MỞ ĐẦU I. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG, NGOÀI NƯỚC VÀ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Tình hình ngoài nước: Các chuẩn kỹ năng nghề nghiệp cho ngành In đã được hình thành từ rất lâu trên thế giới. Các nước như Mỹ, Châu Âu, Nhật bản đều có các chuẩn kỹ năng nghề nghiệp. Các trường đào tạo chuyên ngành sẽ căn cứ vào các tiêu chuẩn này để xây dựng chương trình học, kiểm tra, đánh giá, các công ty sản xuất In cũng căn cứ vào tiêu chuẩn này để nâng lương hay đánh giá tay nghề công nhân để trả lương hay bố trí công việc thích hợp.
Tiêu chuẩn kỹ năng nghề đi song hành với quá trình hình thành và phát triển của hệ thống giáo dục nghề nghiệp.Hệ thống dạy nghề và tiêu chuẩn kỹ năng nghề nghiệp xuất hiện sớm nhất tại Vương quốc Anh, trong những năm đầu của cuộc cách mạng Công nghệ.Năm 1563, điều lệ của Artificers được thông qua để bảo vệ hệ thống dạy nghề và người học nghề. Đến năm 1814, một bộ luật mới ra đời, quy định việc học nghề là bắt buộc đối với người lao động trong các ngành sản xuất Công nghiệp. Từ đó dần dần hình thành các tiêu chuẩn kỹ năng nghề, quy định về kiến thức và kỹ năng mà người lao động cần phải có khi làm việc tại các công xưởng, nhà máy. Đến những năm 1950, Vương quốc Anh đã xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề nghiệp cho hệ thống đào tạo nghề với nhiều cấp độ cho thanh thiếu niên từ 16 – 21 tuổi trong các ngành công nghệ truyền thống và công nghệ cao.
Một số tài liệu về vấn đề này, đã được đưa ra trên thế giới. Tình hình trong nước: Theo thống kê chưa chính thức, hiện tại Việt Nam có khoảng 3000 công ty in (theo Báo cáo Hội Nghị thường niên ngành In Tp.Hồ chí Minh 25/07/2013). Số nhân lực trong ngành in nói chung và nghề chế bản điện tử hiện là rất lớn. Nhu cầu về xác định bậc thợ và thi nâng bậc cũng rất lớn.
Riêng ở Việt nam, hiện nay đối với ngành In, chỉ có bộ tiêu chuẩn bậc thợ do cục xuất bản, Bộ VH-TT ban hành vào năm 2008. Bộ tiêu chuẩn này, chỉ đưa ra các tiêu chí chung về kiến thức và kỹ năng. Chưa đưa ra các điều kiện, yêu cầu đánh giá khách quan. Vì vậy việc áp dụng không đồng nhất giữa các địa phương và ngay cả giữa các xí nghiệp trong một địa phương.
Trần Thanh Hà- T2013-192 1 Luan van Đặc điểm của nghề chế bản điện tử là bao gồm rất nhiều các kỹ năng: kỹ năng tạo đồ họa, quét ảnh, dàn trang, xử lý ảnh, quản lý màu, bình trang, in thử, kiểm tra và chuyển đổi file, kỹ năng cài đặt hệ thống chế bản điện tử, ghi bản… nên việc đánh giá khách quan các kỹ năng của nghề là không đơn giản. Là đơn vị đã nhiều năm tổ chức thi nâng bậc thợ, cũng như thường xuyên trực tiếp chấm thi khoa In và Truyền thông thấy rằng việc chuẩn hóa kỹ năng để áp dụng thống nhất việc đánh giá kỹ năng bậc thợ trên bình diện rộng (toàn quốc) là điều cần thiết, để nâng cao năng lực người thợ chế bản điện tử hiện nay. Từ những lý do trên, người nghiên cứu thấy cần thực hiện đề tài “Nghiên cứu xây dựng bộ công cụ đánh giá kỹ năng thực hành nghề chế bản điện tử” để có thể chuẩn hóa việc đánh giá tay nghề bậc thợ chế bản điện tử. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI - Hoàn thiện phương thức đánh giá tay nghề bậc thợ về lý thuyết và thực hành cho nghề chế bản điện tử.
