghệ An là cần thiết để cải thiện đời sống của người dân.

II. Các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo và giảm nghèo

Nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèogiảm nghèo ở khu vực miền núi Tây Bắc Nghệ An. Đầu tiên, vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đóng vai trò quan trọng. Khu vực này có địa hình đồi núi, khí hậu khắc nghiệt, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và sinh kế của người dân. Thứ hai, các yếu tố kinh tế - xã hội như trình độ học vấn, khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản cũng là những yếu tố quyết định. Theo nghiên cứu, tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực này chủ yếu là các hộ dân tộc thiểu số, với trình độ học vấn thấp và thiếu kỹ năng nghề nghiệp. Chính sách giảm nghèo hiện tại chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của người dân, dẫn đến tình trạng tái nghèo cao. Do đó, việc phân tích các nhân tố này là rất cần thiết để đưa ra các giải pháp hiệu quả.

III. Hiện trạng nghèo và giảm nghèo

Hiện trạng nghèo ở khu vực miền núi Tây Bắc Nghệ An cho thấy nhiều vấn đề nghiêm trọng. Theo số liệu, tỷ lệ hộ nghèo vẫn ở mức cao, với nhiều hộ gia đình sống trong điều kiện thiếu thốn. Giảm nghèo trong giai đoạn 2016-2021 đã đạt được một số kết quả tích cực, nhưng vẫn còn nhiều thách thức. Số hộ thoát nghèo tăng lên, nhưng tỷ lệ tái nghèo cũng không ngừng gia tăng. Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục và cơ sở hạ tầng. Việc huy động nguồn lực cho giảm nghèo cũng gặp nhiều khó khăn, do sự phân bổ ngân sách chưa hợp lý và thiếu sự tham gia của cộng đồng. Do đó, cần có những biện pháp cụ thể để cải thiện tình hình này.

IV. Giải pháp giảm nghèo cho khu vực miền núi Tây Bắc Nghệ An

Để giảm nghèo hiệu quả cho khu vực miền núi Tây Bắc Nghệ An, cần thực hiện một số giải pháp đồng bộ. Đầu tiên, cần quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với đặc điểm của khu vực. Thứ hai, cần tăng cường đào tạo nghề cho người dân, giúp họ có kỹ năng và khả năng tiếp cận việc làm. Thứ ba, cần nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản cho hộ nghèo và cận nghèo, đặc biệt là trong lĩnh vực y tế và giáo dục. Cuối cùng, việc huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân và cộng đồng cũng rất quan trọng để thực hiện các chương trình giảm nghèo bền vững. Những giải pháp này không chỉ giúp cải thiện đời sống của người dân mà còn góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NGHÈO VÀ GIẢM NGHÈO 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu nghèo và giảm nghèo trên thế giới 1.

Các nghiên cứu cơ sở lí luận về nghèo và giảm nghèo Các nghiên cứu mang tính cơ sở lí luận về nghèo và giảm nghèo bao gồm các quan niệm, các tiêu chí đánh giá nghèo và các lí thuyết giảm nghèo. – Quan niệm về nghèo Trên thế giới, quan niệm về nghèo được đề cập dưới hai góc nhìn: nghèo đơn chiều và nghèo đa chiều. Góc nhìn nghèo đơn chiều được thể hiện trong khái niệm người nghèo tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Phát triển xã hội năm 1995. Theo quan niệm này, tính định lượng của nghèo được xác định rõ nhưng sự thay đổi về thời gian của vấn đề nghèo lại không được tính đến và nghèo cũng chỉ mới đề cập tới khía cạnh đơn chiều (về TN).

Góc nhìn nghèo đa chiều lần đầu tiên được nêu lên tại Hội nghị bàn về vấn đề giảm nghèo do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) năm 1993 với cụm từ “những nhu cầu cơ bản”. Góc nhìn này được thể hiện rõ hơn trong quan niệm của Amartya Kumar Sen khi ông cho rằng“con người cần có những nhu cầu tối thiểu về vật chất và tinh thần để tồn tại; con người sẽ bị coi là đang sống trong nghèo nàn” nếu sống dưới mức tối thiểu này [dẫn theo 10]. Khái niệm “nghèo đa chiều” ra đời trong Tuyên bố của UN tháng 6/2008. Khái niệm nêu rõ nghèo về lương thực, thực phẩm chỉ là một khía cạnh, nghèo đa chiều còn có các khía cạnh khác đó là:“việc làm cho người lao động, các cơ hội để người nghèo tiếp cận được các dịch vụ cơ bản (giáo dục, y tế), các nguồn vốn phát triển sản xuất và đặc biệt là các cơ hội để người nghèo có thể tự thoát nghèo bền vững.” Như vậy, có thể thấy các quan niệm trên cơ bản đều thống nhất rằng: “nghèo là một hiện tượng đa chiều, là sự thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người, nói cách khác nghèo là tình trạng con người không được đáp ứng các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống ở mức tối thiểu”.

