Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ THEO ĐỊNH HƯỚNG GẮN NHÀ TRƯỜNG VỚI DOANH NGHIỆP 1.1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu ngoài nước Đã có nhiều quốc gia trên thế giới nghiên cứu và ứng dụng mô hình đào tạo nghề theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp và mang lại hiệu quả cao trong đào tạo. Một số quốc gia tiêu biểu như sau: Tại CHLB Đức, mô hình “đào tạo kép”. Theo mô hình này, việc đào tạo nghề được tiến hành song song giữa NT với DN, sự kết hợp giữa việc học trong môi trường có sự gần gũi với thực tế sản xuất của DN và một cơ sở có năng lực chuyên môn về sư phạm, nghiệp vụ dạy nghề [19, 36].
Theo đó, phía DN tập trung cung cấp các kiến thức và kỹ năng thực tế, còn nhà trường cung cấp khối kiến thức lý thuyết về cơ bản. Người học được trang bị các kiến thức và kỹ năng cơ bản tại các trường nghề, sau đó họ được rèn luyện và phát triển kỹ năng nghề nghiệp tại các cơ sở sản xuất. DN được phép tham gia rộng rãi vào hoạt động đào tạo nghề thông qua các quy định của nhà nước được thể hiện cụ thể trong luật dạy nghề. Theo Bộ Luật đào tạo nghề của Đức, quy định những điều lệ rất chi tiết và tích cực, trong đó luật nhấn mạnh trách nhiệm của xã hội đối với việc đào tạo nghề.
Bộ Luật còn là cơ sở pháp lý cho hệ thống đào tạo kép thành hệ thống tiêu chuẩn chất lượng dạy nghề ở CHLB Đức. Chi phí đào tạo do chính quyền Bang trả cho phần học tại trường theo chương trình, còn các doanh nghiệp trả chi phí trực tiếp cho việc đào tạo thực hành tại DN với mức trung bình 2 - 3% tổng quỹ tiền lương cho đào tạo ban đầu. Mô hình hợp tác này có cơ chế quản lý là chính quyền Bang chịu trách nhiệm quản lý trường nghề và chính phủ Liên bang chịu trách nhiệm quản lý đào tạo nghề tại DN. Việc dạy nghề tại DN đều do các DN trực tiếp tổ chức, song việc kiểm soát là do Công đoàn cùng với sự tham gia của các quan sát viên và hội đồng công nhân tại doanh 7 Luan van nghiệp thực hiện.
Công đoàn tham gia vào mọi công đoạn của hệ thống đào tạo kép trong doanh nghiệp từ quá trình lựa chọn HS cho đến duy trì một chương trình học hiện đại, kiểm soát chất lượng và bảo vệ công nhân khỏi nguy cơ như bị trả lương thấp hoặc không được đào tạo đầy đủ. Mặt khác, mô hình hợp tác đào tạo nghề kép còn được thực hiện theo những quy chế do Chính phủ Liên bang quy định, như quy định theo nhu cầu cung cấp vị trí đào tạo của các DN. Các DN được quyết định số lượng công nhân được đào tạo và đào tạo theo chuyên ngành nào, DN được quyền tự lựa chọn các ứng viên được tham gia đào tạo. Mô hình đào tạo kép đã khẳng định được tính ưu việt của nó, bởi người học được rèn luyện kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp và năng lực nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu DN.
Vì vậy, trong những năm gần đây có rất nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng mô hình này cho đào tạo nghề, như: Phần Lan, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ… Tại Na Uy, quốc gia được xem là sở hữu nhiều mô hình dạy nghề tiên tiến trên thế giới, lại giàu kinh nghiệm trong việc quản lý hệ thống dạy nghề, chính vì vậy trong nhiều năm qua chất lượng đào tạo nghề tại quốc gia này liên tục tăng cao, đáp ứng hiệu quả yêu cầu hội nhập và phát triển. Đặc biệt, nguồn nhân lực của Na Uy đóng vai trò rất lớn trong nền kinh tế, đóng góp khoảng 75% GDP. Nhận thức được tầm qua trọng của công tác đào tạo nghề cũng như vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế, từ những năm 1994 cho đến nay, Chính phủ Na Uy liên tục có những cải cách về giáo dục - đào tạo, có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia này [37]. Hệ thống giáo dục - dạy nghề của Na Uy đang sử dụng mô hình 2+2, tức là 2 năm học ở trường và 2 năm học thực tế tại nhà máy hoặc doanh nghiệp.