- Đảm bảo tính khách quan trong đánh giá tay nghề công nhân - Làm tiền đề cho việc xây dựng trung tâm đào tạo và đánh giá kỹ năng, tay nghề của công nhân ngành In chuyên ngành chế bản điện tử. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu - Các yêu cầu về chế bản điện tử hiện nay. - Các chương trình đào tạo nghề In trên thế giới. - Các chuẩn kỹ năng nghề nghiệp đang áp dụng hiện nay trên thế giới.2 Phạm vi nghiên cứu - Chuẩn kiến thức chuyên ngành chế bản điện tử - Chuẩn đánh giá kỹ năng bậc thợ chế bản điện tử.
- Giới hạn đề tài: Do thời gian có hạn người nghiên cứu không trình bày những vấn đề liên quan đến công nghệ từ máy tính ra tờ in (Computer to Print). Trần Thanh Hà- T2013-192 2 Luan van IV. CÁCH TIẾP CẬN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Cách tiếp cận - Nghiên cứu kỹ thuật. - Tham khảo một số chuẩn kỹ năng nghề nghiệp về cả lý thuyết và thực hành của một số tổ chức nghề In trên thế giới, rút tỉa những kinh nghiệm, cách thức xây dựng phù hợp với điều kiện của Việt nam hiện nay.
- Tham khảo ý kiến của một số công nhân lành nghề. Bên cạnh đó cũng tham khảo ý kiến của người sử dụng lao động. Từ đó, rút ra những kinh nghiệm, yêu cầu của thực tế sản xuất, những vấn đề khó khăn trong đào tạo hiện nay tại các công ty xí nghiệp in.2 Phương pháp nghiên cứu - Khảo sát, thống kê số liệu - Tổng hợp phân tích tài liệu - Tham khảo ý kiến chuyên gia. NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN TỒN TẠI Đề tài được thực hiện trong một số điều kiện khó khăn cả khách quan và chủ quan như: chưa được đánh giá trên diện rộng (do tình hình sản xuất và kinh doanh những năm gần đây gặp nhiều khó khăn, nên các công ty in giảm bớt chi phí cho huấn luyện và thi nâng bậc thợ).
Trần Thanh Hà- T2013-192 3 Luan van PHẦN 2: NỘI DUNG ĐỀ TÀI 2.1 Khái quát về ngành in Trước lúc chính thức phát minh ra nghề in công nghiệp thì tờ in khắc gỗ đã có ở Trung Quốc. Đây là bước tiến quan trọng so với cách sao chép bằng tay. In khắc gỗ được áp dụng vào thế kỷ thứ 9. Đến giữa thế kỷ 16, tại Châu Âu đã áp dụng phương pháp sắp chữ từ những ký hiệu riêng lẻ.
Ông Johan Gutenberg (Đức), Caxchioro (Hà Lan), Pampilo (Ý) được coi như những ông tổ của ngành in vì họ đã cùng một lúc phát minh ra quá trình in. Người có công đặc biệt là Johan Gutenberg. Ngày 21- 6-1440 là ngày Gutenberg khởi công in sách. Sang thế kỷ 20 công nghiệp in phát triển nhanh, mạnh.
Các loại máy móc được hoàn chỉnh, mức độ cơ khí hoá và tự động hoá cao. Cuối thế kỷ 20 kỹ thuật điện tử, tin học được đưa vào các lĩnh vực sắp chữ, tách màu điện tử, khắc trục in điện tử, các máy in cũng được trang bị hệ thống điện tử, điều khiển tự động. Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm in hiện nay và vị trí của chế bản trong quy trình này: Hình 2.1 Trước in Hình 2.1: Vị trí của công đoạn chế bản (trước in) trong dây chuyền phục chế. Một số cột mốc đáng ghi nhớ trong chế bản: - Vào những năm 1970, máy tách màu xuất hiện.