– Về tiêu chí đánh giá nghèo Tương ứng với quan niệm nghèo đơn chiều và nghèo đa chiều, các tiêu chí đánh giá nghèo cơ bản được đưa ra theo hai quan niệm đó. án tiến sĩ 2024 12 Trước hết, tiêu chí đánh giá nghèo đơn chiều được WB đưa ra với hai tiêu chí cơ bản là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Quan điểm này được Loranzo D.Giovanni Belly và Paolo Leberati (FAO) đồng tình. Các tác giả đã đưa ra hai phương pháp cơ bản để đánh giá nghèo tương đối, đó là: mức TN (IL: Income level) và vị trí TN (IP: Income positions) [118].

Tuy nhiên, tác giả Prakash Longani (IMF) lại cho rằng việc sử dụng chỉ tiêu nghèo tuyệt đối (TN dưới 1USD/ngày) của WB không hoàn toàn phù hợp để đưa ra kết quả giảm nghèo so với năm 1990 (tỉ lệ nghèo giảm xuống dưới 15%). Theo ông, cuộc chiến chống đói nghèo của thế giới phải đối mặt với nhiều khó khăn hơn khi bất bình đẳng có xu hướng ngày càng tăng, sự điều chỉnh về chuẩn nghèo tuyệt đối (từ 1USD lên 2USD/người/ngày). Tác giả cũng nêu ra sự khác biệt về tiêu chí đánh giá nghèo giữa EU và Mỹ. Điều này cho thấy cần có sự điều chỉnh chuẩn nghèo theo thời gian, đồng thời chuẩn nghèo cũng cần có sự địa phương hóa [123].

Ngoài ra, để đánh giá mức sống của con người UN cũng đưa ra chỉ số phát triển con người – Human Development Index (HDI) [129]. HDI bao gồm: tuổi thọ, trình độ và mức sống (ba yếu tố cơ bản của sự phát triển con người). Tiêu chí“đánh giá nghèo đa chiều được Alkire và Foster (Tổ chức sáng kiến phát triển con người và chống nghèo đói Oxford – OPHI) đưa ra”năm 2007 [102]. Cách thức đo lường này lần đầu tiên được giới thiệu“trong Báo cáo Phát triển con người năm 2010 của UNDP để tính toán chỉ số nghèo đa chiều (MPI) và đã được đề xuất áp dụng thống nhất trên toàn thế giới sau năm 2015 để theo dõi, đánh giá nghèo.

MPI được tính toán dựa trên 3 chiều nghèo (Y tế, Giáo dục và Điều kiện sống) với 10 chỉ số về phúc lợi”[dẫn theo 10]. MPI“hiện là một thước đo quan trọng nhằm bổ sung cho phương pháp đo lường nghèo truyền thống.” Để làm rõ ý nghĩa của MPI, các nhà nghiên cứu Alkire, Usha Kanagaratnam và Nicolai Suppa năm 2021 đã tiến hành khảo sát 109 quốc gia, bao gồm 5,9 tỷ người về MPI, trong đó phân tách theo các nhóm tuổi, khu vực NT/đô thị và các vùng cấp dưới, đồng thời phân tách theo giới tính của người đứng đầu hộ gia đình. Việc xác định MPI cho thấy không phải các quốc gia hay các địa phương có tỉ lệ hộ nghèo (người nghèo) tương đương nhau thì nghèo như nhau [125]. Việc sử dụng MPI trong đo lường nghèo để đảm bảo độ chính xác cũng gặp một số khó khăn như việc xác định các chỉ số và thu thập dữ liệu, cần phải xem xét kỹ càng để đảm bảo tính chính xác và phản ánh đầy đủ các khía cạnh của đói nghèo.

án tiến sĩ 2024 13 Ngoài ra, việc xác định trọng số cho các chiều khác nhau của MPI cũng là một thách thức quan trọng [111]. Bên cạnh chỉ số MPI, tác giả Mauricio Gallardo năm 2019 đã đề xuất một chỉ số đo lương nghèo mới là chỉ số tính năng nghèo đói đa chiều (VMPI) dựa trên sự tích hợp phương pháp đo lường mức tiêu cực và độ lệch chuẩn của tính năng nghèo đói vào khung đếm đa chiều của Alkire và Foster [116]. VMPI bao gồm tập hợp những người dễ bị tổn thương không chỉ những người không nghèo đang đối mặt với nguy cơ trở thành nghèo mà còn những người, đã là nghèo, vẫn có nguy cơ tiếp tục là nghèo. Như vậy, tuy có nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau, nhưng phần lớn các công trình nghiên cứu đã chỉ rõ nhóm“tiêu chí đánh giá nghèo đa chiều bao gồm chỉ số về TN và các chỉ số về tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

Bên cạnh đó, các yếu tố như: thiếu cơ hội, tình trạng suy dinh dưỡng, bệnh tật, thất học, bất hạnh và tuyệt vọng, thiếu sự tham gia và tiếng nói về kinh tế, xã hội hay chính trị là những nội dung được quan tâm trong”đánh giá nghèo đa chiều. Tuy nhiên, tiêu chí đánh giá nghèo trên thế giới cũng không có sự thống nhất. Các khu vực, các quốc gia tùy thuộc vào trình độ phát triển KTXH sẽ đưa ra tiêu chí khác nhau. Các cơ quan, tổ chức với cơ sở đánh giá, mục đích khác biệt cũng đưa ra các tiêu chí khác nhau để đánh giá nghèo.

