Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. 123doc 4 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và khuyến nghị chính sách.
123doc 5 Chương 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến đói nghèo và lược khảo một số tài liệu nghiên cứu về đói nghèo tại Việt Nam làm cơ sở để đề xuất mô hình nghiên cứu. LÝ THUYẾT LIÊN QUAN 2. Khái niệm nghèo Đói nghèo là một khái niệm đa chiều vừa dễ và vừa khó để định nghĩa.
Đói nghèo thường được mô tả như một tình trạng theo đó những cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng thiếu các nguồn lực để tạo ra những nguồn thu nhập có thể duy trì mức tiêu dùng đủ đáp ứng các nhu cầu cho một cuộc sống đầy đủ, sung túc. Theo cách tiếp cận này, đói nghèo là tình trạng thiếu thốn vật chất. Sự thiếu thốn vật chất còn có thể được thể hiện qua những nét đặc trưng của những khu vực mà người nghèo thường sinh sống, là những nơi thường thiếu điện, nước sạch hay nhà vệ sinh và các dịch vụ khác (UNDP, 2012). Nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng nghèo cần được nhìn nhận là sự thiếu hụt/không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người.
Vì vậy, nghèo đa chiều có thể được hiểu là tình trạng con người không được đáp ứng một hoặc một số nhu cầu cơ bản trong cuộc sống (Bộ Lao động, Thương binh và xã hội, 2014). ESCAP (1993)1 đưa ra định nghĩa về nghèo như sau: “Nghèo là một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội phong tục tập quán của địa phương”. Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức năm 1995 đưa định nghĩa về nghèo: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới một đô 1 Báo cáo hội nghị về chống nghèo ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tháng 9/1993 tại Bangkok, Thái Lan. 123doc 6 la mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm cần thiết để tồn tại.” Các nhóm nghiên cứu của UNDP, UNFPA, UNICEF trong công trình “Xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam-1995” đã đưa ra định nghĩa: “Nghèo là tình trạng thiếu khả năng trong việc tham gia vào đời sống quốc gia, nhất là tham gia vào lĩnh vực kinh tế”.
Word Bank (2000)2 thì: “Đói nghèo không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất (được đo lường theo một khái niệm thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng) mà còn là sự hưởng thụ thiếu thốn về giáo dục và y tế. Nghèo có nghĩa là không có nhà cửa, quần áo, ốm đau mà không ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường”. Một cách hiểu khác thì nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo. Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia.
Kể từ năm 2000, Ủy ban Kinh tế và Xã hội châu Á Thái Bình Dương của Liên hiệp quốc (UNESCAP) đã đưa ra ba khái niệm liên quan chặt chẽ với nhau để mô tả nghèo đói, đó là nghèo thu nhập (poverty of income), nghèo tiếp cận (poverty of access), và nghèo sức mạnh (poverty of power). Nghèo thu nhập là khi thu nhập dưới một ngưỡng nghèo. Nghèo thu nhập thường được sử dụng để đánh giá nghèo đói, cách biệt giàu nghèo, bất bình đẳng và mức độ thoát nghèo của một quốc gia. Nghèo tiếp cận làm vững chắc hơn nữa cái nghèo thu nhập và vòng luẩn quẩn đói nghèo.
Người nghèo không tiếp cận được với rất nhiều dịch vụ và cơ sở hạ tầng cơ bản, từ giao thông đến giáo dục, nguồn vốn, nước sạch, nhà ở, an sinh xã hội, thông tin và chính sách. Nghèo sức mạnh thể hiện ở chỗ cho dù có thể tiếp cận được, thì những chính sách và thông tin này có thực sự giúp được những người nghèo không? Câu trả lời là “có” chỉ khi nó đáp ứng được nhu cầu và bắt nguồn từ thực tế của họ. Điều đó 2 World Bank (2000) Báo cáo về tình hình phát triển thế giới - Tấn công nghèo đói. 123doc 7 liên quan đến việc người nghèo có được tạo điều kiện, và có đủ năng lực, sức mạnh để có ý kiến tham gia vào quá trình xây dựng chính sách và những quyết định liên quan đến chính họ hay không.
Ở Việt Nam căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội và mức thu nhập của nhân dân trong những năm qua thì khái niệm đói nghèo được xác định là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thoả mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện.Ở Việt Nam thì nghèo được chia thành các mức khác nhau: nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo có nhu cầu tối thiểu. Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo không có khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống: ăn, mặc, ở, và đi lại. Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo có mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đang xét. Nghèo có nhu cầu tối thiểu: Đây là tình trạng một bộ phận dân cư có những đảm bảo tối thiểu để duy trì cuộc sống như đủ ăn, đủ mặc, đủ ở và một số sinh hoạt hàng ngày nhưng ở mức tối thiểu.
