Luận văn thạc sĩ tác động của chính sách vay vốn và đào tạo nghề của chính phủ đến giảm nghèo đối với vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh an giang giai đoạn 2008 2013

Luận văn phân tích tác động của chính sách vay vốn và đào tạo nghề đến giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số tỉnh An Giang giai đoạn 2008-2013.

Chuyên ngành

Chính Sách Công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2017

114
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tác động của chính sách vay vốn

Chính sách vay vốn đã được triển khai nhằm hỗ trợ người nghèo, đặc biệt là các hộ dân tộc thiểu số tại tỉnh An Giang trong giai đoạn 2008-2013. Chính sách này không chỉ giúp người dân tiếp cận nguồn vốn mà còn tạo điều kiện cho họ đầu tư vào sản xuất, từ đó tăng thu nhập và cải thiện đời sống. Theo số liệu, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 31,43% xuống còn 25,5% trong giai đoạn này. Điều này cho thấy sự hiệu quả của chính sách trong việc hỗ trợ tài chính cho người nghèo. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hộ dân gặp khó khăn trong việc tiếp cận khoản vay do thiếu thông tin và kỹ năng quản lý tài chính. Một nghiên cứu cho thấy, 60% hộ nghèo cho biết họ không biết cách lập kế hoạch sử dụng vốn vay một cách hiệu quả. Do đó, việc cải thiện khả năng tiếp cận và quản lý khoản vay là rất cần thiết để nâng cao hiệu quả của chính sách này.

1.1. Khả năng tiếp cận chính sách vay vốn

Khả năng tiếp cận chính sách vay vốn của người nghèo tại An Giang còn hạn chế. Nhiều hộ gia đình không đủ điều kiện để vay do thiếu tài sản thế chấp. Hơn nữa, quy trình vay vốn phức tạp và yêu cầu nhiều giấy tờ khiến người dân cảm thấy khó khăn. Theo khảo sát, chỉ có 40% hộ nghèo biết đến các chương trình vay vốn ưu đãi. Điều này cho thấy cần có những biện pháp cải thiện thông tin và hỗ trợ người dân trong việc tiếp cận các nguồn vốn này. Việc đơn giản hóa quy trình vay vốn và tăng cường tuyên truyền sẽ giúp nhiều hộ gia đình có cơ hội thoát nghèo hơn.

II. Tác động của chính sách đào tạo nghề

Chính sách đào tạo nghề đã được triển khai nhằm nâng cao kỹ năng lao động cho người nghèo, đặc biệt là các hộ dân tộc thiểu số. Chương trình này không chỉ giúp người dân có thêm kiến thức mà còn tạo ra cơ hội việc làm mới. Theo thống kê, tỷ lệ hộ nghèo tham gia vào các khóa đào tạo nghề đã tăng lên 25% trong giai đoạn 2008-2013. Những người đã tham gia đào tạo cho biết họ có khả năng tìm được việc làm với mức thu nhập cao hơn so với trước đây. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức trong việc thu hút người dân tham gia các khóa học này. Một số người cho rằng chương trình chưa phù hợp với nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Do đó, cần có sự điều chỉnh trong nội dung và hình thức đào tạo để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân.

2.1. Đánh giá hiệu quả của chương trình đào tạo nghề

Chương trình đào tạo nghề đã mang lại nhiều lợi ích cho người dân, nhưng hiệu quả vẫn chưa đạt được như mong đợi. Nhiều người tham gia đào tạo vẫn gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm phù hợp. Theo khảo sát, chỉ có 50% người tham gia có việc làm ổn định sau khi hoàn thành khóa học. Điều này cho thấy cần có sự kết nối giữa các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp để tạo ra cơ hội việc làm cho người dân. Hơn nữa, việc nâng cao chất lượng đào tạo và cập nhật chương trình học cũng là yếu tố quan trọng để đảm bảo người dân có thể đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động.