Khắc trục cơ điện tử có dùng phim. - Trong những năm 1980, chế bản để bàn (Desktop Publishing: DTP) đã trở thành một sự lựa chọn nghiêm túc trong công đoạn trước in. Lúc này việc xuất trọn nguyên trang (chữ, đồ họa và ảnh Bitmap) đã trở nên dễ dàng. Trần Thanh Hà- T2013-192 4 Luan van - Từ khoảng năm 1995 (có thể sớm hơn đối với in ống đồng), công nghệ ghi bản trực tiếp (Computer to Plate: CTP) đã ngày càng đóng một vai trò quan trọng hơn.
CTP có nghĩa là khuôn in được lên ghi hình trực tiếp và giai đoạn ghi phim trung gian được lược bỏ.2 Công nghệ chế bản (Analog và Digital) Sự dịch chuyển của công nghệ chế bản truyền thống (Analog) sang chế bản kỹ thuật số (Digital) được bắt đầu từ năm 1980: Hình 2.2 Chế bản kỹ thuật số có rất nhiều ưu điểm: cải tiến đáng kể về mặt ổn định chất lượng, giảm thời gian sản xuất sản phẩm (không chỉ giảm thời gian trong chế tạo khuôn in mà còn giúp khả năng tự động hóa trong suốt chu trình in: Cip3 và Cip4). Hiện nay, công nghệ chế bản Analog gần như không còn. Thay vào đó là việc tồn tại hai công nghệ: - CTF: trực tiếp từ máy tính ra phim tách màu. - CTP: trực tiếp từ máy tính ra khuôn in.3 Đặc điểm của nghề chế bản điện tử Cùng với sự phát triển của các công nghệ CTF và CTP (Hình 2.3) thì nghề chế bản điện tử cũng có những đặc thù riêng biệt nhưng phải phù hợp với từng công nghệ.
Cho dù đi theo công nghệ nào thì điểm chung là phải bao gồm các công đoạn: - Xử lý đồ họa, ảnh, chữ - Tạo trang hoàn chỉnh. - Tạo file pdf phù hợp với điều kiện in. - Kiểm tra và hoàn thiện file pdf (trapping, preflighting) - Tạo trang in thử đúng quy cách. - Cân chỉnh các thiết bị xuất (in thử, ghi phim, ghi bản) - Ghi phim/ ghi bản.3 cho thấy quy trình công nghệ được thể hiện theo kiểu chuyên môn hóa: nhân viên chuyên xử lý chữ, nhân viên chuyên xử lý đồ họa, nhân viên chuyên xử lý ảnh, nhân viên chuyên dàn trang… Tuy nhiên, quy trình này chỉ đúng với các công ty sản xuất theo hướng chuyên môn hóa: chuyên in báo, chuyên in sách và tạp chí…Hiện nay, rất nhiều công ty sản xuất theo hướng đa sản phẩm, hoặc kết hợp cả bao bì và nhãn hàng.
Lúc này việc chuyên môn hóa từng công đoạn lại trở thành không khả thi. Lúc này đòi hỏi công nhân chế bản điện tử phải biết tất cả mọi kỹ năng thuộc về chế bản. Đây cũng là những khó khăn trong quá trình đào tạo công nhân kỹ thuật với nghề chế bản điện tử. Trần Thanh Hà- T2013-192 5 Luan van Hình 2.2: Sự chuyển đổi giữa công nghệ Analog và Digital Những thay đổi về công nghệ trong công đoạn trước in cũng đã mang đến những thay đổi cơ bản trong các loại hình công việc trong công đoạn trước in.
Những công việc truyền thống của các công nhân như sắp chữ, phục chế hay chế tạo khuôn in ngày nay có thể được thực hiện bởi một người kỹ thuật viên lành nghề tại một xưởng làm việc. Điều này được chú ý đến ở Đức vào năm 1998, khi người ta thành lập một khoá học đào tạo các ứng viên trở thành những kỹ thuật viên chế bản lành nghề. Sau khoá đào tạo, những kỹ thuật viên chế bản lành nghề có thể thành thạo tất Trần Thanh Hà- T2013-192 6 Luan van cả các bước trong công đoạn trước in. Kết quả là chế bản được nhiều người xem là công việc cần nhiều nỗ lực nhất trong ngành công nghiệp in.