Đặc điểm hộ nghèo Người nghèo đa phần là người nông dân sống ở vùng nông thôn, do họ thiếu thốn, thiếu kinh nghiệm, thiếu kiến thức sản xuất nên đời sống gặp nhiều khó khăn. Đa phần họ bị hạn chế về khả năng nhận thức và kỹ năng sản xuất kinh doanh nên họ thường tổ chức sản xuất theo thói quen, chưa biết mở mang ngành nghề, chưa có điều kiện tiếp xúc thị trường. Các hộ nghèo thường có nhiều con hoặc ít lao động trong gia đình, chịu áp lực lớn về chi phí y tế, giáo dục và không thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của đời sống. Đói nghèo thường đi đôi với thất nghiệp, suy dinh dưỡng, mù chữ, rủi ro về môi trường, thiếu các dịch vụ về y tế và xã hội kể cả dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình.
Tất cả những yếu tố này tạo ra tỷ lệ sinh, tử và bệnh tật tăng cao, năng suất lao động thấp. Ảnh hưởng đến tốc độ phát triển kinh tế của đất nước, làm chậm tiến độ đến nền kinh tế công nghiệp. 123doc 8 Nghèo đói Thiếu ăn, bệnh Thiếu cơ hội, tật và tử vong học vấn thấp Thất nghiệp, thiếu việc làm, thu nhập thấp Hình 2-1: Vòng luẩn quẩn của nghèo đói Nguồn: Tổng cục dân số - Kế hoạch hóa gia đình (2013) 2. Chuẩn nghèo của Việt Nam Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08/07/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 -2010 thì khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. Theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, nhóm hộ tham gia chính sách áp dụng cho giai đoạn 2011- 2015 thì: Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.000 đồng/người/năm) trở xuống.Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000 đồng/người/năm) trở xuống. Nhóm hộ tham gia chính sách ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng.Nhóm hộ tham gia chính sách ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000đồng/người/tháng. Đánh giá chính sách 2.
Khái niệm Theo Jean-Pierre Cling và cộng sự (2012) thì đánh giá chính sách là cách tiếp cận mang tính thực chứng. Đây là việc xem xét và đánh giá các chính sách đã được triển khai dựa vào những số liệu kinh tế vi mô và các kỹ thuật kinh tế lượng. Đánh giá chính sách bao gồm: Đánh giá nhu cầu: đối tượng mục tiêu là ai, bản chất vấn đề cần giải quyết là gì, chương trình nằm trong khuôn khổ nào, hoạt động can thiệp có vị trí như thế nào? Đánh giá quy trình: chương trình được triển khai thế nào trong thực tế, các dịch vụ đã hứa được cung cấp chưa, dịch vụ có đến được đối tượng mục tiêu không, khách hàng có hài lòng không? Đối với hai giai đoạn đầu tiên này, văn hóa đánh giá có tồn tại. Những giai đoạn này được các cơ quan viện trợ triển khai đều đặn một cách có hệ thống.
Đánh giá tác động: liệu chương trình có tạo ra tác động mong đợi đối với các cá nhân hay đối tượng mục tiêu, các hộ gia đình, các thể chế, các đối tượng thụ hưởng của chương trình? Những tác động này là nhờ chương trình hay nhờ vào các yếu tố khác? Mục tiêu của đánh giá tác động của chính sách là đo lường mức độ thay đổi trong phúc lợi của đối tượng tham gia do chính sách đó mang lại. Các phương pháp đánh giá Có 2 cách đánh giá chính sách (Jean-Pierre Cling và cộng sự, 2012): Cách 1: Sử dụng các dữ liệu về lịch sử của những đối tượng thụ hưởng và “dự đoán” kết quả thông qua các kỹ thuật kinh tế lượng truyền thống. Cách 2: Sử dụng nhóm đối tượng thụ hưởng và so sánh với một nhóm “so sánh” - tức là nhóm không hưởng lợi từ chính sách. Chúng ta có thể lựa chọn nhóm đối tượng không tham gia chương trình có những đặc điểm tương tự nhóm đối tượng tham gia chương trình.
Theo Khandker và cộng sự (2010) các phương pháp đánh giá tác động được 123doc 10 áp dụng phổ biến như sau: (1) Đánh giá ngẫu nhiên hóa (Randomized evaluation); (2) Phương pháp đối chiếu (Matching method), đặc biệt là so sánh điểm xu hướng (PSM-propensity score matching); (3) Phương pháp sai biệt kép (DD:Double- difference hay DID-diffence in difference); (4) Phương pháp biến công cụ (IV- Instrument Variable); (5) Thiết kế Gián đoạn hồi Quy (Regression Discontinuity) và Phương pháp tuần tự (Pipeline).