Tuy nhiên theo hướng linh hoạt hơn, việc thực tập không nhất thiết phải là 2 năm cuối cùng mà do doanh nghiệp và nhà trường lập kế hoạch đan xen trong quá trình 4 năm học. Ngoài ra, dựa trên mô hình chung này, các tổ chức đào tạo nghề Na Uy đã thiết lập và xây dựng thêm nhiều mô hình biến thể linh hoạt và uyển chuyển như “mô hình 1+ 3” (1 năm học tại trường và 3 năm học nghề), “mô hình 0+4” (cả 4 năm đều học nghề); qua đó mang lại hiệu quả cao trong công tác đạo tạo và dạy nghề tại quốc gia này. Ở Na Uy, những người lựa chọn con 8 Luan van đường học nghề sẽ kí hợp đồng với một công ty mà công ty này phải được cơ quan có thẩm quyền công nhận là doanh nghiệp đào tạo. Trong khoảng thời gian 2 năm thực hành về một ngành nghề cụ thể của học viên, doanh nghiệp cần phải bảo đảm nguyên tắc: ngay từ năm 1 sẽ cử các công nhân lành nghề hướng dẫn về kĩ thuật cho học viên; từ năm thứ 2 sẽ giảm bớt hướng dẫn, tăng việc tự học.
Học viên sẽ được hưởng lương học việc trong cả 2 năm học. Sau khi kết thúc học việc, học viên sẽ được trao chứng chỉ công nhận hoàn thành khóa học và có thể bắt đầu tìm việc làm để nuôi sống bản thân. Điều cốt lõi ở đây là hầu hết các cơ sở dạy nghề ở Na Uy đều có được sự liên kết chặt chẽ đối với các đối tượng liên quan, đặc biệt là có sự hợp tác ba bên chặt chẽ của Tổ chức giới chủ, Công đoàn và đại diện Cơ quan giáo dục từ cấp quốc gia đến cấp tỉnh và địa phương. Về nội dung chương trình đào tạo nghề sẽ do các tổ chức 3 bên cấp quốc gia có nhiệm vụ xây dựng giáo trình dạy nghề và tổ chức đào tạo nghề.
Nội dung đào tạo được soạn thảo dựa trên nguyên tắc: Xây dựng kiến thức cơ bản về đọc, viết, làm toán, khoa học, ngoại ngữ và các kĩ năng thực tiễn. Tại Thái Lan, chính phủ và các cơ quan hữu trách rất coi trọng hệ thống thông tin thị trường lao động ĐTN. Liên kết đào tạo giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp tại Pháp theo mô hình đào tạo luân phiên (Alternation) do viện đào tạo luân phiên về xây dựng và công trình công cộng (IFABTP: Institut de Formation par Alternance du Batiment et des Travaux Publics) ở Pháp đề xuất [5]. Mô hình này có một số đặc trưng sau: - Về chương trình đào tạo: Đối với các lớp đào tạo chính quy nhà trường hoàn toàn tuân thủ theo quy định chuẩn của quốc gia về chương trình giảng dạy, sau khi tốt nghiệp nhà trường cấp bằng nghề.