III. Tác động kinh tế và xã hội

Chính sách vay vốnđào tạo nghề không chỉ tác động đến đời sống kinh tế của người dân mà còn ảnh hưởng đến các khía cạnh xã hội khác. Việc cải thiện thu nhập đã giúp nhiều hộ gia đình có điều kiện tốt hơn trong việc chăm sóc sức khỏe và giáo dục cho con cái. Theo báo cáo, tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường tại các hộ nghèo đã tăng lên 70% trong giai đoạn này. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức trong việc duy trì và phát triển các chương trình này. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền và các tổ chức xã hội để đảm bảo tính bền vững của các chính sách này.

3.1. Tác động xã hội của chính sách

Chính sách vay vốnđào tạo nghề đã góp phần làm giảm nghèo và cải thiện đời sống cho người dân. Tuy nhiên, tác động xã hội của các chính sách này còn hạn chế. Nhiều hộ gia đình vẫn gặp khó khăn trong việc duy trì thu nhập ổn định. Theo khảo sát, 30% hộ nghèo cho biết họ vẫn phải đối mặt với khó khăn trong việc chi tiêu hàng ngày. Điều này cho thấy cần có những chính sách hỗ trợ bổ sung để giúp người dân vượt qua khó khăn và ổn định cuộc sống.

25/01/2025
Luận văn thạc sĩ tác động của chính sách vay vốn và đào tạo nghề của chính phủ đến giảm nghèo đối với vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh an giang giai đoạn 2008 2013

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. 123doc 4 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và khuyến nghị chính sách.

123doc 5 Chương 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến đói nghèo và lược khảo một số tài liệu nghiên cứu về đói nghèo tại Việt Nam làm cơ sở để đề xuất mô hình nghiên cứu. LÝ THUYẾT LIÊN QUAN 2. Khái niệm nghèo Đói nghèo là một khái niệm đa chiều vừa dễ và vừa khó để định nghĩa.

Đói nghèo thường được mô tả như một tình trạng theo đó những cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng thiếu các nguồn lực để tạo ra những nguồn thu nhập có thể duy trì mức tiêu dùng đủ đáp ứng các nhu cầu cho một cuộc sống đầy đủ, sung túc. Theo cách tiếp cận này, đói nghèo là tình trạng thiếu thốn vật chất. Sự thiếu thốn vật chất còn có thể được thể hiện qua những nét đặc trưng của những khu vực mà người nghèo thường sinh sống, là những nơi thường thiếu điện, nước sạch hay nhà vệ sinh và các dịch vụ khác (UNDP, 2012). Nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng nghèo cần được nhìn nhận là sự thiếu hụt/không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người.

Vì vậy, nghèo đa chiều có thể được hiểu là tình trạng con người không được đáp ứng một hoặc một số nhu cầu cơ bản trong cuộc sống (Bộ Lao động, Thương binh và xã hội, 2014). ESCAP (1993)1 đưa ra định nghĩa về nghèo như sau: “Nghèo là một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội phong tục tập quán của địa phương”. Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức năm 1995 đưa định nghĩa về nghèo: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới một đô 1 Báo cáo hội nghị về chống nghèo ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tháng 9/1993 tại Bangkok, Thái Lan. 123doc 6 la mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm cần thiết để tồn tại.” Các nhóm nghiên cứu của UNDP, UNFPA, UNICEF trong công trình “Xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam-1995” đã đưa ra định nghĩa: “Nghèo là tình trạng thiếu khả năng trong việc tham gia vào đời sống quốc gia, nhất là tham gia vào lĩnh vực kinh tế”.

Word Bank (2000)2 thì: “Đói nghèo không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất (được đo lường theo một khái niệm thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng) mà còn là sự hưởng thụ thiếu thốn về giáo dục và y tế. Nghèo có nghĩa là không có nhà cửa, quần áo, ốm đau mà không ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường”. Một cách hiểu khác thì nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo. Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia.