Điều này thể hiện rõ tính lịch sử và xã hội của vấn đề nghèo. – Một số lí thuyết giảm nghèo + Lí thuyết Keynesian Lí thuyết Keynesian nhấn mạnh vai trò của chính phủ trong việc khuyến khích chi tiêu và đầu tư để tạo ra việc làm và kích thích tăng trưởng kinh tế. Chính phủ có thể thực hiện chính sách tài khóa bằng cách tăng chi tiêu công cộng trong các lĩnh vực như hạ tầng, giáo dục, y tế và phát triển NT. Điều này không chỉ tạo ra việc làm mà còn tăng khả năng tiêu dùng và đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo [21].

+ Lí thuyết “Loại trừ xã hội” Theo lí thuyết này, nguyên nhân chính của nghèo đó là sự loại trừ xã hội, tức là việc một nhóm dân số bị cô lập, bị tách biệt hoặc bị loại trừ khỏi các cơ hội và lợi ích của xã hội. Loại trừ xã hội có thể bao gồm việc không có quyền truy cập vào giáo dục, chăm sóc sức khỏe, việc làm, hệ thống chính trị, các dịch vụ cơ bản và tài nguyên xã hội khác. Lí thuyết này cho rằng để giảm nghèo, chú trọng vào việc cung án tiến sĩ 2024 14 cấp các dịch vụ xã hội cơ bản cho nhóm dân số nghèo là cần thiết. Điều này có thể bao gồm cải thiện giáo dục, chăm sóc sức khỏe, đảm bảo tiếp cận việc làm, phát triển CSHT, tạo ra các chính sách xã hội bao gồm bảo hiểm xã hội và chính sách phúc lợi xã hội.

Lí thuyết “Loại trừ xã hội” nhấn mạnh vai trò của việc loại bỏ các rào cản xã hội và kinh tế, tạo điều kiện cho mọi người tham gia vào xã hội và tận hưởng các quyền lợi và cơ hội tương đương [104]. + Lí thuyết phát triển con người: Amartya Sen cho rằng giảm nghèo không chỉ đơn thuần là việc tăng TN, mà còn là việc tạo ra cơ hội và nâng cao khả năng của mỗi người. Ngoài việc cung cấp dịch vụ giáo dục và chăm sóc sức khỏe cơ bản, lí thuyết này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền tự do cá nhân, tham gia chính trị và truy cập thông tin. Bằng cách tạo ra môi trường cho con người phát triển toàn diện, lí thuyết này đặt mục tiêu giúp mọi người thoát khỏi tình trạng nghèo đói và tham gia tích cực vào quá trình phát triển kinh tế [103].

+ Lí thuyết phát triển bền vững: Lí thuyết phát triển bền vững nhấn mạnh sự cân nhắc giữa tiến bộ kinh tế và bảo vệ môi trường. Đối với giảm nghèo hiệu quả, không chỉ cần tăng cường TN và cơ hội kinh tế cho người nghèo, mà còn cần đảm bảo sự bền vững về môi trường, tài nguyên và sinh thái. Bên cạnh đó, lí thuyết còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển các ngành công nghiệp và kinh doanh bền vững, sử dụng tài nguyên một cách có trách nhiệm và xử lý chất thải một cách hiệu quả. Điều này giúp tạo ra công việc mới trong các ngành công nghệ sạch và tái chế, đồng thời bảo vệ môi trường và sự phát triển lâu dài [109].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Giải pháp giảm nghèo cho khu vực miền núi Tây Bắc Nghệ An" trình bày những phương pháp hiệu quả nhằm cải thiện đời sống của người dân tại khu vực này. Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển kinh tế địa phương thông qua các chương trình đào tạo nghề, hỗ trợ vay vốn và khuyến khích sản xuất nông nghiệp bền vững. Những giải pháp này không chỉ giúp giảm nghèo mà còn tạo ra cơ hội việc làm cho người dân, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống.

Để hiểu rõ hơn về các chính sách và mô hình phát triển tương tự, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận văn thạc sĩ tác động của chính sách vay vốn và đào tạo nghề của chính phủ đến giảm nghèo đối với vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh An Giang giai đoạn 2008 2013", nơi phân tích tác động của các chính sách tương tự tại An Giang. Ngoài ra, bài viết "Hcmute phát triển bền vững nghề trồng nấm tại Việt Nam" cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về phát triển nghề nghiệp bền vững, có thể áp dụng cho các khu vực miền núi. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Luận văn thạc sĩ hcmute đào tạo nghề nghiệp vụ lễ tân trình độ trung cấp tại trường cao đẳng nghề Kiên Giang theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp", để thấy được sự kết nối giữa giáo dục và thị trường lao động trong việc giảm nghèo. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và tìm hiểu thêm về các giải pháp phát triển kinh tế tại các khu vực khó khăn.