Doanh nghiệp tham gia gián tiếp thông qua các đại diện tới Ủy ban Giáo dục quốc gia. Đối với các lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ thì doanh nghiệp được tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng chương trình, khi tốt nghiệp nhà trường cấp chứng chỉ. 9 Luan van - Về tổ chức quá trình đào tạo: Viện và doanh nghiệp cùng kết hợp tổ chức đào tạo các môn cơ bản, lí thuyết chuyên môn, thực hành cơ bản được dạy tại viện IFABTP, thực tập sản xuất được thực hiện tại các doanh nghiệp có sự tham gia giảng dạy của các cán bộ kỹ thuật của doanh nghiệp. Lý TH TH TH Thi Nhà trường: thuyết CB CB CB Doanh nghiệp: THSX THSX TTSX TN Hình 1.1: Mô hình hợp tác đào tạo luân phiên [19] Đây là mô hình đào tạo liên kết được áp dụng rộng rãi ở Pháp và một số nước Bắc Âu.
Quá trình đào tạo được tổ chức tại NT và ở DN. Học lý thuyết tổ chức tại trường trong giai đoạn đầu; Thực hành cơ bản và thực hành sản xuất được tổ chức luôn phiên nhau, xen kẽ ở nhà trường và DN. Cuối khóa học HS được thi tốt nghiệp cuối khóa được tổ chức ở hai nơi, thi lý thuyết tại trường và thi thực hành tại doanh nghiệp. Khi nghiên cứu về lợi ích của hoạt động liên kết đào tạo, tổ chức Cedefop (European Centre for the Development of Vocational Training – Trung tâm Phát triển Đào tạo nghề châu Âu), cũng như các tác giả: Kathrin Hoeckel, Rita Nikolai và Christian Ebner,.
đã có những kiến giải khá toàn diện về lợi ích mang lại cho các bên tham gia thông qua con đường hợp tác đào tạo giữa NT với DN [29, 32, 33]. Đặc biệt, từ năm 2005 đến năm 2009, Trung tâm Phát triển Đào tạo nghề châu Âu (Cedefop) đã triển khai nghiên cứu về lợi ích liên kết đào tạo với DN theo nhiều hướng khác nhau tại 21 quốc gia châu Âu như: Cộng hoà Séc, Đan Mạch, Đức, Tây Ban Nha, Pháp, Ý, Cộng hoà Séc, Latvi, Hungary, Hà lan, Austria, Ba lan, Bồ đào nha, Romania, Slovenia, Slovakia, Phần lan, Thụy điển và Vương quốc Anh cũng như Nauy và Iceland. Để từ đó khẳng định: 2 nhóm lợi ích chính mà chương trình liên kết đào tạo nghề đem lại là: Lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội. Cả 2 nhóm lợi ích đều được phân tích cụ thể qua 3 cấp độ: cấp độ vi mô (lợi ích của cá nhân), cấp độ trung gian (lợi ích của DN) và cấp độ vĩ mô (lợi ích của xã hội) [35].
Ngoài ra, các 10 Luan van thành viên của trung tâm Cedefop cũng rất quan tâm đến yếu tố tiền lương và cơ hội việc làm. Theo họ, đây là những yếu tố tạo nên thành công của quan hệ hợp tác đào tạo. Các tác giả: Chana Kasipar, Se-Yung LIM, Alexander Schnarr, Wu Quanquan, Xu Ying, Frank Bünning (2009); Chun Gyun Jung (2001); Rita Nikolai and Christian Ebner (2011), khi nghiên cứu về giải pháp thúc đẩy mối quan hệ hợp tác giữa NT và DN trong liên kết đào tạo cũng đã đề cập tới nhiều giải pháp liên kết mang lại hiệu quả tích cực như: đào tạo tại xí nghiệp, nơi sản xuất với vai trò chủ đạo thuộc về cơ sở sử dụng nhân lực [30, 31, 32]. Theo tác giả Frank Bunning và Schnarr (2009) cần chú ý đến hoạt động xúc tiến chiến dịch cộng tác (strategic partnership) giữa các thành viên như: cá nhân; gia đình; cộng đồng; tổ chức tình nguyện; cơ sở đào tạo tư nhân; cơ sở đào tạo quốc gia; công nhân; người quản lý; chính phủ.