Kể từ năm 2000, Ủy ban Kinh tế và Xã hội châu Á Thái Bình Dương của Liên hiệp quốc (UNESCAP) đã đưa ra ba khái niệm liên quan chặt chẽ với nhau để mô tả nghèo đói, đó là nghèo thu nhập (poverty of income), nghèo tiếp cận (poverty of access), và nghèo sức mạnh (poverty of power). Nghèo thu nhập là khi thu nhập dưới một ngưỡng nghèo. Nghèo thu nhập thường được sử dụng để đánh giá nghèo đói, cách biệt giàu nghèo, bất bình đẳng và mức độ thoát nghèo của một quốc gia. Nghèo tiếp cận làm vững chắc hơn nữa cái nghèo thu nhập và vòng luẩn quẩn đói nghèo.

Người nghèo không tiếp cận được với rất nhiều dịch vụ và cơ sở hạ tầng cơ bản, từ giao thông đến giáo dục, nguồn vốn, nước sạch, nhà ở, an sinh xã hội, thông tin và chính sách. Nghèo sức mạnh thể hiện ở chỗ cho dù có thể tiếp cận được, thì những chính sách và thông tin này có thực sự giúp được những người nghèo không? Câu trả lời là “có” chỉ khi nó đáp ứng được nhu cầu và bắt nguồn từ thực tế của họ. Điều đó 2 World Bank (2000) Báo cáo về tình hình phát triển thế giới - Tấn công nghèo đói. 123doc 7 liên quan đến việc người nghèo có được tạo điều kiện, và có đủ năng lực, sức mạnh để có ý kiến tham gia vào quá trình xây dựng chính sách và những quyết định liên quan đến chính họ hay không.

Ở Việt Nam căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội và mức thu nhập của nhân dân trong những năm qua thì khái niệm đói nghèo được xác định là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thoả mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện.Ở Việt Nam thì nghèo được chia thành các mức khác nhau: nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo có nhu cầu tối thiểu. Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo không có khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống: ăn, mặc, ở, và đi lại. Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo có mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đang xét. Nghèo có nhu cầu tối thiểu: Đây là tình trạng một bộ phận dân cư có những đảm bảo tối thiểu để duy trì cuộc sống như đủ ăn, đủ mặc, đủ ở và một số sinh hoạt hàng ngày nhưng ở mức tối thiểu.

Đặc điểm hộ nghèo Người nghèo đa phần là người nông dân sống ở vùng nông thôn, do họ thiếu thốn, thiếu kinh nghiệm, thiếu kiến thức sản xuất nên đời sống gặp nhiều khó khăn. Đa phần họ bị hạn chế về khả năng nhận thức và kỹ năng sản xuất kinh doanh nên họ thường tổ chức sản xuất theo thói quen, chưa biết mở mang ngành nghề, chưa có điều kiện tiếp xúc thị trường. Các hộ nghèo thường có nhiều con hoặc ít lao động trong gia đình, chịu áp lực lớn về chi phí y tế, giáo dục và không thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của đời sống. Đói nghèo thường đi đôi với thất nghiệp, suy dinh dưỡng, mù chữ, rủi ro về môi trường, thiếu các dịch vụ về y tế và xã hội kể cả dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình.

Tất cả những yếu tố này tạo ra tỷ lệ sinh, tử và bệnh tật tăng cao, năng suất lao động thấp. Ảnh hưởng đến tốc độ phát triển kinh tế của đất nước, làm chậm tiến độ đến nền kinh tế công nghiệp. 123doc 8 Nghèo đói Thiếu ăn, bệnh Thiếu cơ hội, tật và tử vong học vấn thấp Thất nghiệp, thiếu việc làm, thu nhập thấp Hình 2-1: Vòng luẩn quẩn của nghèo đói Nguồn: Tổng cục dân số - Kế hoạch hóa gia đình (2013) 2. Chuẩn nghèo của Việt Nam Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08/07/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 -2010 thì khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.

Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. Theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, nhóm hộ tham gia chính sách áp dụng cho giai đoạn 2011- 2015 thì: Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.000 đồng/người/năm) trở xuống.Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000 đồng/người/năm) trở xuống. Nhóm hộ tham gia chính sách ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng.Nhóm hộ tham gia chính sách ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000đồng/người/tháng. Đánh giá chính sách 2.

Khái niệm Theo Jean-Pierre Cling và cộng sự (2012) thì đánh giá chính sách là cách tiếp cận mang tính thực chứng. Đây là việc xem xét và đánh giá các chính sách đã được triển khai dựa vào những số liệu kinh tế vi mô và các kỹ thuật kinh tế lượng. Đánh giá chính sách bao gồm: Đánh giá nhu cầu: đối tượng mục tiêu là ai, bản chất vấn đề cần giải quyết là gì, chương trình nằm trong khuôn khổ nào, hoạt động can thiệp có vị trí như thế nào? Đánh giá quy trình: chương trình được triển khai thế nào trong thực tế, các dịch vụ đã hứa được cung cấp chưa, dịch vụ có đến được đối tượng mục tiêu không, khách hàng có hài lòng không? Đối với hai giai đoạn đầu tiên này, văn hóa đánh giá có tồn tại. Những giai đoạn này được các cơ quan viện trợ triển khai đều đặn một cách có hệ thống.

Đánh giá tác động: liệu chương trình có tạo ra tác động mong đợi đối với các cá nhân hay đối tượng mục tiêu, các hộ gia đình, các thể chế, các đối tượng thụ hưởng của chương trình? Những tác động này là nhờ chương trình hay nhờ vào các yếu tố khác? Mục tiêu của đánh giá tác động của chính sách là đo lường mức độ thay đổi trong phúc lợi của đối tượng tham gia do chính sách đó mang lại. Các phương pháp đánh giá Có 2 cách đánh giá chính sách (Jean-Pierre Cling và cộng sự, 2012): Cách 1: Sử dụng các dữ liệu về lịch sử của những đối tượng thụ hưởng và “dự đoán” kết quả thông qua các kỹ thuật kinh tế lượng truyền thống. Cách 2: Sử dụng nhóm đối tượng thụ hưởng và so sánh với một nhóm “so sánh” - tức là nhóm không hưởng lợi từ chính sách. Chúng ta có thể lựa chọn nhóm đối tượng không tham gia chương trình có những đặc điểm tương tự nhóm đối tượng tham gia chương trình.

Theo Khandker và cộng sự (2010) các phương pháp đánh giá tác động được 123doc 10 áp dụng phổ biến như sau: (1) Đánh giá ngẫu nhiên hóa (Randomized evaluation); (2) Phương pháp đối chiếu (Matching method), đặc biệt là so sánh điểm xu hướng (PSM-propensity score matching); (3) Phương pháp sai biệt kép (DD:Double- difference hay DID-diffence in difference); (4) Phương pháp biến công cụ (IV- Instrument Variable); (5) Thiết kế Gián đoạn hồi Quy (Regression Discontinuity) và Phương pháp tuần tự (Pipeline).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu tác động của chính sách vay vốn và đào tạo nghề đến giảm nghèo tại An Giang giai đoạn 2008-2013" của tác giả Lâm Quang Thi, dưới sự hướng dẫn của TS. Phạm Khánh Nam, tập trung vào việc phân tích ảnh hưởng của các chính sách vay vốn và đào tạo nghề đối với việc giảm nghèo tại tỉnh An Giang trong giai đoạn 2008-2013. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc tiếp cận vốn vay và chương trình đào tạo nghề đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho người dân, từ đó giảm tỷ lệ nghèo đói trong khu vực. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về chính sách công mà còn mở ra hướng đi cho các nghiên cứu và chính sách tương lai nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế và giảm nghèo, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Giải pháp giảm nghèo bền vững theo hướng tiếp cận đa chiều tại xã Lương Phú, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, nơi nghiên cứu các giải pháp giảm nghèo bền vững, và Luận văn nghiên cứu báo chí Hà Nội về vấn đề xóa đói giảm nghèo, cung cấp cái nhìn từ góc độ truyền thông về công tác giảm nghèo. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các chính sách và thực tiễn trong việc giảm nghèo tại Việt Nam.